Đề cương Điều tra thành phần sâu hại và ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ và mức độ hại của rệp sáp trên cây cà phê chè tại Xã Phỏng Lái, Huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La

1. Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L gây hại nặng trên cà phê chè tại xã Phỏng Lái huyện Thuận Châu- Sơn La và trên tất cả các vùng trồng cà phê chè 2. Tỷ lệ cành bị rệp và mức độ rệp (tính theo chỉ số rệp) trên các nương cà phê nằm ở thung lũng cao hơn nương bằng, nương dốc, nương hướng sườn Tây thấp hơn các nương nằm ở sườn đồi Đông, Bắc, Nam; ở các cây tuổi 2, tuổi 3 có tỉ lệ cành và mức độ rệp ở cành nặng hơn. 3. Vườn cây ít tỉa cành, ít làm cỏ bị rệp hại nặng hơn các nương có tỉa cành, làm cỏ và chăm sóc. Vườn có cây che bóng cũng bị nặng hơn các vườn không trồng cây che bóng 4. Rệp sáp thường gây hại trên cành, thân, chồi vượt, chùm quả đặc biệt là ở cành bánh tẻ, lá non, chồi non là tập trung nhiều. 5. Chúng sinh trưởng và sinh sản mạnh ở điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao đặc biệt có nắng mưa xen kẽ thì sinh sản mạnh. Điều kiện thích hợp nhất vào các tháng 7,8,9 vì vậy rệp dễ bùng phát tạo thành dịch, sau đó giảm dần vào các tháng mùa đông.

docx41 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 23/08/2014 | Lượt xem: 2238 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề cương Điều tra thành phần sâu hại và ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ và mức độ hại của rệp sáp trên cây cà phê chè tại Xã Phỏng Lái, Huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Sâu đục thân: (Xylotrechus quadripes) trưởng thành hoạt đọng thích hợp ở to 25-36oC, 1 năm phát sinh 2 đợt chính : đợt 1 t4 - t5 ; đợt 2 t9- t10. Đỉnh cao sâu non vào t6- t7, cà phê năm thứ 3 bị hại 3-5% số cây, cây năm thứ 4 bị hại trên 10% số cây, nhưng nó còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện sinh thái của vùng và điều kiện khí hậu của từng năm. + Sâu tiện vỏ : (Pihammus cervinus) gây hại ở cà phê chè khi cây được 1-3 năm tuổi. Trong năm sâu vũ hóa từ giữa t3 kết thúc vào cuối t5 đầu t6. Sâu non phá hại nặng từ t4 đến t5 năm sau,1 năm 2 lứa. Cà phê năm thứ 2 bị hại khoảng 20-26% là loài nguy hiểm nhất ở các tỉnh trồng cà phê phía Bắc. + Rệp hại cà phê : có 6 loài rệp chủ yếu gây hại ở cà phê : rệp mềm xanh, rệp vảy, rệp sáp nâu lồi, rệp muội đen, rệp sáp giả, rệp sáp nâu mềm, trong đó rệp sáp giả và rệp sáp nâu mềm là 2 loại gây hại nghiêm trọng. Những năm khô hạn rệp thường phát sinh và gây hại nặng ở hầu hết các vùng trồng cà phê. Theo “(Vũ Khắc Nhượng và Đoàn Triệu Nhạn, 1989) cho rằng: có 22 loài sâu hại chủ yếu thường gặp trên các vườn cà phê ở Việt Nam. Trong đó, sâu hại phổ biến ở rễ có loài, sâu hại phổ biến ở thân và cành có 4 loài, sâu hại phổ biến ở lá có 9 loài và sâu hại ở chùm quả có 3 loài. Kết quả điều tra thu thập thành phần sâu hại cà phê ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên đã phát hiện có 12 loài. Chúng thuộc 5 bộ côn trùng là bộ cánh cứng Coleoptera (5 loài), bộ cánh vảy Lepidoptera (3 loài), bộ cánh đều Hompytera (2 loài), bộ cánh thẳng Orthoptera (1 loài) và bộ ánh nửa cứng Hemiptera (1 loài), “(Viện Bảo Vệ Thực Vật, 1999). “(Đoàn Công Đỉnh, 1999) nhận xét: sâu hại cà phê rất phong phú và đa dạng tuy nhiên không phải loài sâu hại nào cũng gây hại nghiêm trọng, chỉ có một số loài gây hại có ý nghĩa đối với cà phê. Điều tra trong 3 năm 1996 - 1998 trên cây cà phê ở vùng Tây Nguyên phát hiện được 12 loài côn trùng hại cà phê. “(Trần Huy Thọ và CTV, 1999) nhận xét: trên cây cà phê chè ở các tỉnh miền núi phía Bắc ghi nhận được có 23 loài sâu hại, trong đó sâu tiện vỏ được phát hiện lần đầu tiên gây hại cà phê. Đến năm 2002 các tác giả này đã ghi nhận thêm 2 loài sâu hại nữa, đưa tổng số loài sâu hại đã ghi nhận được trên cây cà phê chè ở các tỉnh miền Bắc lên 25 loài “(Trần Huy Thọ và CTV, 2002): Trong đó có 15 loài thường xuyên xuất hiện trên các vườn cà phê. Trong số các loài đã phát hiện có 4 loài gây hại thân, 2 loài gây hại cành, 2 loài gây hại cây con và 12 loài gây hại lá. Riêng tập đoàn rệp sáp hại cà phê chè đã ghi nhận có 4 loài khá phổ biến và quan trọng là rệp sáp mềm xanh Coccus viridis Green, rệp sáp giả Planococcus citri, rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L, rệp sáp nâu Parasaissetia nigra. Những loài thường xuyên gây hại nặng cho vườn cà phê gồm: sâu đục thân Xylotrechus quadrips, sâu tiện vỏ Dihammus cervinus, rệp sáp giả Planococcus citri và rệp sáp nâu Parasaissetia cervinus. 2.3 Tổng quan về cây cà phê 2.3.1 Giống cà phê Có ba loại gống cà phê: Cà phê chè Coffea arabica L., cà phê vối Coffea canephora., cà phê mít Coffea excelsa. Mỗi giống có nhiều chủng loại khác nhau như trong cà phê chè có các chủng: Typica, Bourbon, Moka, Mundonovo, Caturra, Catuai, Catimor.... Trong cà phê vối có rất nhiều chủng loại khác nhau về kích thước lá, độ gợn sóng của phiến lá, màu sắc lá và quả, hình dạng quả, song chủng loại được trồng rất phổ biến ở nhiều nước là Robusta. Đặc trưng của cà phê Typica là đọt non có màu nâu tím, còn các chủng khác như Bourbon, Mundonovo... thì đọt non có màu xanh. Tùy theo từng giống mà chúng đòi hỏi các điều kiện ngoại cảnh khác nhau, cho nên việc bố trí cơ cấu giống vào trồng trong một vùng phải dựa trên các yêu cầu riêng của chúng. Có như vậy mới phát huy được hiệu quả của từng giống [18]. 2.3.2 Các yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây cà phê chè Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao. Đây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê. Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới. Người ta thường trồng nó ở độ cao từ 1000-1500m. Cây có tán lớn, màu xanh đậm, lá hình oval. Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 4-6 m, nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m. Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê. Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch. Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa. Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm [18]. 2.3.2.1. Đất đai Cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, trong đó đất ba-zan là một trong những loại đất lý tưởng để trồng cà phê, vì các đặc điểm lý hóa tính tốt, và tầng dày của loại đất này. Yêu cầu cơ bản của đất trồng cà phê là có tầng sâu từ 70 cm trở lên, có độ thoát nước tốt (không bị úng, lầy), độ pH từ 4,5-6,5 tốt nhất là từ 5-6. Các loại đất thường thấy ở Việt Nam ở trên các vùng cao như granit, sa phiến thạch, phù sa cổ, gờ nai, đá vôi, dốc tụ... đều trồng được cà phê. Ở cà phê vườn có khả năng trồng được cả ở nơi có đá lộ đầu, ở những nơi đất dốc vẫn trồng được cà phê nếu làm tốt công trình chống xói mòn. Dù trồng ở trên loại đất nào nhưng vai trò của con người có tính quyết định trong việc duy trì, bảo vệ nâng cao độ phì nhiêu của đất. Ngay cả trên đất ba-zan, nếu cà phê không được chăm sóc tốt vẫn dẫn tới hiện tượng cây mọc còi cọc, năng suất thấp. Ngược lại ở những nơi không phải là đất ba-zan nếu đảm bảo được đủ lượng phân hữu cơ, vô cơ, giải quyết tốt cây đậu đỗ, phân xanh trồng xen, tủ gốc tốt cùng các biện pháp thâm canh tổng hợp khác như tưới nước vẫn có khả năng tạo nên các vườn cà phê có năng suất cao [17]. 2.3.2.2. Khí hậu Không phải vùng nào ở trên trái đất cũng trồng được cà phê. Ngoài yếu tố đất đai, cây cà phê còn đòi hỏi một số yêu cầu về nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, ánh sáng, gió. Vì vậy, khi chọn vùng trồng cà phê phải chú ý tới các yếu tố rất quan trọng này. * Nhiệt độ Nhiệt độ là một yếu tố quyết định rất lớn tới năng suất, phẩm chất của cà phê, có ý nghĩa hàng đầu trong việc xác định vùng trồng cà phê chè, xây dựng các biện pháp kĩ thuật hạn chế tác hại bất lợi đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây. Nói chung trong phạm vi nhiệt độ tương đối rộng từ 50C đến 320C cây cà phê vẫn có khả năng tồn tại, sinh trưởng và phát triển. Song phạm vi nhiệt độ phù hợp đối với từng giống cà phê có khác nhau. Cà phê chè ưa nơi mát và hơi lạnh. Phạm vi thích hợp từ 180C - 250C, thích hợp nhất từ 20 - 220C. Dưới 50C cây sẽ ngừng sinh trưởng trên 320C cây sẽ ngừng quá trình quang hợp. Do yêu cầu về nhiệt độ như vậy nên cà phê chè thường được trồng ở miền núi có độ cao từ 600 - 2.500 m (nguyên quán cà phê chè là ở Ethiopie nơi có độ cao trên dưới 2.000 m). Các nước trồng cà phê chè có phẩm vị thơm ngon như: Kenya, Tanzania, Ethiopie, Côlombia thường được trồng ở nơi có độ cao từ 800 m trở lên. Nhiệt độ giảm xuống tới 00C làm thui cháy các đọt non, nếu kéo dài làm cháy cả lá già đặc biệt là vùng hay xuất hiện sương muối. Gió rét và gió nóng đều bất lợi đối với sinh trưởng của cây cà phê [18]. Nhìn chung cây cà phê chè yêu cầu điều kiện khí hậu mát mẻ, đặc biệt có mùa đông lạnh để phân hóa mầm hoa, có biên độ nhiệt ngày đêm lớn để tăng quá trình tích lũy vào hạt, tăng năng suất và phẩm chất. Đối với vùng Chiềng Pha có điều kiện nhiệt độ rất phù hợp, chỉ có một bất lợi là mùa đông có sương muối vì vậy trồng cây che bóng là một khâu quan trọng trong kĩ thuật trồng trọt. * Lượng mưa Lượng mưa cần thiết đối với cây cà phê chè thường 1.300 mm - 1.900 mm. Nếu lượng mưa được phân bổ tương đối đều trong năm có một mùa khô hạn ngắn vào cuối và sau vụ thu hoạch, nhiệt độ thấp thì thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa của cây cà phê. Nhìn chung, ở nước ta lượng mưa phân bố không đều. Lượng mưa tập trung khoảng 70 - 80% vào trong mùa mưa gây ra hiện tượng thừa nước. Mùa khô thường kéo dài từ 3 - 5 tháng, nhưng lượng nước mưa chỉ chiếm từ 20 - 30%, do vậy có nhiều nơi cây cà phê thiếu nước nghiêm trọng đặc biệt là các tỉnh ở Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Để khắc phục hiện tượng này, vấn đề tủ gốc giữ ẩm, đai rừng phòng hộ, cây che bóng và tưới nước có một ý nghĩa quan trọng [21]. * Ấm độ Ẩm độ của không khí phải trên 70% mới thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây cà phê. Đặc biệt giai đoạn cà phê nở hoa cần ẩm độ cao, do đó tưới nước bằng biện pháp phun mưa rất thích hợp cho quá trình nở hoa của cà phê. Ẩm độ quá thấp cộng với điều kiện khô hạn, nhiệt độ cao dẫn tới hậu quả làm cho các mầm, nụ hoa bị thui, quả non bị rụng [19]. * Ánh sáng Cà phê chè là loại cây thích ánh sáng tán xạ (nguồn gốc mọc trong rừng thưa tại châu Phi), ánh sáng trực xạ làm cho cây bị kích thích ra hoa quá độ dẫn tới hiện tượng khô cành, khô quả, vườn cây xuống dốc nhanh, ánh sáng tán xạ có tác dụng điều hòa sự ra hoa, phù hợp với cơ chế quang hợp tạo thành và tích lũy chất hữu cơ có lợi cho cây cà phê, giữ cho vườn cây lâu bền, năng suất ổn định. Ở những nơi có ánh sáng trực xạ với cường độ mạnh làm cho quá trình quang hợp của cây bị cản trở, mặt khác kết hợp với nhiệt độ cao quá sẽ kích thích cây phân hóa mầm hoa quá mức, quá sớm dẫn tới suy kiệt khô cành, khô quả đặc biệt sâu Borer phá hại mạnh hơn, thì cây cà phê cần lượng cây che bóng để điều hòa ánh sáng, điều hòa quá trình quang hợp của vườn cây (theo Đoàn Triệu Nhạn và CS, 1999) [6]. * Gió Gió lạnh, gió nóng, gió khô đều có hại đến sinh trưởng của cây cà phê. Gió quá mạnh làm cho lá bị rách, rụng lá, gãy cành, đổ cây các lá non bị thui đen, gió nóng làm cho lá bị khô héo. Gió làm tăng nhanh quá trình bốc thoát hơi nước của cây và đất đặc biệt là trong mùa khô [21]. Gió to ở giai đoạn nở hoa làm hoa cà phê bị dập nát, rụng, quá trình bốc hơi nước tăng, đất nhanh chóng bị khô kiệt và cây bị thiếu nước, hoa không nở được ngả sang màu tím "hoa chanh’’, theo Đoàn Triệu Nhạn và CS (1999) [6]. Vì vậy cần giải quyết trồng tốt hệ đai rừng chắn gió chính và phụ; cây che bóng để hạn chế tác hại của gió [21]. Trên đây là các yêu cầu sinh thái của cây cà phê chè. Nếu ta đảm bảo được các điều kiện này thì sẽ giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, nâng cao tính chống chịu nên phần nào hạn chế tác hại của sâu borer hại cà phê chè. PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian,vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 3.1.1. Đối tượng - Cây cà phê chè 3.1.2. Địa điểm nghiên cứu - Tại xã Phổng Lái, huyện Thuận Châu - Sơn La. 3.1.3. Thời gian nghiên cứu - Tiến hành từ tháng 01/2012 đến tháng 04/2012. 3.2. Nội dung nghiên cứu. - Xác định thành phần sâu hại chính trên cây cà phê chè tại xã Phổng Lái huyện Thuận Châu - Sơn La. - Điều tra diễn biến và nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến tỷ lệ và mức độ hại của rệp sáp trên cây cà phê chè tại xã Phổng Lái, huyện Thuận Châu-Sơn La: + Giai đoạn phát triển + Điều kiện chăm sóc + Cây che bóng 3.3. Phương pháp nghiên cứu - Điều tra phát hiện nhóm sâu hại thân, cành, lá trên 4 điểm, mỗi điểm là 1 vườn của các hộ khác nhau. - Mỗi điểm điều tra 20 cây (chia làm 4 vị trí, mỗi vị trí là 5 cây) ngẫu nhiên theo 5 điểm chéo góc. Đếm số cây bị hại trên tổng số cây điều tra rồi tính tỷ lệ hại (% cây) và phân cấp hại. - Chọn các vườn đại diện cho khu vực điều tra (tuổi cây, địa hình, chăm sóc) - Tiền hành điều tra định kì 7 ngày 1 lần ở khu vườn cà phê chè điều tra. Mỗi khu điều tra chọn 3 – 4 điểm đại diện cho các yếu tố như: địa hình, chế độ canh tác, tuổi cây. - Lấy điểm điều tra ngẫu nhiên theo ô bàn cờ. - Tại mỗi điểm điều tra 5 cây điển hình. Tại điểm điều tra, quan sát kỹ toàn bộ cây cà phê và thu thập các loài sâu hại hiện diện. + Đối với nhóm rệp: điều tra, quan sát kỹ các cành, chồi, chùm, quả. + Đối với nhóm đục thân: Quan sát thân thấy vùng đục, lỗ đục, viền đục chẽ cây thu mẫu. + Đối với nhóm rệp rễ: Bới đất xung quanh gốc, đặc biệt thấy có kiến bò từ gốc lên. + Đối với nhóm ăn lá: Quan sát kỹ cách gây hại trên lá. + Đối với nhóm mọt đục quả: Quan sát lỗ đục trên quả. + Đối với nhóm mọt đục cành: Quan sát cành bị đục. - Chỉ tiêu theo dõi đánh giá: điều tra đánh giá mức độ phổ biến của sâu hại cà phê để từ đó biết được loài nào gây hại mạnh và có mặt nhiều, tỉ lệ các loài sâu hại, ở các điểm /tổng số điểm điều tra. 0% loài không xuất hiện - 1 - 5% mức nhẹ ( ít ) + 6 - 15% mức trung bình + + 16 - 30% xuất hiện phổ biến + + + > 30% xuất hiện rất phổ biến + + + + PHẦN 4 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ THẢO LUẬN 4.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và tình hình phát triển cà phê tại xã Phổng Lái huyện Thuận Châu - Sơn La. I. Điều kiện tự nhiên Phổng Lái là một xã miền núi nằm ở phía Tây Bắc của huyện Thuận Châu, xã Phổng Lái nằm khoảng: 103,54o vĩ bắc, 21,86o kinh đông là một xã miền núi thuộc xã vùng II của huyện Thuận Châu. Cách trung tâm huyện Thuận Châu 14km ( theo Quốc Lộ 6), tiếp giáp với các xã như sau: - Phía Bắc giáp với Mường Giàng và Mường Sại của huyện Quỳnh Nhai. - Phía Nam giáp xã Mường É và xã Chiềng Pha. - Phía Đông giáp xã Chiềng Khoang - Phía Tây giáp huyện Tuần Giáo của Tỉnh Điện Biên. 1.Địa hình địa mạo Địa hình xã Phổng Lái có độ cao từ 745m đến 1560m, đọ cao trung bình khoảng 1130m so với mực nước biển, điah hình có độ dốc dần từ bắc xuống Đông nam, Nằm xen kẽ giữa các dãy núi là phiêng bãi bằng nhưng không liên tục. Nhìn chung địa hình có sự chia cắt mạnh và có cấu tạo Kastor gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, như khả năng giữ nước kém. Nên việc sử dụng kém hiệu quả nhất là diện tích đất ruộng của xã.Địa hình gây ảnh hưởng đến việc đầu tư cơ sở hạ tầng. 2. Đăc điểm khí hậu Xã nằm trong vùng Á nhiệt đới khí hậu có hai mùa rõ rệt. - Mùa đông lạnh (hay còn gọi là mùa khô) ít mưa, mùa này bắt đầu từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau. Mùa này thịnh gió mùa đông bắc và thường suốt hiện sương muối, ngoài ra từ tháng 12 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau thường xen kẽ gió tây nam ( gió lào) khô nóng. - Mùa hè (hay còn gọi là mùa mưa) bắt đầu từ tháng 5 đến cuối tháng 9, mùa này thịnh gió mùa đông nam mưa nhiều, trung bình tháng đạt tới 210mm. - Nhiệt độ trung bình năm đạt 22o Nhìn chung khí hậu thuận đợi cho các loại cây trồng hang năm như: Lúa, ngô, khoai, sắn,…; Cây công nghiệp như: Chè, cà phê và các loại cây ăn quả, mận, mơ, nhãn, xoài. Cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt.Hiện tượng gió Lào và sương muối ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng và vật nuôi. 3. Đặc điểm thủy văn - Trên địa bàn xã có Hồ Lái Bay đã thi công song đây là nguồn nước chính cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong xã. Nguồn nước mặt của xã chủ yếu là nước mưa được lưu trữ trên các ao hồ, kênh mương và mặt ruộng,… Tuy nhiên nguồn nước mặt phân bố không đều cả về thời gian và không gian, nguồn nước dồi dào vào các tháng mùa mưa ( tháng 6,7,8,9) và cạn kiệt vào mùa khô. Ngoài những nguồn nước trên có một lượng không nhỏ phục vụ sinh hoạt cho các gia đình được lấy từ các mó nước tại các bản Thư Vũ, Nậm Dắt,… Các nguồn nước phục vụ cho sản xuất ông nghiệp phụ thuộc vào nước trời, nguồn nước ngầm đã tiến hành thăm dò từ năm 1999 đến năm 2006 nhưng không hiệu quả. Tình hình thiên tai bão lũ, sạt lở,… và đưa ra các biện pháp khắc phục: Địa tầng xã Phổng Lái có rất nhiều hang Kastor, nguồn nước mặt ít bên cạnh đó tầng phủ thực vật tương đối lớn và ngày được củng cố vì vậy bão lũ hầu như không bị ảnh hưởng. Hiện tượng sạt lở nhỏ không ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân. - Tài nguyên rừng: Rừng tự nhiên hầu như tái sinh với nhiều loài cây quý hiếm cần được bảo tồn và phát triển; Tài nguyên động vật đã bị săn bắt hầu như cạn kiệt. 4.Tổng diện tích đất tự nhiên: 9210 ha Đất nông nghiệp: 5765,67ha Đất phi nông nghiệp: 148,07 ha Đất chưa sử dụng: 3269,26 ha Là xã có diện tích đất tự nhiên lớn: Có nhiều tiềm năng phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi - vườn - rừng. II. Điều kiện kinh tế xã hội 1.Dân số lao động Tổng dân số của xã hiện có: 1.442 hộ, có 7.019 nhân khẩu. Trong đó : - Thái :793 hộ chiếm 55% - Mông : 324 hộ chiếm 22,5% - Kinh :325 hộ chiếm 22,5% Tổng số hộ và nhân khẩu theo các thôn, tỷ lệ tang giảm tự nhiên và cơ học; tỷ lệ hộ làm nông nghiệp và dịch vụ thương mại, tiểu thủ công nghiệp, cơ cấu lao động, dân trí, tỷ lệ dân tộc. Đánh giá lợi thế và hạn chế về các mặt dân số, lao động, việc làm trong xã. 2.Hiện trạng kinh tế xã hội * . Về kinh tế - Sản xuất nông nghiệp: Diện tích đất trồng lúa nước của xã: 23,0 ha, một phần diện tích đất lúa đã bị ngập của long hồ Lái Bay. Diện tích đất nước rẫy trồng cây hang năm khác: 1.676,51 ha chủ yếu là trồng ngô, sắn, rau đậu các loại. Sản lượng lương thực quy ra thóc bình quân đầu người đạt 280 kg/người/năm. - Về chăn nuôi: Ngành chăn nuôi của xã chủ yếu dừng lại ở chăn nuôi hộ gia đình, kết quả điều tra như sau: Trâu 490 con, Bò địa phương 120 con, Dê 1500 con, Lợn 1601 con và gia cầm các loại 3604 con. - Lâm nghiệp: Diện tích năm 2010 đất lâm nghiệp là: 4.973,87 ha chủ yếu là diện tích tự nhiên phòng hộ. Tiếp tục thực hiện công tác quản lý, chăm sóc và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng trồng kinh tế, diện tích cây ăn quả các loại được chăm sóc tốt. 3. Về giao thông – đầu tư xây dựng – công nghiệp tiểu thủ công nghiệp. a. Về giao thông. Tiếp tục phát động làm đường giao thông nông thôn tại các bản trong xã. Tăng cường các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông tại địa bàn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt luật giao thông đường bộ. b. Về xây dựng cơ bản. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn xã, gắn với việc tang cường kiểm tra thực hiện các quy trình trong đầu xây dựng cơ bản như: Công trình nước sinh hoạt, điện đường, trường trạm, nhà văn hóa. Cụ thể trong năm 2011 nhà nước xây dựng và kéo điện được 06 bản đó là: Bản Tiên Hưng, Thư Vũ, Pá Chặp, Bản Pe, Lúm Pè, Nậm Giắt. c. Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Có nhiều chuyển biến tích cực, đáp ứng một phần nào nhu cầu tiêu dung của nhân dân. 4. Về tài chính - tín dụng . - Tài chính: Tích cực triển khai các nguồn thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, xây dựng và thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp thu ngân sách trên địa bàn, đảm bảo thu dung đủ, thu kịp thời cho ngân sách nhà nước, thực hiện tiết kiệm chi, tránh thất thoát lãng phí. + Tổng chi ngân sách trên địa bàn năm 2011 được: 4.051.528.480đ. + Tổng chi ngân sách năm 2011 là: 3.678.575.200đ. - Công tác tín dụng: Tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân vay vốn để phát triển chăn nuôi, chăm sóc cây cong nghiệp, mua vật tư nông nghiệp trong năm 2011 đã có 4 tổ chức được vay vốn với tổng số vốn là: 10 tỷ và nhiều hộ gia đình khác trên địa bàn xã. Các nghành dịch vụ tiếp tục phát triển, thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. 5.Công tác di dân tái định cư thủy điện Sơn La. Các bản di dân hiện đã chia đủ đất cho các hộ đã ổn định đời sống và nơi ở mới. * . Về xã hội a.Về giáo dục Quan tâm đến đội ngũ giáo viên trong nhà trường, chú trọng xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội xâm phạm vào trường học, xây dựng nếp sống lành mạnh, đoàn kết, có tính thống nhất cao trong các nhà trường. b.Về y tế Trạm đã thường xuyên làm tốt công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, nhất là công tác khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 06 tuổi, đảy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất chế biến kinh doanh, trong năm 2011 đã khám được trên 4.000 lượt người. Chương trình dân số - gia đình và trẻ em được triển khai thực hiện có hiệu quả, đã đưa dịch vụ sức khỏe dân số - gia đình và trẻ em vào hương ước đến 24/24 bản trong xã, mạng lưới y tế bản ngày càng được củng cố, các hoạt động tuyên truyền giáo dục sức khỏe dinh dưỡng được đẩy mạnh, tính đến cuối năm 2011 có 98% trẻ em dưới 06 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh. c. Về văn hóa – văn nghệ - TDTT Các hoạt động văn hóa – văn nghệ - TDTT được triển khai rộng khắp từ xã tới bản, thường xuyên tổ chức giao lưu giữa các bản để chào mừng các ngày lễ lớn rong năm. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư”. d.Các lĩnh vực khác Các chính sách xã hội được chỉ đạo kịp thời, dung chế độ, phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn được triển khai rộng khắp toàn xã, kịp thời thăm hỏi tặng quà cho gia đình chính sách và trợ cấp cho gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và các cụ trên 80 tuổi. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xóa đói giảm nghèo, qua xem xét sơ bộ hộ nghèo năm 2011 là 232 hộ giảm 28,96 %. Hỗ trợ làm nhà theo Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ là 81 hộ. Tăng cường phối hợp trong công tác tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội, đặc biệt là phòng chống ma túy năm 2011 xã đã phối hợp với công an huyện triệt phá được: 04 tụ điểm buôn bán ma túy với 08 đối tượng, đưa 05 đối tượng cai nghiện tại trung tâm lao động huyện, tỉnh, làm tốt công tác quản lí sau cai. Gây rối trật tự nơi công cộng 05 vụ với 12 đối tượng. III. An ninh – Quốc phòng Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, thế trận an ninh nhân dân thường xuyên được cổng cố, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, giữ vựng trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, tang cường công tác chỉ đạo tuyên truyền, vận động nhân dân trên địa bàn, tang cường công tác chỉ đạo tuyên truyền, vận động nhân dân đặc biệt là các trường hợp tranh chấp đất đai, khiếu kiện đúng người. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng năm 2011 như: Tuyển gọi công dân lên đường nhập ngũ 8 thanh niên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Mở lớp giáo dục quốc phòng cho đối tượng 5 với 53 người, làm tốt công tác dân quân tự vệ trong xã, duy trì chế độ sẵn sang chiến đấu, làm tốt công tác tuyển quân đợt 1 năm 2012, hướng dẫn các bản thường xuyên phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc. Công tác hòa giải ở các bản thường xuyên được củng cố và tổ chức hoạt động, đã phát huy những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần giữ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở thôn bản, năm 2011 đã tiến hành hòa giải 10 vụ thành công 3 vụ còn 7 vụ chuyển huyện xem xét giải quyết. IV. Tình hình phát triển phát triển cây cà phê tại xã Phổng Lái – Thuận Châu – Sơn La. Phổng Lái là một xã miền núi nằm ở phía Tây Bắc của huyện Thuận Châu với diện tích đất tự nhiên là 9181,1 ha, diện tích đất nông nghiệp là 5765,67 ha trong đó diện tích đất trồng cà phê ở giai đoạn kinh doanh là 104 ha và diện tích trồng cà phê mới trong hai năm gần đây là 541 ha, tổng diện tích trồng cà phê của xã là 158 ha. Trong đó diện tích cà phê toàn huyện trồng mới là 413 ha và diện tích cà phê giai đoạn kinh doanh trên 10000 ha. Vậy xã Phổng Lái chiếm trên 10% diện tích cà phê toàn huyện, với năng suất trung bình 60 tạ/ha, sản lượng 294,4 tạ trong năm 2011. Đất đai của Phổng Lái chủ yếu là đất đỏ vàng, đất nâu sẫm, có độ phì nhiêu lớn. Khí hậu ở đây có mùa đông lạnh, thỉnh thoảng có sương muối và gió lào.Tuy vậy nhưng cà phê rất thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, đó là thế mạnh để phát triển cây cà phê của xã đã và đang phát huy. Dân cư của xã tập trung không đồng đều và trình độ của người dân cũng khác nhau: các dân tộc thiểu số thì trình độ thâm canh thấp ngoài ra xã còn có khá đông dân cư từ các vùng miền xuôi lên định cư, và di dân thuỷ điện Sơn la nên khả năng tiếp thu kĩ thuật cũng khá nhanh. Do họ hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế hộ gia đình và xóa đói giảm nghèo. Kĩ thuật canh tác của người dân trong trồng cây cà phê cũng khác biệt giữa người dân bản địa và dân lên định cư. Các biện pháp canh tác như: tỉa cành, làm cỏ, bón phân, phòng trừ sâu bệnh với sự hướng dẫn của trạm cà phê xã Phổng Lái nhưng đặc biêt ở đây không có hệ thống tưới tiêu vì địa hình cao, hiếm nước và kỹ thuật canh tác còn thấp. Cà phê do người dân bản địa ở vùng sâu, vùng xa không chăm sóc nên năng suất kém. Ngoài ra tình hình sâu bệnh cũng rất cao đặc biệt là rệp đã làm giảm đáng kể năng suất và chất lượng cà phê. Vì vậy chúng tôi tiến hành: Điều tra thành phần sâu hại cà phê, đặc biệt đi sâu vào điều tra về rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L, loài này gây hại nặng làm cây sinh trưởng, hát triển kém: cành giòn, lá nhỏ, giảm năng suất đến 66% và ảnh hưởng đến năng suất cà phê các năm tiếp theo nếu không có biện pháp tiêu diệt sâu bệnh kịp thời. 4.2. Thàh phần sâu hại cà phêchè tại xã Phổng Lái huyện Thuận Châu – Sơn La. Điều tra để xác định các loài sâu hại trên cây cà phê chè và biết được mức độ, khả năng gây hại của từng loài trên cây cà phê chè tại xã Phỏng Lái các loài sâu đục thân, mọt, rệp…kết quả được ghi lại ở (bảng 4-1) Bảng 4-1: Thành phần sâu hại cà phê chè tại xã Phổng Lái huyện Thuận Châu - Sơn La. s stt Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Bộ Mức độ 1 rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L Coccidea Homoptera 2 Rệp sáp phấn Pseudococus mer Coccidea Homoptera 3 Mọt đục cành Xyleborus morstatii Scoly tidea Coleoptera 5 Sâu đục thân mình hồng Zeuzar coffea Nietner Coccidea Homoptera 6 Sâu ăn lá Hamaris Sihingdae lepidoptera 7 Sâu tiện vỏ s Quy ước: - 0% không xuất hiện +:1-5% xuất hiển rải rác + +: 6-15% xuất hiện nhiều ở mức trung bình + + +:16-30% xuất hiện ở mức phổ biến + + + +:>30% rất phổ biến Từ bảng 4-1 cho ta thấy sự xuất hiện của các loài sâu hại cà phê chè tại xã Phổng Lái, chúng xuất hiện với tần xuất khác nhau và mức gây hại của chúng cũng khác nhau, ở những thời kì khác nhau: + Mọt đục cành: chủ yếu gây hại ở cây thời kì kiến thiết cơ bản. + Rệp sáp phấn: xuất hiện ở mức trung bình nhưng nếu bị rệp sáp phấn gây hại rễ ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây còi cọc và dễ dẫn đến cây chết nên cần chú ý quan sát để tiêu diệt hoặc nhổ bỏ cây bị hại bởi rệp tiêu diệt để tránh lây lan. + Rệp sáp mềm nâu: xuất hiện ở mức phổ biến, nếu cây bị hại nặng sẽ làm cây còi cọc, cành khô giòn, làm giảm 66% năng suất, vì vậy phòng bằng việc làm cỏ, tỉa cành, tạo tán, trừ bằng việc dùng thiên địch khi mật độ rệp thấp, khi mật độ cao mới dùng thuốc hóa học Rogor 0,1% và pha cùng hợp chất nhựa thông kiềm tăng hiệu lực của thuốc. + Sâu ăn lá: nhón sâu ăn lá xuất hiện ở mức phổ biến nhưng ảnh hưởng của chúng đến sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất, chất lượng của cây cà phê không cao vì vậy chỉ cần dùng biện pháp canh tác, làm cỏ, tỉa cành là có thể hạn chế được sâu ăn lá. + Sâu đục thân mình hồng: chỉ xuất hiện ở mức phổ biến nhưng khả năng gây hại và ảnh hưởng đến cây là rất cao làm cho cành héo, cây gẫy và khả năng xâm nhập lan truyền rất cao, vì vậy khi xuất hiện ta phải chặt và tiêu diệt sâu ngay vì dùng thuốc hóa học khó tiêu diệt. + Mọt đục quả: đục vào trong quả, vào hạt làm cho quả chín non, lép, giảm năng suất, tuy tần suất xuất hiện chỉ ở mức rải rác nhưng cần có biện pháp để cây che bóng hợp lí vì mọt ưu những nương cà phê tráng nắng và cần dùng thuốc hóa học phun khi thấy xuất hiện mọt, nếu không chúng sẽ lây lan và làm giảm năng suất, chất lượng của cà phê, Ngoài ra phải thu dọn hết tàn dư cây, quả năm trước có mọt nếu không chúng tồn tại và gây hại nặng cho cà phê vào năm sau. + Sâu tiện vỏ là loài gây ở gốc và trên thân gây hại ở mức phổ biến. 4.1.3 Nhận xét chung + Câycà phê giúp người dân xã Phổng Lái huyện Thuận Châu - Sơn La tăng nguồn thu nhập nhưng các loài sâu hại đã phát sinh gây hại nặng làm giảm năng suất, chất lượng vì vậy cần phải theo dõi để có biện phát phòng trừ sớm. + Các loài sâu hại xuất hiện và gây hại trên cây cà phê chè tại xã Phổng Lái huyện Thuận Châu - Sơn La là: Sâu tiện vỏ, sâu ăn lá, mọt đục quả hại hạt, rệp sáp phấn, rệp sáp mềm nâu. Nhưng các loài: Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L và sâu đục thân mình hồng và sâu tiện vỏ xuất hiện với mật độ cao và khả năng gây hại và làm ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng cà phê. Các loài sâu ăn lá tuy xuất hiện với mật độ phổ biến nhưng khả năng gây hại và ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cà phê không lớn. 4.3. Những đặ điểm và tập tính của rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L Rệp sáp mềm nâu phát sinh 1 năm 3-4 lứa, chúng là loài ăn tạp gây hại trên nhiều loài cây trồng như: vạn tuế, mãng cầu xiêm. cỏ, trúc đào, vạn niên thanh, chè, cà phê, cam, quýt, tre trúc... phân bố và thích với điều kiện ở các vùng nhiệt đới, Á nhiệt đới. Sau khi trứng đẻ 2-3 ngày sau hoàn thành quá trình phát triển phôi thai và sự vạn động của rệp tạo áp lực phá vỡ vỏ trứng chui ra ngoài. Mới nở rệp có mầu trắng bóng trong suốt, thân hình ô van dài, có nhiều chân, râu đầu có 7-9 đốt, lỗ thở nhỏ, lưng có nhiều gai nhỏ,rệp non được ấp dưới bụng mẹ trong một lớp sáp sau 2-4 ngày bò đi và phân tán đến các lá, cành chồi non trên cây cà phê chè chủ yếu vì các bộ phận này mềm và chứa nhiều dinh dưỡng, rệp non ít có khả năng bò từ cây này sang cây khác mà phân tán từ cây này sang cây khác, chủ yếu là do gió, nước mưa và do kiến vì các loài kiến sống cộng sinh với rệp rát nhiều. Sau mấy ngày đầu phân tán, rệp non chọn vị trí cành bánh tẻ, lá non, chồi, chùm quả để cố định hút dinh dưỡng: rệp non dùng vòi để hút thức ăn, sau một thời gian chúng tiết sáp từ tuyến sáp tạo thành 4 đường kẻ ngang dưới bụng và càng lớn chúng chích và hút dinh dưỡng càng nhiều và tiết ra nhiều dịch ngọt đã làm hấp dẫn như: kiến đen nhỏ, kiến đen to, kiến gió, kiến vàng, nhưng kiến đen nhỏ là nhiều nhất, hầu như trên cây cà phê chè nào bị rệp đều xuất hiện kiến. Khi quần thể rệp tăng lên đến mức độ cao và điều kiện vườn cà phê chè rậm rạp và ẩm ướt thường xuất hiện muội đen dày đặc, chúng phủ lên lá cà phê làm giảm khả năng quang hợp của cây. Mầu sắc của rệp dần chuyển sang mầu nâu đen, khi trưởng thành rệp có mầu đen hoặc đen sẫm bóng và khi chuẩn bị đẻ rệp vận động nhỏ làm cho cơ thể hơi ngang so với cành cà phê đẻ bụng rệp kênh lên. Trứng đẻ thành từng đợt và được bọc trong lớp sáp bảo vệ ở dưới bụng rệp mẹ, sau 2-7 ngày trứng nở, rệp non mới nở cũng được ấp trong lớp sáp của bụng mẹ. Rệp mẹ đẻ hết trứng thì chết, bề mặt rệp chuyển sang nâu tối và nhăn. -Vị trí gây hại của rệp sáp mềm nâu trên cây cà phê + Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L gây hại và là kí chủ trên nhiều loại cây trồng, nhưng gây hại chủ yếu trên cây cà phê chè, còn các loại cây trồng khác chủ yếu là kí chủ phụ. Trên cây cà phê chè rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L gây hại trên các bộ phận chứa nhiều dinh dưỡng như: cành bánh tẻ, chồi, lá non, chùm quả non để trích hút dịch cây. Nếu bị gây hại nặng nó sẽ làm cây còi cọc, lá vàng, cành giòn và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây, vì vậy chúng làm ảnh hưởng đến năng suất của những năm tiếp theo của cây cà phê chè, nếu không phòng trừ hợp lí rệp sẽ chu chuyển trên cây cà phê qua đông và gây hại cho cây cho năm sau. Sự gây hại của rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L trên các bộ phận :cành , chồi, chùm quả được ghi ở (bảng 4 - 8) Bảng 4-8: Tỷ lệ cành, chồi chùm quả bị rệp hại qua các tháng điều tra Tháng điều tra Cành Chồi Chùm quả Cành điều tra Cành bị rệp Tỷ lệ cành bị rệp (%) Chồi điều tra Chồi điều tra Tỷ lệ chồi bị rệp (%) Chùm điều tra chùm điều tra Tỷ lệ chùm bị rệp (%) 1 2 3 Kết quả ở bảng 4-8 cho ta thấy rằng các tháng mùa hè nhiệt độ cao, độ ẩm cao, sự phân bố của rệp nhiều nhất ở cành bánh tẻ, sau đó đến chồi và sau cùng là chùm quả và tỉ lệ rệp cao nhất vào tháng 8 sau đó giảm dần do tháng 8 nhiệt độ và độ ẩm ở xã Phỏng Lái khá phù hợp với sự sinh trưởng và sinh sản của rệp. Đặc biệt là điều kiện nắng mưa xen kẽ làm cho sinh sản của rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L nhanh và mạnh, làm cho số lượng rệp tăng nhanh và gây hại của rệp cũng cao khi vườn ẩm ướt, nhiều cây che bóng, không tỉa cành, tạo tán và có sẵn nguồn rệp từ các năm phát sinh thành dịch. + Sự phân bố của rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L trên tầng tán của cây cà phê chè: Việc xác định rệp phân bố chủ yếu ở tầng tán nào trên cây cà phê sẽ biết được tỉ lệ rệp ở tầng tán khác nhau không và để có biện pháp kĩ thuật tác động thích hợp. Bằng việc tiến hành điều tra và kết quả được ghi ở (bảng 4-9) Bảng 4-9: Tỉ lệ rệp ( % ) ở các tầng tán khác nhau Vị trí điều tra Tỉ lệ rệp ( % ) Tầng gốc Tầng giữa Tầng ngọn 1 2 3 4 65 7 8 9 10 25 31.25 25 31.25 31.25 18.75 31,25 31.25 18.75 18.75 43.75 43.75 43.75 50 50 37.5 50 50 37.5 37.5 37.5 31.25 37.5 43.75 37.5 43.75 50 43.75 31,25 37.5 Trung bình 26.375 44.375 39.75 Kết quả ở bảng 4-9 cho ta thấy rằng: Tỉ lệ rệp trung bình ở các tầng tán; tầng gốc, tầng giữa, tầng ngon là khác nhau. Ta thấy tầng gốc có tỉ lệ rệp ở mức trung bình 26.375%, còn ở tầng giữa và tầng ngọn tỉ lệ rệp ở cành ở mức cao đặc biệt là tầng giữa có tỉ lệ rệp trung bình 44.375%. Sự phân bố rệp với tỉ lệ khác nhau ở các tầng tán khác nhau trên cây cà phê chè là do: Tầng giữa các cành bánh tẻ nhiều và các cành này có lượng dinh dưỡng cao, mật độ cành ở tầng giữa cũng cao tạo điều kiện thuận lợi cho rệp phát triển. Còn ở tầng gốc thường là những cành già, số lượng và hàm lượng dinh dưỡng thấp. Ở tầng ngọn có nhiều chồi non, lá non và cành bánh tẻ nhưng các cành ở tầng ngọn thường xuyên bị gió nên tỉ lệ rệp thấp hơn tầng giữa. 4.3.3 Diễn biến số lượng của rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L Số lượng của loài rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L biến động phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu: lượng thức ăn, điều kiện nhiệt, độ ẩm, gió, mưa, thiên địch, phòng trừ và các biện pháp canh tác tác động. vì vậy chúng tôi đã tiến hành điều tra và ghi lại kết quả ở (bảng 4-12) Bảng 4-12: Sự biến động tỉ lệ rệp và chỉ số rệp theo thời gian. Ngày điều tra Tỉ lệ rệp ( % ) Chỉ số rệp ( % ) 02/07/2008 12/07/2008 22/07/2008 02/08/2008 12/08/2008 22/08/2008 02/09/2008 12/09/2008 22/09/2008 2/10/2008 12/10/2008 22/10/2008 02/11/2008 12/11/2008 43.32 44.94 45.50 47.20 48.88 50.00 49.44 47.20 44.94 44.38 42.13 41.01 38.20 34.83 21.07 22.60 24.44 25.42 27.11 29.63 25.98 23.74 21.21 21.21 18.96 18.40 15.87 13.48 Biểu đồ 1. Diễn biến tỉ lệ rệp hại cà phê chè Biểu đồ 2: Diễn biến mức độ rệp hại cà phê chè Từ bảng 4-12 và biểu đồ 1, biểu đồ 2: đã cho ta thấy tỉ lệ rệp và chỉ số rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L ở xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu-Sơn La cao nhất vào thời điểm từ ngày 2 tháng 8 năm 2008 đến ngày 2 tháng 9 năm 2008. Do thời gian này có điều kiện nhiệt độ cao 21-350C, độ ẩm trung bình 89%, lượng mưa lớn: 267.5mm, trong đó tháng 7 lượng mưa chỉ đạt 90,5mm. Ngoài ra tháng 8 có điều kiện nắng mưa xen kẽ thuận lợi cho rệp sinh trưởng và sinh sản nên số lượng rệp tăng nhanh nên vào thời điểm này nhiều vườn đã bùng phát thành dịch và gây hại nặng, gây ảnh hưởng lớn đến năng xuất. Đến tháng 9, 10,11 nhiêt độ, độ ẩm và lượng mưa giảm nên tỉ lệ rệp và chỉ số rệp cũng giảm dần đặc biệt vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 điều kiện thời tiết nhiệt độ giảm mạnh làm cho tỷ rệp và chỉ số rệp giảm mạnh đặc biệt là đầu tháng 11 vì có nhiệt độ thấp (lạnh), lượng mưa giảm mạnh làm cho tỉ lệ rệp và chỉ số rệp giảm mạnh hơn tháng 9, 10. Vì vậy diễn biến của rệp hại trên cà phê chè tại xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu-Sơn La phụ thuộc rất nhiều điều kiện thời tiết như: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sang nên thường trong một năm thì các tháng mùa đông tháng 12, 1, 2 tỉ lệ rệp và chỉ số rệp hại trên cành, cây cà phê chè là rất thấp. Đến các tháng mùa hè đặc biệt là tháng 7, 8, 9 có điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao, lượng mưa lớn rệp sẽ phát sinh thành dịch. Từ việc nắm vững được diễn biến của rệp sẽ thuận tiện cho việc phòng trừ và dự tính, dự báo sự xuất hiện của rệp 4.3.4 Nhận xét chung + Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L gây hại trên nhiều loài cây trồng: cây ăn quả, cây cảnh, cây công nghiệp, cỏ dại. + Rệp sáp mềm nâu có nhiều loài thiên địch như: sâu ăn rệp sáp, bọ rùa, bọ bắt mồi có ý nghĩa trong việc hạn chế sự gia tăng của quần thể rệp. + Rệp sáp mềm nâu phát triển mạnh trong các tháng 7,8,9 vì có điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao và giảm dần vào các tháng mùa đông. 4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến số lượng rệp sáp mềm nâu 4.4.1 Tuổi cây khác nhau Ngoài các yếu tố khí hậu, thiên địch, các biện pháp kĩ thuật tác động thì chất lượng thức ăn do cây có độ tuổi khác nhau tạo ra cũng khác nhau. Để chứng minh ảnh hưởng của tuổi cây đến tỉ lệ và mức độ rệp bằng việc điều tra và ghi nhận kết quả ở bảng (4-13). Bảng 4-13: Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỉ lệ và mức độ rệp. Tuổi cây Tỉ lệ rệp ( % ) Chỉ số rệp ( % ) 1 2 3 4 29.14 41.50 38.99 32.45 19.13 23.94 23.05 17.36 Ở bảng 4-13 cho ta thấy cây bị rệp ở tuổi 1 có 29.14% số cành bị rệp, còn cây tuổi 2 có 41.5% số cành bị rệp, cây tuổi 3 là 38.99% và cây tuổi 4 là 32.45%. Điều đó chứng tỏ rằng cây tuổi 2, tuổi 3 có tỉ lệ loài rệp trên cành cao, ngoài ra chỉ số rệp cũng cao hơn hẳn cây tuổi 1 và tuổi 4. Vậy cây đang ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, bắt đầu tập trung nhiều dinh dưỡng để bắt đầu ra hoa thì rệp hại nhiều vì có nhiều dinh dưỡng cũng như chất lượng dinh dưỡng cũng cao hơn, ngoài ra lúc cây tuổi 2, tuổi 3 đang phát triển bộ tán thuận lợi cho việc phát tán rệp non nhờ gió và kiến. Cây tuổi 1 cành ít, hàm lượng dinh dưỡng thấp, ngoài ra khoảng cách giữa các cây thưa làm cho độ ẩm không cao, khi gặp mưa rệp dễ bị rửa trôi nên tỉ lệ và mức độ rệp thấp. Cây tuổi 4 đã có quả nên hàm lượng dinh dưỡng trên cành lá thấp do tập trung dinh dưỡng vào nuôi hát, quả vì vậy cành cằn cỗi nên tỉ lệ và mức độ rệp thấp hơn. 4.4.2 Ảnh hưởng của địa hình đến số lượng rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L + Các loại địa hình khác nhau làm cho vườn cà phê có độ dốc khác nhau, lượng ánh sáng và số giờ chiếu khác nhau tạo ra độ ẩm, thoáng khí và che khất khác nhau vì vậy sự khác nhau của các loại địa hình: nương bằng, nương dốc, nương thung lũng đến tỉ lệ và chỉ số rệp hại trên cà phê. Kết quả được ghi lại ở (bảng 4-14). Bảng 4-14: Ảnh hưởng của địa hình đến tỉ lệ rệp và mức độ rệp Loại nương Tỉ lệ rệp ( % ) Chỉ số rệp ( % ) Nương bằng 31.93 17.59 Nương thung lũng 41.17 25.24 Nương dốc 32.17 17.36 Utn= 3.13 Utn= 3.17 U0.05 =1.96 Kết quả ở bảng 4-14 cho thấy địa hình cũng ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ và chỉ số rệp hại trên các nương cà phê chè. Các nương ở thung lũng thường cây nhận được ít ánh sáng hơn do sự che khuất cây, đồi núi, vì vậy độ ẩm cao hơn thuận lợi cho rệp sinh trưởng, phát triển và sinh sản. Kết quả phân tích thống kê ở độ tin cậy 95% cho thấy nương bằng và nương dốc có tỉ lệ rệp và chỉ số rệp thấp hơn những nương nằm trong thung lũng là do chúng tráng nắng hơn, thoáng gió, độ ảm thấp, điều kiện ít thuận lợi nên rệp phát triển thấp hơn. Vì vậy muốn hạn chế được rệp hại ở các nương nằm trong thung lũng ta nên trồng thưa và phát quang hết cây trên đồi núi, xung quanh nương cà phê, ngoài ra biện pháp làm cỏ, tỉa cành, tạo tán cũng làm giảm độ ẩm trong nương cà phê, giảm sự sinh sản của rệp. + Ảnh hưởng của hướng vườn tới số lượng của rệp sáp mềm nâu: Khi ta chọn đất trồng cà phê chè và việc rệp hại cà phê, ta phải chọn đúng loại đất, địa hình phù hợp và các biện pháp canh tác phù hợp giúp ta giảm được tác hại của rệp và vịêc xác định hướng vườn qua việc điều tra được thể hiện ở bảng (4-15). Bảng 4-15 Ảnh hưởng của hướng vườn đến số lượng rệp sáp mềm nâu Hướng vườn Tỉ lệ rệp ( % ) Chỉ số rệp ( % ) Sườn Đông 36.60 21.94 Sườn Tây 31.90 16.35 Sườn Nam 37.52 21.98 Sườn Bắc 39.53 23.82 Utn= 2.7 Utn= 3.14 U0.05 =1.96 Kết quả thu được ở bảng 4-15 cho ta thấy ở các hướng sườn khác nhau cũng ảnh hưởng tới số lượng rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L gây hại trên cây cà phê chè. Ta thấy hướng sườn Tây có tỉ lệ rệp và chỉ số rệp thấp do ánh sáng từ trưa đến chiều gay gắt mà sườn Tây vào thời điểm này được nhiêuf ánh sáng vì vậy sẽ làm cho nhiệt độ tăng cao và độ ẩm thấp sẽ là điều kiện bất thuận lợi cho rệp phát triển nên tỉ lệ rệp và chỉ số rệp thấp hơn. Các vườn nằm về hướng sườn Đông, sườn Nam, sườn Bắc đặc biệt là sườn Bắc do sự che khuất ánh sáng nên số lượng giờ chiếu sáng trong ngày thấp đặc biệt là ánh sáng trực xạ nên làm cho độ ẩm cao, thuận lợi cho rệp phát sinh và gây hại nên tỉ lệ rệp và chỉ số rệp hại cao hơn. Nhưng qua bảng 4-15 cho ta thấy tỉ lệ rệp và chỉ số rệp giữa các vườn nằm ở hướng sườn khác nhau có sự sai khác nhưng không quá lớn. Vì vây trong việc nhận định yếu tố rệp hại và chọn vườn theo hướng cũng không ảnh hưởng lớn nên khi ta trồng cà phê chè mà nương hướng sườn Đông, Bắc, Nam ta khắc phục bằng biệ pháp trông mật độ thưa hơn, hướng trồng theo hướng đường đông mức và kết hợp các biện pháp kĩ thuật canh tác làm hạn chế được tỉ lệ rệp và chỉ số rệp. + Ảnh hưởng của nương nằm ở đỉnh đồi, chân đồi, giữa sườn đồi đến rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L : Khu vực nhiều đồi núi, các nương nằm trên đó có độ dốc cao thì ảnh hưởng của nó tới sự phát sinh và gây hại của rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum.L được ghi nhận ở (bảng 4-16). Bảng 4-16 Ảnh hưởng của nương ở đỉnh đồi, chân đồi và giữa đồi đến rệp Vị trí nương Tỉ lệ rệp ( % ) Chỉ số rệp ( % ) Đỉnh đồi 28.15 13.49 Giữa sườn đồi 30.03 18.00 Chân đồi 36.73 22.40 Utn= 3.04 Utn= 2.88 U0.05 =1.96 Kết quả thu được ở bảng 4-16 cho ta thấy tỉ lệ rệp và chỉ số rệp tăng dần từ nương nằm ở đỉnh đồi đến nương nằm ở chân đồi là do nương trên đỉnh có độ thoáng và các cây nhận được nhiều ánh sáng nên nhiệt độ cao và độ ẩm thấp làm cho rệp gặp điều kiện bất thuận lợi cho rệp phát triển. Còn nương ở chân đồi thường khuất ánh nắng và do bị rửa trôi, sói mòn cây tốt hơn làm cho hàm lượng dinh dưỡng ở cây nhiều hơn, nhoài ra các nương nằm ở chân đồi có độ ẩm cao hơn nên thuận lợi cho rệp sinh trưởng và sinh sản nhanh mạnh nên thường bị rệp gây hại nặng hơn. Vì vậy trong việc trồng cà phê ở các nư chân đồi cần trồng thưa và áp dụng các biện pháp canh tác, kĩ thuật: tỉa cành, làm cỏ. 4.4.3 Ảnh hưởng của chế độ canh tác đến số lượng rệp sáp mềm nâu + Ảnh hưởng của cây che bóng đến số lượng rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L: Việc điều tra, đánh giá các loại cây trồng xen che bóng trong vườn cà phê chè tại xã Phỏng Lái huyện Thuận Châu- Sơn La để đánh giá đúng sự ảnh hưởng đến số lượng rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L gây hại trên cà phê chè hay không để từ đó tiến hành điều tra 3 vườn có cây che bóng và 3 vườn cây không có cây che bóng từ đó tiến hành so sánh. Kết quả được ghi ỏ (bảng 4-17). Bảng 4-17 Ảnh hưởng của cây che bóng đến tỉ lệ và chỉ số rệp Lần điều tra Vườn điều tra Tỉ lệ rệp ( % ) Chỉ số rệp ( % ) Không che bóng Có che bóng Không che bóng Có che bóng Lần 1 1 38.33 48.39 24.58 31.45 2 28.07 29.63 22.80 17.60 3 27.69 56.76 15.38 26.35 Lần 2 4 38.46 30.77 18.08 17.70 5 17.81 44.74 16.78 29.28 6 25.86 33.93 14.22 22.32 Lần 3 7 24.14 33.87 11.64 19.35 8 43.75 28.17 26.56 16.90 9 28.13 41.94 15.23 25.80 Trung bình 31.57 39.175 17.84 22.98 Utn= 2.74 Utn= 2.19 U0.05 =1.96 Kết quả thu được ở bảng 4-17 khi phân tích thống kê ở độ tin cậy 95% cho ta thấy tỉ lệ rệp và chỉ số rệp ở các vườn cà phê chè có trồng cây che bóng cao hơn vườn không trồng cây che bóng. Tỉ lệ rệp ở các vườn cây che bóng dao động từ: 17.81% đến 43.75%, còn các vườn cây che bóng tỉ lệ rệp từ: 28.17% đến 56.76% và mức độ rệp ở vườn cây che bóng cũng cao hơn ở vườn cây không có cây che bóng ( thể hiện ở chỉ số rệp ) ở vườn cây che bóng chỉ số rệp dao động từ: 16.90% đến 31.45% còn ở vườn cây không có cây che bóng là: 11.64% đến 26.56%. Có sự chênh lệch về tỉ lệ rệp và chỉ số rệp này là do các vườn có cây che bóng sẽ hạn chế ánh sáng trực xạ tác động đến rệp và trong vườn có độ ẩm cao thích hợp cho rệp sinh trưởng và sinh sản, vì vậy tỉ lệ rệp và chỉ số rệp đều cao hơn. Tuy trồng các loại cây che bóng trong vườn sẽ mang lại thu nhập khác nhưng ta lại phải trồng với mật độ dày vì vậy ta có thể không nên trồng các cây che bóng hoặc trồng cây che bóng ở mật độ thưa thì sẽ làm giảm lượng rệp và làm tăng năng suất cà phê. + Ảnh hưởng của việc tỉa cành đến rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L: Để đánh giá chính xác việc tỉa cành và không tỉa cành có ảnh hưởng tới tỉ lệ rệp và mức độ rệp ở các vườn cà phê chè tại xã Phỏng Lái huyện Thuận Châu- Sơn La bằng việc điều tra 3 lần, mỗi lần 3 vườn cà phê chè có tỉa cành và không tỉa cành để so sánh. Kết quả ghi ở (bảng 4-18). Bảng 4-18 Ảnh hưởng của việc tỉa cành đến rệp sáp mềm nâu. Lần điều tra Vườn điều tra Tỉ lệ rệp ( % ) Chỉ số rệp ( % ) Có tỉa cành Không tỉa cành Có tỉa cành Không tỉa cành Lần 1 1 20.90 34.33 11.19 18.66 2 18.46 27.42 10.38 16.94 3 34.33 31,25 18.28 14.45 Lần 2 4 22.86 32.43 11.07 15.54 5 24,14 49.18 13.80 30.42 6 26.23 34.29 14.76 22.14 Lần 3 7 25.39 23.08 15.48 11.45 8 26.79 35.94 19.20 22.83 9 21.88 50 12.11 30.68 Trung bình 24.70 35.30 13.92 20.65 Utn= 4 Utn= 3 U0.05 =1.96 Kết quả ở bảng 4-18 cho ta thấy rằng: Ở các vườn có tỉa cành tỉ lệ rệp thấp hơn ở các vườn không tỉa cành: ở các vườn tỉa cành tỉ lệ rệp doa động từ : 18.46% đến 34.33% còn ở các vườn không tỉa cành dao động từ: 23.08% đến 49.18%. Qua phân tích thống kê ở độ tin cậy 95% sự khác nhau đó chúng ta thấy được tác động của việc tỉa cành thường xuyên ở vườn cây cà phê vào thời kì sau khi thu hoạch quả có tác dụng không chỉ làm cho tỉ lệ ra quả và đậu quả nhiều hơn vào các năm sau mà còn có tác dụng hạn chế sâu bệnh dặc biệt là rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L vì chúng ưu điều kiện rậm rạp và ẩm độ cao nên khi tỉa cành sẽ làm cho vườn thoáng khí và cây nhận được nhiều nhiều ánh sáng nên hạn chế được sinh sản , sinh trưởng của rệp. Ta thấy chỉ số rệp hay mức độ rệp trên các cành cây có tỉa cành thấp hơn, dao động từ: 11.07% đến 19.20%, còn ở các vườn không tỉa cành dao động từ: 11.45% đến 30.68% vì đầy là điều kiện thuận lợi cho rệp sinh sản mạnh và phân bố dễ dàng hơn trên các cành cây tỉa cành. 4.4.4 Nhận xét chung + Ở cây cà phê chè đang giai đoạn sinh trưởng mạnh tuổi 2, tuổi 3 đang trong thời kì tích lũy nhiều dinh dưỡng để chuẩn bị bước vào giai đoạn ra hoa kết quả thì có tỉ lệ rệp và mức độ rệp hại cao. + Trong cùng một vùng, cùng một thời điểm nhưng yếu tố tiểu khí hậu của từng vườn cũng ảnh hưởng đến sự phát sinh và gây hại của rệp đối với cây cà phê chè: vườn nằm ở chân đồi, vườn nằm trong các thung lũng, vườn nằm ở sườn Bắc, sườn Nam có tỉ lệ và mức độ rệp sáp cao hơn các vườn nằm ở đỉnh đồi, giữa sườn đồi, vườn nằm ở địa hình bằng phẳng và vườn nằm hướng sườn Tây. + Trồng cây xen vào vườn cà phê có tác dung tăng thêm thu nhập nhưng lại làm tăng sự phát triển của rệp. 4.2.4 Nhận xét chung Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L gây hại chủ yếu trên cành bánh tẻ, chồi non, ở chùm quả tỉ lệ rệp ít hơn. Trên 3 tầng tán: Tầng gốc, tầng giữa và tầng ngon thì tầng giữa rệp phân bố nhiều với mật độ cao, sau đó đến tầng ngon thì ít hơn. PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L gây hại nặng trên cà phê chè tại xã Phỏng Lái huyện Thuận Châu- Sơn La và trên tất cả các vùng trồng cà phê chè 2. Tỷ lệ cành bị rệp và mức độ rệp (tính theo chỉ số rệp) trên các nương cà phê nằm ở thung lũng cao hơn nương bằng, nương dốc, nương hướng sườn Tây thấp hơn các nương nằm ở sườn đồi Đông, Bắc, Nam; ở các cây tuổi 2, tuổi 3 có tỉ lệ cành và mức độ rệp ở cành nặng hơn. 3. Vườn cây ít tỉa cành, ít làm cỏ bị rệp hại nặng hơn các nương có tỉa cành, làm cỏ và chăm sóc. Vườn có cây che bóng cũng bị nặng hơn các vườn không trồng cây che bóng 4. Rệp sáp thường gây hại trên cành, thân, chồi vượt, chùm quả đặc biệt là ở cành bánh tẻ, lá non, chồi non là tập trung nhiều. 5. Chúng sinh trưởng và sinh sản mạnh ở điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ cao đặc biệt có nắng mưa xen kẽ thì sinh sản mạnh. Điều kiện thích hợp nhất vào các tháng 7,8,9 vì vậy rệp dễ bùng phát tạo thành dịch, sau đó giảm dần vào các tháng mùa đông. 6. Vòng đời của rệp: Khi tiến hành nuôi trong phòng thí nghiệm ở điều kiện nhiệt độ 250C và ẩm độ 85%, thời gian phát dục của pha trứng trung bình 4,03 ngày, vòng đời từ khi trứng nở đến khi rệp đẻ là 78.4 ngày. Thời gian sống của rệp trưởng thành là 19 ngày. 7. Khả năng sinh sản của rệp và hình thức sinh sản: Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum. L sinh sản theo hình thức đơn tính, khả năng sinh sản của rệp trung bình 140-150 trứng/rệp tỉ lệ nở của trứng rất cao 81. 5.2.Đềnghị 1. Kiểm tra thường xuyên để phát hiẹn kịp thời nhưng cây cỏ rệp, đặc biệt là vào các tháng 7,8,9 nếu không phát hiện rệp nhanh chóng thì rệp sẽ phát triển thành dịch. 2. Thường xuyên tỉa cành, tạo tán, làm cỏ, phát quang các cây dại xung quanh vườn cà phê. Hạn chế trồng cây che bóng, nếu trồng thì trồng ở mật độ thưa. 3. Nếu rệp chưa đến ngưỡng phòng trừ ta nên dùng biện pháp thiên địch như: bọ rùa, sâu ăn rệp sáp Eublemma amabilis moore. 4. Nếu mật độ rệp cao ta cần phải sử dụng các loại thuốc hóa học và phun trước khi rệp đẻ. 5. Tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các loại thuốc sinh học và kết hợp các biện pháp canh tác kĩ thuật giảm ô nhiễm môi trường và bảo vệ được các loài côn trùng, thiên địch có ích. PHẦN 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO Vũ Quang Giảng (2001), Nghiên cứu rệp sáp nâu Parasaisetia nigra (Nietner) hại cà phê và biện pháp phòng trừ bằng hóa học. Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Nguyễn Huy Phát ( 2000), Sâu hại cà phê và kẻ thù tự mhiên (côn trùng kí sinh, côn trùng và nhện bắt mồi ăn thịt) Sâu hại chính cà phê ở Buôn Ma Thuật, Đắc Lắc. Luận văn thạc sĩ khoa học Nông Nghiệp. Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội. Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm (2000), Kết quả nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp phòng trừ một số sâu hại quan trọng trên cà phê ở phias Bắc. Vũ Khắc Nhượng và Đoàn Triệu Nhạn (1989), Sâu bệnh và cỏ dại trên cà phê Viêt Nam. Trang 45-46. Trần Huy Thọ và CTV (1999), Thông báo kết quả sâu hại cà phê chè ở Sơn La. Viện Bảo Vệ Thực Vật (1999), Kết quả điều tra côn trùng và sâu bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam năm 1997-1998. NXB Nông Nghiệp Hà Nội. Tr 29. Chi cục bảo vệ thực vật Sơn La, Phương pháp điều tra Người hướng dẫn Kỹ sư Quàng Thị Vân Thảo Sơn La, ngày tháng năm 2012 Người thực hiện Cà Văn Thưởng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxbao_cao_thuc_tap_nhap__1274.docx
Luận văn liên quan