Đánh giá hiệu quả biện pháp kích cầu trong thời kì suy giảm kinh tế Việt Nam. Khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định

Lời mở đầu Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ năm 2008 không chỉ gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Mỹ mà còn dẫn đến sự suy giảm kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Tăng trưởng kinh tế giảm mạnh do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và sự lan tỏa của nó, mà dễ thấy nhất là ở các quốc gia đầu tàu như Mỹ, Nhật, EU và các quốc gia có nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam. Cuộc khủng hoảng cũng đã làm cho các nhà kinh tế gia thức tỉnh vốn đã ảo vọng vào một nền kinh tế mạnh và một chính phủ quy mô nhỏ - chính sách mà Greenspan (chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ - FED từ năm 1987 đến năm 2006) luôn ủng hộ. Giờ đây ý thức về vai trò can thiệp của nhà nước được đề cao hơn bao giờ hết, đặc biệt là vai trò can thiệp trong khủng hoảng của chính phủ các nước. Trong bài điều trần “thú tội” đáng ngạc nhiên trước Ủy ban Quốc hội Mỹ ngày 23/10/2008 Alan Greenspan thừ nhận ông đã đánh giá quá cao khả năng tự điều chỉnh của thị trường tài chính tự do, cũng như đã hoàn toàn bỏ qua nguy cơ chính sách hạn chế can thiệp sẽ đồng thời giải phóng cả những yếu tố phá hoại nền kinh tế 1 . Không ít các quốc gia đã và đang thực hiện những chính sách kích thích kinh tế theo những luận điểm mà Keynes đã đề ra. Mức độ thành công của các gói kích thích kinh tế này chưa được đo lường, công bố cụ thể nhưng tác dụng của nó là rất lớn đối với nền kinh tế đang trong cơn khủng hoảng của mỗi quốc gia. Vai trò can thiệp của nhà nước quan trọng như thế nào, nhà nước có thể sử dụng những công cụ, biện pháp gì để tháo gỡ khó khăn chonền kinh tế trong gian đoạn khủng hoảng - đó là chủ đề mà nhóm nghiên cứu muốn hướng đến – vai trò quan trọng của Nhà nước, tuy không mới nhưng đã bị lãng quên một thời gian dài. Qua tìm hiểu, nghiên cứu nhóm quyết định chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả biện pháp kích cầu trong thời kì suy giảm kinh tế Việt Nam. Khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định”. Trong khuôn khổ bài viết nhóm thực hiện đề tài sẽ phân tích cơ sở, hiệu quả, tác động của các nhóm giải pháp kích cầu mà Chính phủ đã đề ra, ngoài ra còn đưa ra gợi ý chính sách cho việc thực hiện kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định. Mục lục I. Cơ sở lí luận 4 1.1 Lí thuyết Keynes và vai trò của nhà nước trong việc can thiệp thị trường . 4 1.2 Mô hình IS-LM 6 1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tổng cầu . 7 II. Bàn về giải pháp kích cầu và kinh nghiệm của một nước trên thế giới. 9 2.1 Tại sao phải kích cầu? 9 2.2 Kích cầu khi nào? 9 2.3 Các điều kiện cần phải bảo đảm khi kích cầu 10 2.4 Gói kích cầu của một số nước trên thế giới. . 11 2.4.1 Tại Mỹ . 11 2.4.2 Tại Châu Âu . 12 2.4.3 Nhật Bản 12 2.4.4 Trung Quốc 12 2.4.5 Thái Lan . 12 2.5 Việt Nam kích cầu là đúng hay sai? 13 3.1 Hiệu quả của 4 nhóm giải pháp kích cầu . 18 3.1.1 Gói hỗ trợ lãi suất 4% . 18 3.1.2 Gói miễn giảm, giãn thuế . 21 3.1.3 Gói an sinh xã hội . 22 3.1.4 Đầu tư công 23 3.2 Đánh giá việc thực hiện mục tiêu lạm phát 25 IV. Khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định 26 V. Kết Luận 27 Tài liệu tham khảo: 28

pdf28 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 3278 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hiệu quả biện pháp kích cầu trong thời kì suy giảm kinh tế Việt Nam. Khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
an hệ giữa lạm phát và tổng cầu ................................................................. 7 II. Bàn về giải pháp kích cầu và kinh nghiệm của một nước trên thế giới. .......................... 9 2.1 Tại sao phải kích cầu? .......................................................................................... 9 2.2 Kích cầu khi nào? ................................................................................................ 9 2.3 Các điều kiện cần phải bảo đảm khi kích cầu ...................................................... 10 2.4 Gói kích cầu của một số nước trên thế giới. ......................................................... 11 2.4.1 Tại Mỹ ....................................................................................................... 11 2.4.2 Tại Châu Âu ............................................................................................... 12 2.4.3 Nhật Bản .................................................................................................... 12 2.4.4 Trung Quốc ................................................................................................ 12 2.4.5 Thái Lan ..................................................................................................... 12 2.5 Việt Nam kích cầu là đúng hay sai? .................................................................... 13 3.1 Hiệu quả của 4 nhóm giải pháp kích cầu ............................................................. 18 3.1.1 Gói hỗ trợ lãi suất 4% ................................................................................. 18 3.1.2 Gói miễn giảm, giãn thuế ............................................................................. 21 3.1.3 Gói an sinh xã hội ....................................................................................... 22 3.1.4 Đầu tư công ................................................................................................ 23 3.2 Đánh giá việc thực hiện mục tiêu lạm phát .......................................................... 25 IV. Khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định ...................................... 26 V. Kết Luận .................................................................................................................. 27 Tài liệu tham khảo: .......................................................................................................... 28 4 I. Cơ sở lí luận 1.1 Lí thuyết Keynes và vai trò của nhà nước trong việc can thiệp thị trường John Maynard Keynes (1883-1946) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông mang tên “Lí thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” xuất bản năm 1936 trong bối cảnh kinh tế thế giới vừa trải qua cuộc đại khủng hoàng 19329- 1933. Trong Lí thuyết của mình Keynes phê phán quan điểm của trường phái kinh tế học cổ điển cho rằng kinh tế thị trường tự do tư bản chủ nghĩa là mô hình tự động cân bằng, tự động tăng trưởng, tự động sửa chữa đồng thời ông đưa ra lí luận mới về vai trò của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế. Ông cho rằng nhà nước đóng vai trò cốt yếu trong việc ít nhất cũng là giảm thiểu, nếu không nói là xóa bỏ hoàn toàn các khiếm khuyết ra khỏi hệ kinh tế thống tư bản chủ nghĩa. Nếu sử dụng những chính sách phù hợp giúp phối hợp và đẩy mạnh thế chủ động của khu vực tư nhân, Keynes nói rằng có thể tạo ra một nền kinh tế có đầy đủ việc làm dài hạn đồng thời cũng tận dụng được những ưu thế của hệ thống kinh doanh theo định hướng thị trường. Một số quan điểm của Keynes: Thứ nhất, theo Keynes: “Số người làm việc trong mỗi xí nghiệp, mỗi ngành, cũng như trong toàn bộ nền kinh tế sẽ tùy thuộc vào doanh số mà các nghiệp chủ dự kiến thu được từ việc bán sản lượng tương ứng với số lượng lao động được sử dụng đó và họ sẽ cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của họ.” AJ LF A B C E F E ’ G H LD LD’ M ứ c lư ơ n g t h ự c t ế W** W* W2 N2 N * N ** số lượng công nhân Hình 1 Thất nghiệp theo quan điểm của Keynes 5 Các đường LD, LF, AJ tương ứng cho biết nhu cầu về lao động, quy mô các lực lượng lao động và số lượng công nhân sẵn sàng chấp nhận việc làm tại mỗi mức lương thực tế nào đó. Hình 1 thể hiện trường hợp thất nghiệp theo quan điểm Keynes – thất nghiệp do thiếu cầu lao động. Khi cầu lao động giảm, đường cầu lao động giảm từ LD xuống LD’, tiền lương trong dài hạn sẽ giảm từ w* xuống còn w** để phục hồi lại trạng thái cân bằng tại G. Keynes còn chỉ ra rằng nếu không có biện pháp hạn chế thất nghiệp nhanh chóng sẽ đẩy nền kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp dẫn đến cắt giảm thu nhập làm giảm tiêu dùng, các doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất làm tăng thất nghiệp, và cứ tiếp tục. Thất nghiệp theo Keynes phản ánh tình trạng dư thừa nguồn lực và lãng phí sản xuất. Bằng cách kích cầu lao động, có thể huy động nguồn lực nhàn rỗi này và tăng sản lượng, việc làm. Thứ hai, hiệu ứng số nhân trong nền kinh tế mở: Trong nền kinh tế mở (có ngoại thương) và có chính phủ, điều kiện cân bằng đối với thị trường hàng hóa là: Y=AD= C + I + G + X – M (1) Trong đó: C: chi tiêu dùng I: chi đầu tư G: chi tiêu của chính phủ X: xuất khẩu M: nhập khẩu Từ (1) ta có thể thấy khi C, I, G, (X-M) thay đổi bao nhiêu thì tổng cầu cũng thay đổi bấy nhiêu. Giảm chi tiêu tiêu dùng hay chi đầu tư đều có tác dụng làm giảm tổng cầu. Số nhân nền kinh tế mở sẽ là 1/[1 – (MPC’ – MPM) – MPX] (2), trong đó MPC’ = MPC.(1- t). MPC là khuynh hướng tiêu dùng biên, MPC’ là khuynh hướng tiêu dùng biên từ khoản thu nhập đã trừ thuế ròng, MPM là khuynh hướng nhập khẩu biên, MPX là khuynh hướng xuất khẩu biên. Hiệu ứng số nhân của Keynes có ý nghĩa hết sức quan trọng, từ phương trình (2) ta có thể thấy số nhân nhỏ hơn vì rò rỉ ở tiết kiệm, thuế và nhập khẩu. Tiết kiệm trong khủng hoảng lại có tác động tiêu cực làm giảm thu nhập, tiết kiệm và đầu tư thực có sẽ giảm đi khi cố tiết kiệm nhiều hơn. Đây gọi là nghịch lí của tiết kiệm. Tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng số nhân nhờ đó gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, khuynh hướng tiêu dùng biên càng cao số nhân càng lớn. 6 Theo Adam Smith “bàn tay vô hình” sẽ dẫn dắt thị trường hướng tới hiệu quả khi vấn đề thông tin bất cân xứng được giải quyết. Nhưng thị trường tài chính là thị trường thông tin không đầy đủ, và tư nhân không có khả năng làm cân bằng thông tin, mặt khác cơ chế pháp lí không theo kịp với những hoạt động trên thị trường chính vì thế nhà nước phải đóng vai trò tháo gỡ những vướng mắc đó. Cuộc khủng hoảng ở Mỹ 2008 là một minh chứng rõ ràng, với việc khuyến khích phát triển các loại chứng khoán phái sinh chính phủ Mỹ đã quên đi vai trò giám sát của mình. Bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận hoàn toàn cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường tự do nhưng tổn thất mà các cuộc khủng hoảng gây ra là quá lớn và thời gian chờ đợi nền kinh tế tự hồi phục là rất lâu, sẽ là quá muộn bởi theo Keynes “chúng ta rồi ai cũng sẽ chết”. 1.2 Mô hình IS-LM2 Thị trường hàng hóa cân bằng khi tổng cầu bằng thu nhập thực tế. Do đó tổ hợp lãi suất và thu nhập tương ứng với cân bằng ngắn hạn trên thị trường hàng hóa được gọi là IS. Hình 2 Đường IS Lãi suất thấp hơn làm tăng tổng cầu và sản lượng. Độ dốc đường IS cho thấy độ nhạy cảm của tổng cầu đối với lãi suất. Các nhân tố khác như chi tiêu của chính phủ, thu nhập dự kiến trong tương lai, bằng cách tăng tổng cầu ở mỗi mức lãi suất làm dịch chuyển đường IS lên trên. 2 David Begg, 2007, Kinh tế học, NXB Thống kê. i0 i1 E0 E1 L ã i s u ấ t Thu nhập Y1 Y0 IS 7 Hình 3 Đường LM Đường LM minh họa các tổ hợp lãi suất và thu nhập dẫn đến cân bằng trên thị trường tiền tệ khi ngân hàng trung ương theo đuổi một mục tiêu nhất định về cung tiền danh nghĩa. Lượng cầu về tiền tăng lên khi sản lượng tăng nhưng giảm đi khi lãi suất tăng. Khi sản lượng tăng, lãi suất tăng để duy trì cân bằng thị trường tiền tệ. Cầu tiền càng nhạy cảm với thu nhập và sản lượng thì lãi suất càng phải thay đổi nhiều để duy trì cân bằng trên thị trường tiền tệ và do đó đường LM càng dốc hơn. Khi di chuyển dọc đường LM, lãi suất cao hơn đòi hỏi thu nhập phải tăng lên để giữ cho cầu tiền thực tế bằng với cung ứng tiền tệ cố định. Mục tiêu cung ứng tiền tệ cao hơn (thấp hơn) làm dịch chuyển đường LM sang phải (trái). 1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tổng cầu Với mục tiêu lạm phát, ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất để cho lạm phát gần với tỉ lệ lạm phát mục tiêu. i1 i0 LM Y0 Y1 Thu nhập L ãi s u ất E0 E1 8 Hình 3 Lãi suất và mục tiêu lạm phát Khi lạm phát cao ngân hàng trung ương đảm bảo rằng lãi suất thực tế cao để làm giảm tổng cầu và tạo sức ép cho lạm phát phải giảm xuống. Di chuyển dọc đường ii, ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất tương ứng với lạm phát theo chính sách tiền tệ đã định trước. Nếu thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng đường ii dịch chuyển xuống dưới và lãi suất thấp hơn tại mỗi mức lạm phát. Nếu thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt đường ii dịch chuyển lên trên và lãi suất thị trường cao hơn tại mỗi mức lạm phát. Hình 4 Đường cầu kinh tế vĩ mô i i L ãi s u ất t h ự c tế i * I * MDS L ạm p h át Sản lượng Tỉ lệ lạm phát 9 Đường cầu kinh tế vĩ mô MDS cho thấy lạm phát cao hơn dẫn đến sản lượng thấp hơn do ngân hàng trung ương tăng lãi suất và ngược lại. Đường MDS dịch chuyển lên trên nếu chính sách tài khóa lỏng, xuất khẩu ròng hay chính sách tiền tệ lỏng. II. Bàn về giải pháp kích cầu và kinh nghiệm của một nước trên thế giới. 2.1 Tại sao phải kích cầu? Theo Keynes khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ việc sản xuất dư thừa, lãng phí nguồn tài nguyên và lao động. Tức là có sự thiếu hụt tổng cầu so với tổng cung. Vậy để đưa nền kinh tế trở lại ổn định cần phải kích cầu bao gồm kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng. Trong khi nền kinh tế đang khủng hoảng thì chỉ có nhà nước là có khả năng đẩy mạnh chi tiêu bởi vì các doanh nghiệp và hộ gia đình trong thời kì này thường có xu hướng tiết kiệm không muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng sinh lợi cao. Vì vậy vai trò điều tiết của nhà nước trong trường hợp này là cực kì quan trọng. Mức độ can thiệp của nhà nước phải tùy thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, việc can thiệp quá mức của nhà nước có thể dẫn đến lạm phát cao hơn. Keynes gợi ý 4 nhóm chính sách chống khủng hoảng như sau: - Đảm bảo đầu tư nhà nước và kích thích đầu tư tư nhân. - Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để điều tiết nền kinh tế. Nhà nước có thể dùng các công cụ như lãi suất, thuế, đầu tư nhà nước để kiểm soát lạm phát mục tiêu, khuyến khích đầu tư tư nhân,… - Tạo việc làm để người dân có thêm thu nhập, nhờ đó tăng tổng cầu của nền kinh tế. - Kích thích tiêu dùng để tăng tổng chi tiêu. 2.2 Kích cầu khi nào? - Nền kinh tế dư thừa hàng hóa, năng lực sản xuất vượt quá yêu cầu của thị trường. Nguyên lý “cầu hữu hiệu” của Keynes khẳng định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định. Do đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng tổng cầu thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi thời kỳ suy thoái. Hàm tổng cầu của Keynes có thể chia thành cầu tiêu dùng và cầu đầu tư, vì vậy kích cầu chính là kích cầu tiêu dùng và đầu tư. - Nền kinh tế không còn khả năng kích thích qua chính sách tiền tệ nới lỏng. Chính sách tiền tệ nới lỏng là công cụ đầu tiên mà chính phủ các quốc gia thực hiện nhằm đưa một lượng vốn lớn vào thị trường nhằm thúc đẩy kinh tế đi lên. Tuy nhiên chính 10 sách nới lỏng tiền tệ có thể không đủ sức kéo tổng cầu lên, ví dụ nếu việc giảm lãi suất là liên tục và xuống thấp quá mức thì, theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản, mọi người sẽ giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán. Hậu quả là đầu tư tư nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi thì cũng không thể cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bán được thì xí nghiệp cũng không huy động được vốn. Chính sách tiền tệ trở nên bất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất lực trong kích thích tổng cầu.3 Tình trạng này được gọi là bẫy thanh khoản. 2.3 Các điều kiện cần phải bảo đảm khi kích cầu - Nhanh chóng, kịp thời Tổng cung suy giảm kéo theo một vòng xoáy không thoát ra được làm mức độ trầm trọng của nền kinh tế càng lúc càng tăng lên, chính vì vậy các chính sách kích cầu của chính phủ phải được thực hiện nhanh chóng nhằm giảm bớt thiệt hại một cách tốt nhất. - Đúng đối tượng Để kích cầu được hiệu quả thì gói kích cầu phải tìm đến những đối tượng mà gói kích cầu có tác dụng nhanh chóng, chi tiêu và đầu tư nhanh chóng đưa tổng cầu đi lên. Từ phương trình (2) cho ta thấy khuynh hướng tiêu dùng biên càng lớn thì số nhân càng lớn. vậy để đạt được hiệu quả cao nhất gói kích cầu phải hướng đến đối tượng là những người có thu nhập thấp vì những người này có khuynh hướng tiêu dùng biên cao, một đồng chi tiêu tăng thêm của họ có ý nghĩa hơn một đồng tăng thêm của người có thu nhập cao. “Trong tình trạng xuất khẩu tụt giảm, chính sách kích cầu thông dụng bơm tiền vào đầu tư công qua các tổng công ty nhà nước sẽ đem lại hiệu quả kém do hệ số ICOR của nền kinh tế đã quá lớn và mỗi đồng chi tiêu sẽ chỉ có tác động lan tỏa yếu do thất thoát đáng kể vào dòng nhập khẩu, vốn là đặc điểm của cấu trúc hiện có của kinh tế Việt Nam. Ngược lại, mỗi đồng chi tiêu vào khu vực nông nghiệp hay giới công nhân sẽ có tác động lan tỏa cao qua tác động kích cầu lớn hơn với các hàng sản xuất nội địa”4. - Chỉ kích cầu trong ngắn hạn Kéo dài kích cầu có khả năng làm giảm hiệu quả kích cầu, các dòng vốn kích cầu có thể không được sử dụng đúng mục đích làm chệch khỏi mục tiêu ban đầu. Kích cầu trong dài hạn khiến các doanh nghiệp không đẩy mạnh sản xuất. Tăng trưởng chi tiêu và đầu tư trong ngắn hạn sẽ có tác dụng làm tăng tổng cầu nhưng trong dài hạn có thể gia tăng lạm phát, mất cân đối vĩ mô dẫn đến tăng trưởng kinh tế không tăng hoặc có thể giảm. 3 Nguồn Wikipedia tiếng Việt. 4 Trích “Từ lạm phát đến kích cầu”, Phạm Đỗ Chí, NXB Trẻ, 2009 11 Theo Keynes chính phủ có thể chấp nhận thâm hụt ngân sách để thúc đẩy sản xuất đi lên trong thời kì khủng hoảng nhưng phải được bù lại trong thời kì kinh tế phát triển. Tuy vậy kéo dài chính sách kích cầu có thể gây ra thâm hụt lớn trong ngân sách dẫn đến giảm giá trị đồng nội tệ khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, cấn cân thương mại bị thâm hụt. - Kiểm soát được các ảnh hưởng tiêu cực của kích cầu: Kích cầu có thể hiểu là việc cung ứng tiền tệ dễ dàng hơn đến các chủ thể trong nền kinh tế, và người gánh chịu thiệt hại chính là chính phủ, gây tổn hại cơ chế phân bổ nguồn lực của thị trường. Để kích cầu chính phủ phải chấp nhận rủi ro lạm phát, đôi khi phải hy sinh một trong hai mục tiêu này. Vì vậy chính phủ phải kiểm soát được các gánh nặng nợ của mình trong ngắn hạn và dài hạn, phải giữ vững tốt nhất các chỉ số cơ bản của nền kinh tế như lạm phát, lãi suất, tỉ giá. Ví dụ việc in tiền để tài trợ cho gói kích cầu hay việc đầu tư không hiệu quả vào các dự án có thể làm tăng lạm phát. Công tác thực hiện cũng không kém phần quan trọng so với giá trị gói kích cầu và đối tượng nhắm đến. Trong trường hợp nguồn tiền kích cầu có thể quay ngược lại đầu tư vào các chứng khoán, ngoại tệ hoặc bất động sản làm nguy cơ bong bóng bùng nổ tăng lên, kích cầu sẽ trở lên phản tác dụng. Ngoài ra chính phủ không được lạm dụng công cụ kích cầu như một giải pháp duy nhất cho bài toán khủng hoảng mà phải kết hợp hài hòa chính sách tiền tệ và tài khóa. - Không gây ra hiệu ứng chèn lấn khu vực tư Theo phương trình (1) chi tiêu của chính phủ mở rộng lãi suất sẽ bị đẩy lên và triệt tiêu những cố gắng nới lỏng tiền tệ cho cá nhân và doanh nghiệp, làm giảm chi tiêu và đầu tư của dân chúng và doanh nghiệp. 2.4 Gói kích cầu của một số nước trên thế giới. 2.4.1 Tại Mỹ Từ 2008 đến nay Mỹ đã đưa ra hai gói kích cầu, một dưới thời chính quyền Bush và một do chính quyền tổng thống Obama thực hiện. Gói kích cầu thứ nhất (2/2008) dựa trên những dấu hiệu suy thoái từ cuối 2007 với trị giá 152 tỉ đôla bao gồm các biện pháp giảm thuế, trợ cấp, ưu đãi đối với doanh nghiệp. Gói kích cầu thứ hai (2009) được đưa ra nhằm đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng với trị gá 787 tỉ đôla: hỗ trợ doanh nghiệp để tạo thêm khoảng 2,5 triệu việc làm, hỗ trợ 3000 USD đối với mỗi lao động thuê mới, đầu tư công cộng đặc biệt là vào y tế, công nghiệp 12 năng lượng sạch, hỗ trợ khó khăn và lập quỹ chống khủng hoảng tài chính5. Gói kích cầu của Mỹ được đánh giá chủ yếu làm tăng tính thanh khoản của thị trường (tỉ trọng đổ dồn vào các công ty, doanh nghiệp lớn đang khó khăn khá lớn). 2.4.2 Tại Châu Âu Do sự không thống nhất trong chính sách chung của khu vực kinh tế này nên chính sách kích cầu được đưa ra khá chậm. Liên minh châu Âu vào tháng 11 năm 2008 đã thông qua chương trình lên tới 200 tỷ euro, kế hoạch cụ thể sẽ do mỗi quốc gia tự phát triển. Ủy ban châu Âu khuyến khích các nước thành viên nên chi cho các gói kích cầu số tiền ít nhất là 1,2% GDP. 2.4.3 Nhật Bản Tính tới nay Nhật Bản đã đưa ra tất cả 3 gói kích cầu, gói thứ nhất 8/2008 trị giá khoảng 23 tỉ đôla, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ6, gói thứ nhất này bị coi là thất bại vì thất bại trong việc để tỉ lệ thất nghiệp lên cao nhất trong vòng sáu năm và giảm sút lớn nhất ở thị trường bán lẻ từ 1992; gói thứ hai 12/2008 trị giá 168 tỉ đôla tương đương khoảng 1,2% GDP đưa ra nhằm bơm tiền vào thị trường tài chính , miễn thuế, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ7; gói kích cầu thứ ba trị giá khoảng 154 tỉ đôla được dự tính dùng cho đầu tư vào các lĩnh vực như việc làm hay hỗ trợ mua xe ô tô mới8. 2.4.4 Trung Quốc Tháng 11 năm 2008, Trung Quốc thông qua gói kích cầu trị giá 4.000 tỷ nhân dân tệ, tương đương 586 tỷ đôla Mỹ thực hiện trong vòng 2 năm (mỗi năm khoảng 8% GDP) bao gồm hỗ trợ nông dân, cải thiện phúc lợi xã hội, trợ cấp tái thiết vùng động đất Tứ Xuyên, phát triển công nghệ, thúc đẩy công nghiệp năng lượng sạch - ngành công nghiệp mới thu hút nhiều lao động, tăng hoàn thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng sử dụng nhiều lao động, và tăng cường cho vay9. 2.4.5 Thái Lan Chính phủ Thái Lan 1/2009 đã đưa ra gói kích cầu trị giá 3.28 tỉ đôla nhằm giữ cho nền kinh tế sôi động trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu, bao gồm chi cho người có thu 5 Thông tin về việc thực hiện gói kích thích kinh tế thứ hai của Mỹ được công bố trên trang www.recovery.gov 6 Nguồn 7 Nguồn 8 Nguồn 07016.html 9 13 nhập thấp, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc y tế, phát triển du lịch, chương trình miễn phí 15 năm học cho khoảng 10 triệu học sinh sinh viên, hỗ trợ nông dân do giá giảm10. 2.5 Việt Nam kích cầu là đúng hay sai? Kích cầu đã trở thành một trào lưu của các nước trong cố gắng hạn chế thiệt hại do cuộc khủng hoảng đem lại và vực dậy nền kinh tế. Nhìn chung gói kích …….. Kích cầu thực sự không hề dễ dàng đặc biệt là khâu thực hiện và những hệ lụy mà khi thực hiện chính phủ phải chấp nhận. Dự án đường cao tốc Big Dig ở Boston đã phải mất hơn 20 năm mới hoàn thành, vượt dự toán 5 lần. Nhật cũng đã lãng phí tiền đầu tư vào các sân bay ít dùng, cầu đường dẫn đến các đảo ít người.Vậy câu hỏi là liệu nguy cơ khủng hoảng có đến với Việt Nam hay không và Việt Nam có nên kích cầu hay không? Dưới đây là so sánh tình hình kinh tế Thái Lan giai đoạn 1996-1997 và Việt Nam 2006-2008 nhằm làm rõ những nguy cơ mà Việt Nam phải đối mặt. Năm 2008 nền kinh tế Việt Nam có nhiều dấu hiệu đi xuống: lạm phát tăng cao, thâm hụt thương mại lớn, thị trường bất động sản trấm lắng, thị trường chứng khoán tăng trưởng bong bóng và sau đó gần như sụp đổ. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm nổi lên những khiếm khuyết của một thị trường tài chính mới nổi như Việt Nam, hệ quả từ nhiều năm sai sót trong cơ cấu, quản lí, chính sách và điều hành kinh tế. Các chỉ số Thái Lan Việt Nam 1996 1997 2007 2008 GDP (triệu đô la) 181948 150891 68624,85 90644,97 Tăng trưởng GDP (%) 5,9 -1,37 8,46 6,18 Lạm phát (%) 4 4,06 8,24 21,69 Vay ODA (%GNI) 0,4637 0,4239 3,7721 2,9112 Bảng 1 Thái Lan và Việt Nam – World Bank Việt Nam 2006-2008 có những điểm tương đồng khá rõ nét, có lẽ bởi vì Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển của Thái lan một thập kỉ trước: - Tăng trưởng kinh tế nóng không đi kèm với quản lí. 10 Nguồn Fiscal Stimulus Package, Ministry of Finance, Kingdom of Thailand và 14 Tốc độ phát triển cao, lãi suất hấp dẫn, cơ chế quản lí rộng mở là các lí do thu hút đông các nhà đầu tư nước ngoài. Tăng trưởng nhanh ở Việt Nam và Thái Lan phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư của Thái Lan chiếm bình quân 40% GDP, còn ở Việt Nam là trên 40%. 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 (sơ bộ) Tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP 0.47 0.5 0.52 0.54 0.57 0.67 0.68 0.72 Tốc độ tăng trưởng GDP 7.08% 7.34% 7.79% 8.44% 8.23% 8.46% 6.31% 5.32% Bảng 2 Tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam 2002-200911 Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP trên 40% cho thấy tăng trưởng dựa vào vốn là chủ yếu chứ chưa quan tâm đến tốc độ tăng trưởng, đặc biệt trong trường hợp Việt Nam đang cần phải khuyến khích đầu tư những ngành nghề sử dụng nhiều lao động hơn vốn. 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 3.3 3.4 4.2 5.6 6.9 4.9 5 4.4 4.5 4.9 5.5 6 Bảng 3 ICOR Việt Nam 1995-200612. Hệ số ICOR của Việt Nam hiện nay thuộc dạng cao nhất khu vực nguyên nhân chính bởi vì trong các năm qua nguồn vốn được chính phủ rót vào các doanh nghiệp nhà nước vốn đã có hiệu quả sử dụng vốn thấp (ICOR của doanh nghiệp tư nhân là 3-4, của các công ty nhà nước là 6-7 và trong thời kì suy giảm kinh tế như hiện nay ICOR có thể còn cao hơn)13. Theo số liệu thống kê chính thức đầu tư công chiếm khoảng 18% GDP, 45% tổng đầu tư toàn xã hội. Trên thực tế con số này còn có thể cao hơn do vai trò quan trọng của Nhà nước trong nhiều công ty cổ phần. 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 - 0.5% - 0.3% 2.9% 3.0% 2.7% 5.3% 4.% 8,24% 21,69% Bảng 4 Số liệu lạm phát Việt Nam – Nguồn: Vietnam Economic Indicators 11 Nguồn 12 Nguồn: Vương Quân Hoàng, 2007, Văn minh làm giàu và nguồn gốc của cải. NXB Chính trị Quốc gia. 13 PGS.TS Trần Chí Thiện, 2009, Ngăn chặn suy giảm kinh tế - Từ lí thuyết đến thực tiễn Việt Nam. 15 Bùng nổ tín dụng trong giai đoạn 2006-2008 của Việt Nam rất giống Thái Lan 10 năm về trước, các khoản tiền được bơm ồ ạt vào thị trường làm giá chứng khoán, bất động sản, hàng hóa tăng lên nhanh chóng, cùng theo đó là lạm phát tăng cao. Cùng với bội chi ngân sách, hiệu quả đầu tư kém và lãng phí nhiều năm liền chúng ta đang phải đối mặt với hiệu ứng lạm phát nhiều tầng. Mà đặc biệt tầng đầu tư công do tích lũy nhiều năm đầu tư không hiệu quả14. - Thâm hụt mậu dịch. Thị trường Năm 2007 Năm 2008 Thay đổi của năm 2008 so với 2007 Trung Quốc 12502 16056 28,43% Asean 15889 17594 10,73% Nhật Bản 6177 8124 31,52% Hàn Quốc 5333 7055 32,29% Đài Loan 6916 7805 12,85% EU 5139 5379 4,67% Mỹ 1699 2545 49,79% Australia 1059 1240 17,09% Bảng 5 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tại các thị trường chính 2007-2008 (triệu đôla) - Số liệu tổng hợp từ Tổng cục thống kê. Thị trường Năm 2008 Năm 2009 Thay đổi của năm 2009 so với 2008 Mỹ 11816 11200 -5,21% EU 10639 9300 -12,59% Asean 9894 8500 -14,09% Nhật Bản 7917 6200 -21,69% Trung Quốc 4568 4800 5,08% Hàn Quốc 2125 2500 17,65% Australia 3256 2200 -32,43% Bảng 6 Kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chính 2008-2009 (triệu đôla) – Số liệu tổng hợp từ Tổng cục thống kê. 14 Tham khảo VND định giá cao – coi chừng khủng hoảng. GS.TS Trần Ngọc Thơ 16 Từ bảng 3 và bảng 4 chúng ta thấy rõ xu hướng tăng mạnh nhập khẩu và giảm xuất khẩu. Điều này cũng đã từng xảy ra với Thái Lan, từ 1991 đến 1996 tổng cộng thâm hụt là 36.26 tỉ đôla, trong đó năm 1996 thâm hụt tới 9.3 tỉ đôla, một trong những lí do mà hai quốc gia bị thâm hụt cán cân mậu dịch là xuất khẩu bị kìm hãm, nhập khẩu được khuyến khích khi tỉ giá được neo cố định với đồng đôla thậm chí đồng Việt Nam còn lên giá mức độ nhẹ trong giai đoạn 2002-2006 (do gia tăng mạnh nguồn vốn FDI, FII, ODA, kiều hối,...). Năm Mức nhập siêu (triệu USD) Tỷ lệ nhập siêu so với (%) Xuất khẩu GDP 1996 3888 53,6 15,7 1997 2407 26,2 9 1998 2139 22,9 8 1999 20 1,7 0,7 2000 154 8 3,7 2001 1189 7,9 3,7 2002 3040 18,2 8,7 2003 5107 25,3 12,8 2004 5484 20,7 12,1 2005 4314 13,3 8,1 2006 5065 12,7 8,3 2007 14121 29,1 19,9 2008 17510 27,8 19,9 Bảng 7 Diễn biến nhập siêu qua các năm. Nguồn www.vinanet.com.vn - Bội chi ngân sách: Năm 1997 khủng hoảng xảy ra Thái Lan đã không có khả năng thanh toán. Thâm hụt ngân sách kéo dài do nguồn tiền bù đắp bội chi có thể vay được dễ dàng từ nước ngoài, nợ nước ngoài chiếm 70% GDP, dự trữ ngoại tệ thấp hơn nhiều lần, nguồn vốn đầu tư nước ngoài mang tính ngắn hạn, thâm hụt tài khoản vãng lai lớn đẩy đất nước này lâm vào tình trạng vỡ nợ bất cứ lúc nào. Hội đủ các yếu tố trên Thái Lan 1997 đã lâm vào một cuộc khủng hoảng, khi thủ tướng Thái Lan Chavilit Yongchaiyudh tuyên bố thả nổi đồng Bath người dân đổ xô đi mua ngoại tệ khiến cầu ngoại tệ tăng đột biến, dự trữ ngoại hối khánh kiệt và Thái Lan đã mất khả năng thanh toán. So sánh với Thái Lan 1996-1997 và Việt Nam 2006-2008 ta thấy Việt Nam đã hội đủ các yếu tố khủng hoảng nhưng ở Việt Nam mức độ là thấp hơn: tỉ lệ nợ trên GDP thấp hơn, 17 thâm hụt thương mại thấp hơn, đặc biệt niềm tin của dân chúng đối với Chính phủ và nền kinh tế cao hơn. Nhưng những biện pháp kịp thời, cụ thể là cần thiết nhằm tránh những tình huống xấu nhất có thể xảy ra, một trong những giải pháp mà chính phủ đưa ra là hai gói kích cầu - tác động của hai gói kích cầu này được cho là đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đưa nền kinh tế vượt qua điểm trũng, bằng chứng là nền kinh tế sau khi chạm đáy quý I năm 2009 đã cải thiện tốc độ tăng trưởng ngay sau đó, ngoài ra gói kích cầu của Chính phủ mang lại niềm tin của dân chúng vào nền kinh tế sau giai đoạn suy giảm. III. Gói kích cầu tại Việt Nam Từ giữa giữa năm 2008 tình hình kinh tế thế giới đã ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam và tác động ngày càng rõ rệt: hoạt động dản xuất kinh doanh giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm, sức tiêu thụ giảm, hàng háo ứ đọng, hoạt động sản xuất có xu hướng thu hẹp nhất là ở các lĩnh vực và sản phẩm như thép, xi măng, xây dựng, nông sản xuất khẩu, thu ngân sách giảm, thị trường chứng khoán giảm điểm mạnh, bất động sản trầm lắng, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đâu rút vốn, … ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân. Trước tình hình đó Chính phủ xác định mục tiêu tổng quát mà Quốc hội đề ra nhằm ngăn đà sụt giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội. Kết quả đạt được là rất khả quan tuy còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập trong quản lí, điều hành và ra chính sách. Quý Tốc độ tăng trưởng GDP 2009 I 3,14% II 4,16% III 5.67% IV 5,2% Bảng 8 Tốc độ tăng trưởng kinh tế các quý 2009 18 3.1 Hiệu quả của 4 nhóm giải pháp kích cầu 3.1.1 Gói hỗ trợ lãi suất 4% Theo quyết định của Chính Phủ gói hỗ trợ lãi suất 4% dành cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất – kinh doanh, nhằm giảm giá thành sản phẩm hàng hóa, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm, trong điều kiện nền kinh tế bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Trung gian phân bổ gói hỗ trợ lãi suất này là: các ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Phương thức thực hiện hỗ trợ lãi suất là đến kỳ hạn thu lãi tiền vay, các ngân hàng thương mại giảm trừ ngay số lãi tiền vay phải trả của khách hàng bằng với số lãi tiền vay được hỗ trợ lãi suất. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuyển số lãi tiền vay đã hỗ trợ lãi suất trên cơ sở báo cáo số tiền hỗ trợ lãi suất của ngân hàng thương mại. Gói hỗ trợ lãi suất được Chính phủ đưa ra với trị giá 17000 tỉ đồng, đây là một con số không nhỏ nhưng việc thực hiện còn rất nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả thực hiện chưa cao: Không phải sổ tiền 17000 tỉ đồng đều đến được tay doanh nghiệp. Có thể coi gói hỗ trợ lãi suất như một khoản trợ cấp và vì thế sẽ có một khoản mất mát vô ích, ngoài ra một khoản tiền lớn sẽ vào tay các ngân hàng thương mại. Hình 5 Mất mát vô ích trong hỗ trợ iD iS i0 Q0 Qs D S Mất mát vô ích Phần DN hưởng Phần NH hưởng L ãi s u ất Số tiền 19 Trong tình trạng sản xuất khó tìm được thị trường tiêu thụ việc quyết định đi vay sẽ được cân nhắc kĩ lưỡng hơn vì vậy cầu quỹ cho vay sẽ co giãn hơn so với cung quỹ cho vay, ngân hàng sẽ là người hưởng lợi nhiều hơn. Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có thống kê nào về hệ số co giãn cung cầu nên liệu 4% chỉ là con số mang tính chất định tính? - Cho vay sai đối tượng. Đối tượng của gói hỗ trợ lãi suất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ sản xuất nhưng các ngân hàng lại thắt chặt yêu cầu cho vay, thủ tục vay vốn quá phức tạp và tốn thời gian nên các đối tượng ưu tiên của chính sách không mặn mà gì với khoản vay ngân hàng. Thực tế cho thấy rất nhiều doanh nghiệp và cá nhân được vay lại là những doanh nghiệp lớn và người giàu hệ quả là làm giảm số nhân tổng cầu, hiệu quả kích cầu không cao. Con số 20% số doanh nghiệp được vay vốn lãi suất thấp là còn quá ít trong điều kiện sản xuất của hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn, số đối tượng thuộc diện không được hỗ trợ còn làm giảm con số 20% kia tạo nên sự bất công bằng trong chính sách. - Cho vay sai mục đích. Một mặt các ngân hàng đã không làm tốt công tác kiểm tra, quản lí mục tiêu sử dụng vốn của doanh nghiệp, mặt khác món lợi từ nguồn vốn giá rẻ sẽ là động cơ của trục lợi của nhiều người. Rất nhiều doanh nghiệp đã đem nguồn vốn vay được để gửi lại vào ngân hàng để hưởng chênh lệch và người chịu thiệt hại lớn nhất là Nhà nước, làm lệch hướng chính sách phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết lao động thất nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hiệu quả kích cầu trong trường hợp này gần như bằng không. Nguồn vốn kích cầu này được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào thị trường chứng khoán và bất động sản vì bản chất của nó là chính sách nới lỏng tiền tệ dựa trên việc hạ lãi suất giống như Mỹ đã làm. Nguy cơ bong bóng chứng khoán và bất động sản tăng cao, điều này là rất nguy hiểm bởi tính thanh khoản của thị trường sẽ giảm sút nghiêm trọng và chi phí kinh tế khi những bong bóng này vỡ là rất lớn. Mặt khác, việc đổ dồn vốn vào các chứng khoán làm thị trường vẫn tiếp tục khan hiếm vốn cho dù chính phủ đã rót một lượng vốn lớn vào thị trường, lãi suất tiếp tục tăng và các doanh nghiệp không được hỗ trợ lãi suất tiếp tục phải đi vay với lãi suất cao hơn. Điều này tương tự như việc các doanh nghiệp không được hỗ trợ lãi suất đi hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc diện hỗ trợ lãi suất cho dù mong muốn của Nhà nước không phải như vậy15. 15 TS Nguyễn Đức Thành. Lí thuyết kinh tế vĩ mô kể từ Keynes và những hàm ý cho tầm nhìn chính sách ở Việt Nam. 20 Một điểm đáng lưu ý là quy định về đảo nợ của Chính phủ, việc cấm đảo nợ có thể hạn chế tiêu cực song cũng có những hạn chế của nó. Thứ nhất, đảo nợ có thể cứu sống doanh nghiệp đang gặp khó khăn bằng cách thay thế các khoản nợ lãi suất cao bằng các khoản vay lãi suất thấp hơn. Thứ hai, cấm đảo nợ các doanh nghiệp sẽ làm cho các doanh nghiệp không mặn mà với các khoản vay. Thứ ba, việc cho phép đảo nợ không khuyến khích các doanh nghiệp mua máy móc thiết bị mới mà chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn nhờ đó lao động không bị mất việc làm và tổng cung cũng không tăng lên trong khi tổng cầu của nền kinh tế đang suy giảm mạnh. Tuy nhiên quy định về cho phép đảo nợ phải được quy định rõ ràng, chỉ dành cho các hộ sản xuất, doanh nghiệp có quá trình hoạt động kinh doanh tốt nhưng gặp khó khăn16. - Chưa có sự thống nhất trong chính sách kích cầu. Trong khi các Nhà nước cố gắng hỗ trợ lãi suất doanh nghiệp để giảm chi phí thì Chính phủ lại đồng ý để giá xăng, điện tăng làm giảm nỗ lực kích cầu. Tuy nhiên không thể không kể đến những tác động tích cực mà gói hỗ trợ lãi suất mang lại: - Gói kích cầu này đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó làm giảm bớt chi phí kinh doanh, làm giảm giá thành sản phẩm, tăng cạnh tranh và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, giúp cho các ngân hàng cải thiện việc huy động vốn. - Gói kích kích kinh tế mà Chính Phủ đưa với trọng tâm là Chính sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn 4% đã tác động tích cực lên toàn bộ nền kinh tế. Khối doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được hưởng lợi nhiều nhất đã tác động tích cực nhất lên tăng trưởng kinh tế. Làm gia tăng tức thời lòng tin của các doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng như tin vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước. - Quan trọng hơn cả là quyết định dừng gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn đúng thời điểm vào cuối năm khi mà lo ngại về lạm phát tăng cao là cần thiết. Việc rút dần các gói hỗ trợ cho nền kinh tế có thể gây tác động đến sức khỏe của các doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế. 16 Tham khảo tại 21 3.1.2 Gói miễn giảm, giãn thuế Việc giảm và giãn thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân đã góp phần không nhỏ vào mục tiêu kích cầu tiêu dùng của Chính phủ điển hình là: kích thích việc đi du lịch, vui chơi đối với những người có thu nhập cao, góp phần đẩy mạnh du lịch kích cầu tiêu dùng trong nước. Cả năm 2009 tổng số thuế được giãn và giảm khoảng 20000 tỷ đồng, bên cạnh đố bãi bỏ 140 tỷ đồng các khoản phí và lệ phí khác. Tùy vào quy mô của doanh nghiệp mà số thuế được miễn giảm là khác nhau có những doanh nghiệp tiết kiệm được từ việc nộp thuế vài trăm triệu đồng đến hàng tỷ đồng. Số tiền này góp phần vào quá trình tiếp tục sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn về nguyên vật liệu, lương nhân công,… Một số biện pháp đã được thực hiện tốt: - Giãn thời gian ân hạn nộp thuế đối với một số ngành hàng phù hợp với chu kỳ sản suất và tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện tốt chính sách về ân hạn thời hạn nộp thuế nhập khẩu (275 ngày) đối với vật tư nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. - Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu đối với hàng hoá, rút ngắn thời gian thông quan. Đơn giàn hoá thủ tục hoản thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu. - Điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số loại tài nguyên khoáng sản. Điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với một số nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào của sản suất, trong nước chưa sản suất được hoặc có sản suất được nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh. - Tạm hoàn 90% số thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chưng từ thanh toán qua ngân hàng nhưng được nhân hàng thương mại nơi doanh nghiệp giao dịch bảo lãnh thanh toán. - Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong quý IV năm 2008 và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm 2009 đối với thu nhập từ hoạt động sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Giãn thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 9 tháng đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2009 (70% số thuế còn lại sau khi giảm) và của các doanh nghiệp có hoạt động sản suất, chế biến nông sản, thuỷ sản, dệt may, da dày, linh kiện điện tử. 22 - Về thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thuế, theo thống kê, đến ngày 31/8/2009 đã có trên 125.500 lượt doanh nghiệp và khoảng 937.000 đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân được hưởng các ưu đãi về chính sách thuế, trong đó có trên 36.000 doanh nghiệp được giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, 42.000 doanh nghiệp được giãn thuế thu nhập doanh nghiệp, 47.000 doanh nghiệp được giảm 50% thuế giá trị gia tăng… Tuy nhiên đối với thuế thu nhập cá nhân, chính sách hoãn thuế là không thật sự hiệu quả vì đối tượng có thu nhập cao có khuynh hướng tiêu dùng biên thấp. Thực ra để công bằng thì phải miễn thuế hoặc giảm thuế cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Ngoài biện pháp lùi thời điểm thực hiện luật Thuế Thu nhập cá nhân thì Chính phủ nên xem xét lại các khoản mục giảm trừ gia cảnh, đây là biện pháp có thể tránh được việc lùi thời gian quyết toán thuế mà vẫn có tác động tích cực đến tổng cầu. 3.1.3 Gói an sinh xã hội Đầu năm 2009 Chính phủ ũng đã đưa ra các biện pháp nhằm thực hiện an sinh xã hội, đảm bảo hơn nữa cho đời sống nhân dân, nhất là các vùng miền núi còn gặp nhiều khó khăn, mức sống thấp, các hộ kinh doanh nhỏ lẻ bằng các biện pháp như giảm thuế, miễn thuế… Nhà nước đã ban hành một hệ thống chính sách an sinh xã hội khá đầy đủ với 20 nhóm chính sách và 50 chính sách cụ thể và có riêng một chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo trong 12 chương trình mục tiêu quốc gia. Gói kích cầu về giải quyết đảm bảo an sinh xã hội gần 9,8 nghìn tỷ đồng góp phần ổn định đời sống bà con vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, giải quyết các nhu yếu phẩm chủ yếu, từ đó khuyến khích sản xuất. Thực hiện hỗ trợ lương thực, chi phí sửa chữa nhà ở, phòng trừ dịch bệnh giống cây trồng vật nuôi… nhanh chóng khôi phục lại sản xuất và ổn định đời sống nhân dân ở các vùng bị thiên tai dịch bệnh, tăng dự trữ quốc gia về lương thực, hỗ trợ đầu tư nhằm thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững cho 61 huyện nghèo. Thúc đẩy xây dựng nhà cho người nghèo, nhà ở cho người lao động ở khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho học sinh sinh viên, hỗ trợ thu nhập cho các đối tượng chính sách… Gói kích cầu này là gói kích cầu có hiệu ứng lan tỏa lớn nhất bởi đối tượng chính là những người có thu nhập thấp và đặc biệt ngoài tác động đến nền kinh tế việc tăng chi tiêu an sinh xã hội còn có tác động tích cực đến người dân, giữ cho tâm lí dân chúng ổn định, đảm bảo công bằng và trật tự xã hội. 23 Hạn chế: tỉ trọng chi tiêu cho an sinh xã hội trong gói kích cầu là chưa cao mặc dù tác động của nó đến nền kinh tế là rất lớn. Một số quy định còn quá cứng nhắc ví dụ như tiêu chuẩn người nghèo nhận tiền ăn tết ở nông thôn là 200000đ/ người, ở thành thị là 260000đ/người hay quy định mỗi người nghèo chỉ được nhận 200000đ và mỗi hộ nghèo không nhận quá 1000000đ là còn quá thấp. Việc thanh tra giám sát thực hiện chưa tốt, một nguồn tiền lớn bị thất thoát do tham ô, quản lí kém tiêu biểu ở các địa phương như Hải Phòng, Quảng Bình gây bất bình lớn trong nhân dân. Tuy đã có quy định về bảo hiểm thất nghiệp nhưng việc thực hiện vẫn chưa đi sâu vào thực tế, trong khi dụng của hệ thống bảo hiểm thất nghiệp chính là việc hệ thống này đóng vai trò như một cơ chế kích cầu tự động, hoạt động thông qua việc khi nền kinh tế suy thoái thì thuế sẽ giảm xuống và chi cho bảo hiểm thất nghiệp tăng lên. 3.1.4 Đầu tư công Theo số liệu thống kê chính thức đầu tư công chiếm khoảng 18% GDP, 45% tổng đầu tư toàn xã hội. Trên thực tế con số này còn có thể cao hơn do vai trò quan trọng của Nhà nước trong nhiều công ty cổ phần vì vậy chính phủ cần tác động tới hoạt động đầu tư công như là ưu tiên đầu tiên trong đầu tư17. Không thể phủ nhận đầu tư là quan trọng trong việc đầu tư vào lĩnh vực lợi nhuận thấp hoặc bị tư nhân chối bỏ nhưng công bằng mà nói đầu tư công ở Việt Nam được đánh giá là tham nhũng nhiều, kém hiệu quả và rất lãng phí trong nhiều năm liền thậm chí cả những tập đoàn kinh tế đầu ngành nắm trong tay nguồn lực lớn và được ưu đãi về chính sách. Ví dụ: Tại thành phố Hồ Chí Minh qua giám sát, trong tổng số 3.002 dự án đang thực hiện, bao gồm 681 dự án thuộc nguồn vốn ngân sách tập trung của thành phố và 2.421 dự án thuộc nguồn vốn phân cấp và ngân sách của quận huyện, doanh nghiệp thì có đến 2.250 dự án (chiếm 75%) phải điều chỉnh và có vi phạm, gây lãng phí; năm 2008 thành phố Hồ Chí Minh có 69 dự án triển khai chậm, khiến vốn đầu tư đội thêm hơn 2.800 tỉ đồng; dự án đường Hồ Chí Minh yếu kém ngay từ khâu khảo sát, thiết kế gây thất thoát, lãng phí và sử dụng sai mục đích nhiều trăm tỷ đồng, khâu nghiệm thu, thanh toán dự án đường Hồ Chí 17 Bài thảo luận chính sách số 4: Thay đổi cơ cấu – Giải pháp kích thích có hiệu lực duy nhất. Havard Kenedy school, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright. 24 Minh (giai đoạn I) có không ít sai phạm; hay việc đầu tư tràn lan vào các cảng biển của các tỉnh ven biển Việt Nam, … 18. Nghìn tỷ đồng Cơ cấu (%) So với cùng kỳ năm trước (%) TỔNG SỐ 704,2 100,0 115,3 Khu vực Nhà nước 245,0 34,8 140,5 Khu vực ngoài Nhà nước 278,0 39,5 113,9 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 181,2 25,7 94,2 Bảng 9 Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2009. Nguồn: Tổng cục thống kê Đầu tư công của Việt Nam hiện nay có ba nhóm chính là (1) tiền ngân sách, chiếm khoảng 50% tổng đầu tư toàn xã hội, (2) tín dụng nhà nước chiếm hơn 9% và (3) tiền đầu tư của chính doanh nghiệp. Có thể nói, đầu tư công chủ yếu là vốn Nhà nước rót cho các tổng công ty, tập đoàn để thực hiện các công trình lớn của nền kinh tế. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhiều địa phương và các bộ, ngành đã lên danh sách hoặc làm báo cáo về các công trình lớn dự định cắt giảm. Hiệu ứng tích cực nhất của chủ trương này là vừa qua Tập đoàn Vinashin đã ngưng triển khai một số dự án lớn, trong đó có quyết định không tham gia góp vốn đầu tư 1 tỉ USD trong tổng số 4 tỉ USD của dự án liên doanh với Posco (Hàn Quốc) xây dựng nhà máy thép ở Khánh Hòa. Tính đến nay Chính phủ đã tạm hoãn, giãn tiến độ hơn 3000 dự án lớn nhỏ, điều này có tác động tích cực đến việc tăng số hệ số ICOR, nhưng có nhiều ý kiến lo ngại rằng việc giảm đầu tư công sẽ làm giảm tổng cầu của toàn xã hội nhưng thực tế thời gian qua Chính phủ đã mạnh dạn chuyển giao các dự án cho khu vực tư thực hiện. Các dự án xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng đặc biệt là giao thông, thủy lợi cho vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa có tác động tích cực giúp giải quyết việc làm và giảm bớt gánh nặng cho các thành phố lớn - đang phải gồng mình giải quyết việc làm và ô nhiễm môi trường. 18 Xem thêm tại chinh phu/18F5646B1B4936D83BC52B3328C72723/9575.ttcp?print=20_Du_an_gay_lang_phi$16341 25 3.2 Đánh giá việc thực hiện mục tiêu lạm phát Theo kinh tế học Keynes để thực hiện mục tiêu kích cầu chính phủ phải đánh đổi mục tiêu lạm phát và chấp nhận thâm hụt ngân sách. Nhưng với những công cụ tài chính trong tay việc hạn chế tác động của việc đánh đổi này là hoàn toàn có thể. Có thể tóm lược tình trạng lạm phát cao thời gian qua ở Việt Nam qua các ý chính sau: - Sự không thống nhất trong chính sách tiền tệ ở các thời kì. - Đầu tư hiệu quả kém và lãng phí của khu vực công nhiều năm liền. - Chế độ tỉ giá kém linh hoạt. - Bội chi dẫn đến phải vay mượn ngoại tệ để đổi ra VND làm cung tiền tăng lên. - Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Tuy nhiên thời gian qua Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có những động thái tích cực làm dịu bớt tình hình, đầu tiên là việc điều chỉnh đầu tư công như đã nói ở trên, sau là Ngân hàng Nhà nước đã dần có những quyết sách đúng đắn hơn. Hoạt động của ngân hàng nhà nước trong năm 2010 đặt mục tiêu là kiềm chế lạm phát và hoàn thiện thể chế tiền tệ. Cam kết mục tiêu kìm chế lạm phát dài hạn có thể mang lại sự phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả và ổn định nền tài chính. Một trong những thành công nhất của ngành Ngân hàng trong năm 2009 là hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam đảm bảo an toàn, ổn định và có bước tăng trưởng khá, năng lực tài chính và quy mô hoạt động tăng lên. Tính thanh khoản của hệ thống được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán của nền kinh tế. Tính đến thời điểm cuối năm 2009, tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán của cả nước giảm liên tục: Từ mức 23,7% năm 2001, năm 2005 là 19,01%, năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36%, năm 2008 là 14,6% và năm 2009 vẫn duy trì được xu hướng tích cực này19. Trong tình hình đầu tư không hiệu quả và lãng phí và nguồn vốn nước ngoài dồi dào thì thắt chặt tiền tệ góp phần loại bỏ những dự án kém hiệu quả, tăng tính cạnh tranh, ngăn chặn tốc độ phát triển của lạm phát. Tỉ giá đối đoái được điều chỉnh linh hoạt hơn,ví dụ biên độ giao động được nâng lên 5% vào quý I/2009 đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động phương án sản xuất kinh doanh. Nhà nước giai đoạn qua luôn có những chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu, 19 Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam 26 hạn chế nhập khẩu tiến tới xuất siêu, cán cân mậu dịch thặng dư áp lực lạm phát sẽ thấp hơn. IV. Khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định Theo Keynes kích cầu khi tổng cầu nhỏ hơn tổng cung, vì vậy khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì ổn định kinh tế là dựa trên luận điểm suy giảm có thể xảy ra đối với một số ngành nào đó ngay cả khi nền kinh tế đang trong thời kì hưng thịnh hoặc nhà nước có thể kích cầu đối với những nhóm ngành chưa phát triển. Các biện pháp: - Kích cầu đối với các nhóm hàng xuất khẩu. Biện pháp kích cầu này là làm tăng nhu cầu của nước ngoài đối với các sản phẩm trong nước. Vì thu nhập của nước ngoài là độc lập với thu nhập trong nước nên biện pháp có thể thực hiện là mở rộng chính sách ưu đãi xuất khẩu, giảm thuế xuất khẩu đặc biệt là đối với các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm có tỉ lệ nội địa hóa cao, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch,… - Xây dựng lộ trình thúc đẩy sản xuất hàng hóa trong nước thay thế hàng nhập khẩu, phát triển thị trường trong nước. Đưa ra các phong trào người Việt Nam dùng hàng Việt Nam trong thời gian ngắn một mặt thúc đẩy sản xuất trong nước một mặt tránh bị các quốc gia khác trả đũa thương mại. Tăng cường quản lí về công khai hóa thông tin và Nhà nước tham gia thu thập phổ biến thông tin tránh tình trạng bất cân xứng thông tin về sản phẩm trong nước và sản phẩm ngoại nhập như hiện nay. - Chủ chương đồng VND yếu, khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, tăng thặng dư tài khoản vãng lai. Chủ chương này đã được không ít các quốc gia thực hiện, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Colombia,… Ngoài ra còn hạn chế việc tràn ngập hàng hóa giá rẻ chất lượng thấp từ Trung Quốc – đại công xưởng của thế giới. - Kích cầu đối với những sản phẩm mới, mặt hàng mới đặc biệt là những mặt hàng mà quá trình sản xuất cần nhiều lao động như dệt may, xây dựng, chế biến thực phẩm, gia công,cơ khí, chế tạo, đóng tàu… 27 V. Kết Luận Kinh tế thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất từ cuộc đại suy thoái 1929-1933, những học thuyết kinh tế cũ đang được thay thế bởi những học thuyết kinh tế mới đúng đắn và hợp lí hơn. Lí thuyết kinh tế Keynes và vai trò điều tiết của nhà nước đang thể hiện được những ưu điểm của nó. Việt Nam với tư cách là một đất nước đang phát triển dù phải đối mặt với những nguy cơ và thiệt hại mà cuộc khủng hoảng toàn cầu đem lại cũng xem đây là một cơ hội để khắc phục những thiếu sót, sửa chữa những khuyết điểm của cơ cấu kinh tế, bộ máy hành chính và rút ra bài học chính sách vĩ mô cho sau này. Hai gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần làm dịu bớt những tác động suy giảm gây ra và tạo đà cho nền kinh tế phát triển. Đặc biệt niềm tin của dân chúng vào Nhà nước và nền kinh tế được cải thiện, đó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong dài hạn. Việc thực hiện gói kích cầu đã mang lại những tác động tích cực và cả tiêu cực, bài học đã được rút ra nhưng nhóm làm đề tài thiết nghĩ bài học từ gói kích cầu này không có nhiều ý nghĩa bằng việc thực hiện các chính sách tiền tệ - tài khóa đúng đắn trong dài hạn, điều này giống như xây một căn nhà vững chắc trước một cơn bão lớn. Đề tài có sử dụng nhiều số liệu được thống kê từ nhiều nguồn, nên chắc chắn sẽ có sự vênh số liệu, mặt khác do sự hạn chế kiến thức của các thành viên trong nhóm nhiều nhận định có thể mang tính chất chủ quan và không chính xác. Đề tài chỉ bó hẹp trong những phân tích liên quan đến lí thuyết kích cầu của Keynes, đây có thể là hạn chế lớn nhất, hướng phát triển của phân tích kích cầu có thể nằm trong một lí thuyết khác. 28 Tài liệu tham khảo: 1. David Begg, 2007, Kinh tế học, NXB Thống kê. 2. Paul Davidson, 2009, Giải pháp Keynes – Con đường dẫn đến thịnh vượng toàn cầu, NXB Trẻ. 3. Phạm Đỗ Chí, 2009, Từ lạm phát đến kích cầu, NXB Trẻ. 4. Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Phạm Thế Anh, Đinh Tuần Minh và Dương Mạnh Hùng, Bài thảo luận chính sách CS-04/2008 của CEPR Về chính sách chống suy thoái ở Việt Nam hiện nay: Chính sách kích cầu. 5. PGS.TS Trần Chí Thiện, 2009, Ngăn chặn suy giảm kinh tế - Từ lí thuyết đến thực tiễn Việt Nam 6. Nguyễn Đức Thành, 2010, Bài nghiên cứu 13 VEPR Lí thuyết kinh tế vĩ mô kể từ Keynes và những hàm ý cho tầm nhìn chính sách ở Việt Nam. 7. PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai, Đại học kinh tế, ĐHQGHN, 2009, Vai trò của Nhà nước đối với thị trường tài chính – Bài học từ khủng hoảng tài chính Mỹ. 8. Đinh Văn Thông, 2009, Học thuyết Keynes và những vấn đề kích cầu nhằm chống suy giảm kinh tế ở nước ta, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và kinh doanh 25 (2009) 185-192 9. Các bài báo từ internet và của nhiều chuyên gia khác.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfĐánh giá hiệu quả biện pháp kích cầu trong thời kì suy giảm kinh tế Việt Nam Khả năng ứng dụng kích cầu trong thời kì kinh tế ổn định.pdf
Luận văn liên quan