Đề tài Doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai

Luận văn dài 137 trang: Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Hệ thống hóa lý luận, thực tiễn về DN nông nghiệp trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. - Nêu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động các DN nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển bền vững loại DN này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DOANH NGHIỆP NÔNGNGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8 1.1. Doanh nghiệp nông nghiệp 8 1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp 23 1.3. Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao của một số địa phương 31 Ch­¬ng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY 39 2.1. Những tiềm năng và lợi thế của huyện Chư Sê trong phát triển nông nghiệp và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn 39 2.2. Đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê 58 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂNDOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ SÊ 78 3.1. Phương hướng phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê 78 3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê thời gian tới 88 KẾT LUẬN 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 PHỤ LỤC 124

doc130 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 05/06/2013 | Lượt xem: 2700 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
các cấp uỷ, sự phối hợp tuyên truyền của hệ thống chính trị và quản lý điều hành nhất quán, đồng bộ của UBND huyện, nhất là việc tham mưu một cách chính xác, khách quan và kịp thời của các thành viên Hội đồng bồi thường đất đai tài sản huyện. Thực tế từ những thành công trong việc thực hiện đền bù, di dời 23 làng đồng bào dân tộc thiểu số của một xã với gần 3.000 ha của 2.500 hộ, với trên 1.500 mồ mả để làm hồ chứa nước Ayun Hạ, xây dựng thuỷ điện Ayun Hạ và việc bồi thường, giải phóng mặt bằng hơn 300 ha đất nông nghiệp để xây dựng hồ chứa nước Ia Ring trên địa bàn huyện Chư Sê thời gian qua là bài học cần được coi trọng. Như vậy, để việc phân bổ sử dụng đất có hiệu quả, kích thích đầu tư của các chủ DNNN, cần kiện toàn bộ máy các cơ quan chức năng, bố trí cán bộ có tâm, đủ tầm, để chủ động tham mưu, đề xuất và quyết định đưa ra các giải pháp đồng bộ cả về kỹ thuật, kinh tế. Chống mọi hiện tượng tiêu cực trong phân bổ quyền sử dụng đất. Khắc phục tình trạng đã từng xảy ra ở Chư Sê vừa qua (một bộ phận cán bộ lợi dụng chức quyền tự ý sử dụng hoặc bán đất lấy tiền tiêu xài làm phá vỡ quy hoạch về đất như ở hai xã Ia Tiêm và Ia H’Lốp thời gian qua, khiến dư luận bất bình, người dân khiếu kiện khắp nơi, kéo dài). Coi trọng dân chủ, công khai trong phân bổ việc sử dụng nguồn đất không chỉ cho phát triển của các DNNN mà còn cho các hoạt động sản xuất và đời sống nói chung. Nguồn lực vốn cho doanh nghiệp nông nghiệp Vốn là nguồn lực rất quan trọng để các dự án đầu tư vào DNNN trở thành hiện thực. Có hai nguồn vốn chủ yếu: vốn tự có của chủ DN và vốn được thu hút, tài trợ từ bên ngoài DN, trong đó vốn tự có của DN có vai trò quyết định nhất. Tuy nhiên, nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài DN có tác dụng như là “cú huých” cho sự phát triển của DNNN. Bởi vì cũng như tình trạng chung của cả nước, các DNNN ở Chư Sê chủ yếu là DN vừa và nhỏ, thậm chí là rất nhỏ, nguồn vốn ít, nhưng nhu cầu về vốn đầu tư lại rất lớn. Do lượng vốn đầu tư thấp, nên hoạt động của các DNNN vẫn chưa tương xứng với tiềm năng cũng như vai trò của khu vực nông nghiệp, nông thôn cả trên phương diện xã hội (tỉ lệ dân số sống ở nông thôn) và kinh tế (tỉ lệ dân số lấy nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chính). Thêm vào đó, sản xuất nông nghiệp có nhiều rủi ro, thiên tai dịch bệnh và rủi ro thị trường. Tỷ suất lợi nhuận của các DNNN là thấp và mức độ rủi ro cũng tương đối cao. Nếu để DN tự tích lũy thì rất khó thực hiện các cơ hội đầu tư để phát triển của DN. Vả lại, hầu hết dân cư ở Chư Sê sống dựa vào nông nghiệp, hàng năm đóng góp 45-50% vào giá trị sản lượng trong huyện, nhưng đầu tư cho nông nghiệp chỉ khoảng 10% tổng vốn đầu tư của Nhà nước và 80% số đó lại tập trung vào thuỷ lợi và giao thông là chủ yếu. Trên thực tế, nhu cầu vay vốn để sản xuất của người nông dân ở huyện Chư Sê rất lớn. Lúc nào, họ cũng cần vốn để mua giống cây trồng, phân bón, thuốc trừ sâu… Đây chính là lý do khiến "tín dụng đen" phát triển mạnh tại địa bàn của huyện thời gian qua, trong khi hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài trợ về vốn lại chưa đáp ứng được nhiều. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động tín dụng nông nghiệp, nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Để tăng nguồn vốn đầu tư phát triển DNNN, ngoài việc phát huy nội lực từ DNNN, huyện cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tiếp nhận tài trợ từ bên ngoài DN, như tài trợ của Nhà nước, của các tổ chức tín dụng trong nước và của các tổ chức kinh tế, chính phủ nước ngoài. Đối với nguồn vốn trong huyện, trong tỉnh và trong nước, cần xây dựng mối quan hệ với nông dân cũng như với các DNNN trên nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, bạn đồng hành vì sự phát triển của DN, vì sự tiến bộ, giàu có của nông dân và sự phồn vinh của địa phương. Cần triển khai cơ chế mới có tính chất ưu đãi về cho vay vốn cho phát triển nông nghiệp kể cả đối với DNNN. Cơ chế mới phải đóng vai trò tạo thêm động lực cho hộ kinh doanh, chủ trang trại, hộ nông dân mở rộng sản xuất kinh doanh. Coi chính sách tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với dự phát triển của DNNN. Hiện nay, thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được coi là một ưu tiên lớn của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế. Đã có nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được đi vào cuộc sống. Đặc biệt là Nghị định 41/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của nông dân và cư dân sống ở nông thôn. Theo Nghị định này, kể từ ngày 1/6/2010, cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có thể được xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa đến 50 triệu đồng. Cũng với hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn được xem xét cho vay tối đa đến 200 triệu đồng; hợp tác xã, chủ trang trại được xem xét cho vay tối đa đến 500 triệu đồng. Ngoài ra, tổ chức tín dụng sẽ cho vay tín chấp đối với các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình trên cơ sở có bảo đảm của các tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn. Mục tiêu của Nghị định này nhằm đạt được: (1) Tạo cơ chế phù hợp để các tổ chức tín dụng chuyển vốn nhiều hơn về cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo cơ chế cho vay thương mại với lãi suất phù hợp. (2) Có chính sách để khách hàng dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng, thông qua việc đơn giản hoá thủ tục, giảm bớt những điều kiện kém lợi thế cho khách hàng… và có chính sách hỗ trợ nông dân khi gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng. Đối tượng cho vay theo Nghị định này là tổ chức, cá nhân được vay vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tronglĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Mới đây, ngày 29/9/2010, Ngân hàng Nhà nước còn ban hành Thông tư số 20/2010/TT-NHNN về hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, Nhà nước thực hiện hỗ trợ nguồn vốn cho vay đối với nông nghiệp, nông thôn của các tổ chức tín dụng (trừ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở) thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, trong đó có việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng nội tệ thấp hơn so với mức tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường và áp dụng kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 10/2010. Cụ thể, đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 70% trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng nội tệ bằng 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi; đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 40% đến dưới 70%, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng nội tệ bằng 1/5 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi. Ngoài ra, Nhà nước còn dành lượng tiền cung ứng hàng năm để tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn phù hợp với mục tiêu, biện pháp điều hành chính sách tiền tệ. Các khoản cho vay tái cấp vốn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đây là những chính sách ưu đãi nhằm tài trợ cho phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn và sẽ tạo điều kiện để các chủ kinh tế này không có hoặc có rất ít tài sản thế chấp có cơ hội tiếp cận và được vay vốn tín dụng nhà nước. Tuy Nhà nước đã mở rộng việc tài trợ nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn (trong đó có cả DNNN) như vậy, nhưng các cơ quan có chức năng của huyện cũng cần có những thông tin rộng rãi và hướng dẫn để các DNNN được dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng tài trợ của những chính sách này. Nhà nước cũng đã có Quyết định hỗ trợ lãi suất để các hộ nông dân mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp. Song, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tài trợ này. Đó là, đối tượng được thụ hưởng tài trợ chỉ khi mua máy và vật tư sản xuất trong nước, nhưng giá bán của hàng trong nước lại không cạnh tranh nổi với giá của hàng Trung Quốc và thủ tục để được tài trợ phải qua nhiều bước giải ngân khiến cho người làm nông nghiệp ngại vay vì tâm lý phải đi lại nhiều. Đây cũng là một bài học về cần bảo đảm tính hiện thực khi có chủ trương tài trợ vốn cho phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để có thể tìm ra các hình thức tài trợ mới cho DNNN. Ví dụ: hình thành các tổ vay vốn tại các thôn, xã, bản, làng mà người vay vốn là thành viên của các tổ chức của Hội nông dân, Hợp tác xã hoặc Hội doanh nghiệp có sự giúp đỡ của UBND địa phương, hiệp hội ngành hàng, nhằm tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong quá trình vay vốn, trả nợ và hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao tính cộng đồng, tương trợ. Do địa bàn huyện Chư Sê có tỷ lệ người dân tộc thiểu số tương đối cao, nên giải quyết cho vay vốn phát triển DNNN không chỉ đơn thuần vì bản thân sự phát triển của DN, mà phải coi trọng mục tiêu tạo việc làm, thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số và bảo đảm sự ổn định kinh tế, xã hội trên địa bàn, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Vì thế, huyện và tỉnh cũng phải có những đề xuất về một chế độ ưu tiên đặc thù về nguồn vốn cho DNNN trên địa bàn, chẳng hạn như thực hiện Nghị định 231/CP của Chính phủ… Ngoài những nguồn tín dụng và tài trợ trong nước, cần nghiên cứu tìm hiểu để các DNNN tiếp cận được với các nguồn cho vay tín dụng ưu đãi của nước ngoài, nhất là của các định chế tài chính quốc tế. Chẳng hạn, năm 2008, 8 tỉnh miền Trung nước ta đã tiếp cận được với khoản tín dụng trị giá 59,8 triệu USD từ dự án của Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) của Ngân hàng Thế giới (WB) cho các nước có thu nhập thấp được sử dụng cho việc tăng cường tính cạnh tranh cho ngành nông nghiệp. Các hoạt động cụ thể của dự án nhằm tăng cường tính cạnh tranh của các nông trại và nông hộ nhỏ có kết hợp với các DNNN. Dự án tăng cường khả năng tiếp thị cho các nông hộ và nông trại, thông qua việc cung cấp công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho nông nghiệp và khuyến khích kết nối giữa các tổ chức nông dân và DN. Tuy tỉnh Gia Lai cũng nằm trong địa bàn nhận sự tài trợ của dự án này, nhưng các DN thiếu vốn đối ứng và việc phê duyệt kế hoạch và dự án chậm và kéo dài, nên rất khó được triển khai. Từ thực tế này, để thu hút và sử dụng được các nguồn vốn từ bên ngoài (nhất là vốn tài trợ của nước ngoài), cần có cơ chế phân cấp việc phê duyệt kế hoạch và dự án. Cấp tỉnh phê duyệt các dự án, kế hoạch lớn mang tính tổng thể; còn các dự án, chương trình đầu tư nhỏ nên giao thẩm quyền xem xét, thẩm định phê duyệt cho các sở, ngành liên quan. Gắn với việc tổ chức thực hiện dự án, rất cần người có năng lực chuyên môn. Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu chính sách kêu gọi một số DN liên doanh và các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Sự tham gia của các công ty nước ngoài không chỉ là sự thu hút vốn đầu tư cho nông nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh để các DNNN nước ta từng bước hội nhập vào thị trường thế giới, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển các ngành như cà phê, chăn nuôi gia súc và thuỷ sản. Thực tế ở nước ta từ trước đến nay, vẫn chưa có cơ chế lựa chọn đề xuất các dự án FDI ưu tiên trong ngành, khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà với dự án đầu tư trực tiếp vào khu vực nông nghiệp. Để thu hút vốn vào phát triển nông nghiệp, ở cấp vĩ mô, Nhà nước cần tổ chức một số đoàn kêu gọi xúc tiến đầu tư tại một số nước có trình độ cao về nông nghiệp như Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Xây dựng lộ trình thu hút đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp. Theo đó, mục tiêu đầu tư và cơ chế hỗ trợ sẽ tập trung ưu đãi các DN đầu tư vào các chương trình trọng điểm như phát triển công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; áp dụng công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị, an toàn vệ sinh của sản phẩm sau thu hoạch… Việc mở rộng và tạo điều kiện cho các DNNN, chủ trang trại, hợp tác xã, hộ kinh doanh, hộ gia đình vay vốn để sản xuất sẽ có tác dụng tạo nguồn lực về vốn, tăng quy mô hoạt động của DN và sẽ tác động tích cực tới việc củng cố và mở rộng các sản phẩm xuất khẩu hiện có (như hồ tiêu, cà phê, cao su...), đồng thời mở rộng thêm các sản phẩm có thế mạnh khác của huyện Chư Sê. Tuy nhiên, để thu hút nhiều nguồn vốn cho phát triển DNNN, một trong những đòi hỏi thiết yếu là các DN phải biết sử dụng các nguồn vốn đó có hiệu quả, DN phải thật sự phát triển bền vững. Nguồn lực công nghệ cho doanh nghiệp nông nghiệp Có hai lợi thế để tạo sức cạnh tranh cho một DNNN, đó là lợi thế do tự nhiên ban tặng (đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết và vị trí sản xuất) và lợi thế được tạo ra bởi con người (lựa chọn hàng và công nghệ sản xuất kinh doanh). Tuy sản xuất nông nghiệp không thể thiếu được lợi thế về tự nhiên, nhưng lợi thế do con người tạo ra ngày càng trở nên quan trọng hơn. Thế nhưng, trong nhiều năm qua không chỉ ở huyện Chư Sê mà còn cả nước nói chung mới chủ yếu sản xuất theo kiểu “quảng canh”. Tuy đã có chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay, nhưng chúng ta vẫn “bỏ ngỏ” việc xây dựng các DNNN công nghệ cao. Nhu cầu thực tế bức thiết hiện nay của ngành nông nghiệp là phát triển trong quy trình công nghệ hiện đại, đặc biệt đối với các DNNN vì đây là lực lượng cực kỳ quan trọng mà lâu nay chưa được quan tâm, hỗ trợ đúng mức. Nếu không như vậy, thì không thể có sự tăng trưởng nông nghiệp ở mức cao, sản xuất kém hiệu quả và thiếu bền vững. Gần đây, một số địa phương nhất là ở các thành phố lớn, đã chú ý nhiều hơn đến phát triển loại DN này. Đây là hướng đi tốt, cần được phát triển ở nhiều địa phương khác, trong đó có huyện Chư Sê. Nghị quyết Đại hội VIII của đảng bộ huyện Chư Sê mới đây xác định áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp, nông thôn. Đây là sự cụ thể hóa đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng. Trong thời gian tới, cần có những chương trình phát triển khoa học và công nghệ để cụ thể hóa hơn nữa và đưa vào tổ chức thực tiễn phát triển các tổ chức kinh doanh trong nông nghiệp, trong đó có cả DNNN. Cụ thể là: - Đặc biệt coi trọng các biện pháp thâm canh trong sản xuất nông nghiệp. Đưa nhanh các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nhất là các sản phẩm mà Chư Sê có thế mạnh như trồng cao su, hồ tiêu, chăn nuôi bò đàn. Hoàn thiện quy trình sản xuất thu hoạch, sơ chế và bảo quản tại DN phù hợp với điều kiện sinh thái của địa bàn bảo đảm cho năng suất cao, chất lượng tốt đảm bảo an toàn về vệ sinh thực phẩm và phát triển bền vững. Các DN cần kết hợp với các cơ sở giống của huyện và tỉnh trong việc xây dựng các cơ sở ươm, tạo giống; thực hiện việc chọn lọc, phụ trách để có đủ giống tốt, giống sạch bệnh, kịp thời đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp cả trồng trọt và chăn nuôi. DNNN cần phối kết hợp với các tổ chức khoa học, công nghệ trong việc nghiên cứu, lựa chọn việc chăm sóc, bón phân… sao cho việc sử dụng công nghệ mới có hiệu quả, hạn chế việc lạm dụng phân bón và các chất hoá học gây nguy hại đến chất lượng nông sản và sức khỏe của con người. Chú trọng nghiên cứu để phát triển các DNNN công nghệ cao. Công nghệ cao là một phạm trù dùng để chỉ một loại công nghệ (technology) hay một kỹ thuật (technique) hiện đại, tiến tiến được áp dụng vào quy trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng cao, hạ giá thành. Ngày nay, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một xu thế tất yếu của nền nông nghiệp nhằm sản xuất các mặt hàng nông sản đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm với số lượng lớn cũng như tạo việc làm và thu nhập cao cho người nông dân. Nước ta tuy đã có một nền nông nghiệp đa dạng, phong phú bởi điều kiện tự nhiên thuận lợi, được biểu hiện qua sự phân bố lãnh thổ nông nghiệp, nhưng diện tích đất canh tác trên đầu người ngày càng có xu hướng giảm mạnh do sử dụng đất cho phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ. Phương thức sản xuất còn lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún. Vì thế, muốn tăng năng suất, chất lượng sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, biện pháp tối ưu là áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Mấy năm qua, Chính phủ và Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đă tiến hành thiết lập một số khu nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với điều kiện kinh tế và điều kiện nhân lực ở Việt Nam. Bên cạnh đó, ở một số địa phương hay doanh nghiệp đã tự thành lập các mô hình nông nghiệp công nghệ cao và đã thu được một số kết quả ban đầu đáng khích lệ và đã có một số mô hình sản xuất rất thành công theo hướng này (đã trình bày ở 1.3). Huyện Chư Sê cũng cần nghiên cứu kinh nghiệm các địa phương khác, sớm tổ chức được những DNNN công nghệ cao hoạt động ngay trên địa bàn. Nhiệm vụ của loại DN này là nghiên cứu, xây dựng, triển khai và hoàn thiện công nghệ (nghiên cứu thích nghi, cải tiến công nghệ, quy trình sản xuất, nghiên cứu sử dụng, sản xuất chế phẩm sinh học có sử dụng kỹ thuật cao, …) lai tạo và thử nghiệm giống mới, trình diễn các mô hình sản xuất không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của bản thân DNNN mà còn nhằm nhân rộng phương thức sản xuất này trên địa bàn. Đồng thời, qua kinh nghiệm của một số địa phương, huyện Chư Sê cũng cần kết hợp với các cơ sở khoa học – công nghệ của tỉnh… nghiên cứu để xây dựng Trung tâm ươm tạo DNNN công nghệ cao. Trung tâm này có nhiệm vụ tuyển chọn và hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân có các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, có ý tưởng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp và có dự án kinh doanh khả thi nhằm phát triển thành các doanh nghiệp công nghệ; tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường, có khả năng kinh doanh hiệu quả đáp ứng yêu cầu của thị trường khi ra khỏi Trung tâm ươm tạo. Trung tâm này còn có nhiệm vụ liên kết, phối hợp các tổ chức tài chính, tổ chức khoa học –công nghệ, các cán bộ khoa học kỹ thuật, nhà quản lý có khả năng và kinh nghiệm trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, luật pháp, kế toán, công nghệ, đào tạo… nhằm giúp các DNNN hoàn chỉnh sản phẩm công nghệ, phát triển kinh doanh. Cùng với việc nâng cao trình độ khoa học và công nghệ cho DNNN, cần coi trọng phát triển các DN trong công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm như chế biến mủ cao su, chế biến hồ tiêu, chế biến cà phê rang xay, chế biến thức ăn gia súc, chế biến mật ong, chế biến súc sản, đồ hộp… Vì đây là những cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho các DNNN, phục vụ cho quá trình tái sản xuất của DNNN. Hiện  nay, trên địa bàn tỉnh có 8 nhà máy chế biến mủ cao su Crếp, công suất 50.000 tấn; trên 60 cơ sở chế biến cà phê; 2 nhà máy chế biến hạt điều xuất khẩu, công suất 2.500 tấn/năm; 3 nhà máy chế biến chè, công suất 80 tấn/năm; 1 nhà máy chế biến gỗ MDF công suất 54.000m3/năm; hàng chục nhà máy chế biến gỗ tinh chế xuất khẩu, công suất hơn 25.000 m3/năm;  2 nhà máy chế biến đường, công suất 4.000 tấn mía cây/ngày; 4 nhà máy chế biến tinh bột sắn, công suất 70.000tấn/năm, 1 nhà máy chế biến tiêu sạch 5.000 tấn/năm, 1 nhà máy cán bông, công suất 15.000 tấn/năm. Những cơ sở này đã đáp ứng được một phần việc tiêu thụ hàng nông sản của huyện Chư Sê. Tuy nhiên, do tiềm năng nông nghiệp trên địa bàn huyện còn lớn, lại chuyển hướng phát triển theo chiều sâu, nên cần coi trọng việc mở rộng công suất và xây dựng mới các nhà máy chế biến để tiêu thụ nông sản. Cần tăng cường mối liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học bằng cách đưa những đề tài nghiên cứu nông nghiệp về nông thôn. Trên cơ sở đó, đem kết quả nghiên cứu giới thiệu rộng rãi ngoài xã hội, kích thích tính sáng tạo của các chủ DN và người làm nông. Để giải pháp này thành hiện thực, cần kêu gọi đầu tư cơ sở hạ tầng đi vào vùng nguyên liệu, xây dựng mạng lưới thu mua chế biến hợp lý, hệ thống kho tàng, hệ thống kiểm tra giám sát chất lượng bảo quản sản phẩm tại cơ sở để đảm bảo chất lượng tốt nhất. Kêu gọi đầu tư thêm nhà máy chế biến Hồ tiêu công suất 10.000 tấn/ năm tại huyện, chỉ đạo thúc đẩy tăng cường liên kết giữa nhà nông và nhà máy để nhà máy đầu tư vào vùng nguyên liệu; xây dựng chiến lược sản xuất, chế biến và thương mại hợp lý để tham gia điều tiết thị trường thế giới đảm bảo có lợi nhất cho người trồng hồ tiêu. Nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nông nghiệp Nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quyết định nhất đến tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia nói chung, một địa phương nói riêng. Điều này vẫn đúng trong phát triển DNNN. Phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi phải quan tâm trên cả hai khía cạnh số lượng và chất lượng người lao động. Trong thời đại của cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực phải được đặc biệt coi trọng. Hiện nay, quy mô số dân huyện Chư Sê là 105.138 người với 23.748 hộ. Dự báo đến năm 2015, quy mô dân số toàn huyện là 119.500 người, hàng năm phải giải quyết việc làm cho khoảng 2.500 lao động, trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số. Từ thực tế nguồn nhân lực hiện có của huyện và yêu cầu phát triển DNNN trên địa bàn, giải pháp cho việc tạo nguồn nhân lực cho DNNN là: - Khẩn trương qui hoạch nguồn nhân lực địa phương, đảm bảo sự cân đối hài hòa với việc khai thác sử dụng tài nguyên là khai thác tối đa nguồn nhân lực tại chỗ, ưu tiên sử dụng nhân lực là người dân tộc thiểu số không chỉ đơn thuần vì mục tiêu việc làm và thu nhập của người lao động mà còn gắn với bảo đảm trật tự, ổn định xã hội. Vì Tây Nguyên nói chung, Chư Sê nói riêng là một vùng đất nhạy cảm, cần có những hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước. Đánh giá đúng chất lượng của người lao động để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đúng công việc; đồng thời có phương án phối kết hợp với các cơ sở đào tạo trong huyện, trong tỉnh… để tổ chức các hình thức đào tạo, bồi dưỡng thích hợp về kiến thức sản xuất, canh tác, nuôi trồng, chăm sóc và thu hoạch nông sản cho người lao động. Việc đào tạo nhân lực phải được tiến hành thường xuyên, nhiều khóa học để đại đa số người lao động nông nghiệp được tiếp cận với những phương thức canh tác và kinh doanh mới. Áp dụng nhiều hình thức phổ biến kiến thức cho nông dân như trao đổi, phổ biến kinh nghiệm, trình diễn cách làm mới, tổ chức câu lạc bộ hoặc nhóm cùng lứa tuổi, cùng giới… để phổ biến và trao đổi kinh nghiệm sản xuất. Phương thức tổ chức đào tạo có thể kết hợp giữa người lao động, DN và Nhà nước. Áp dụng và giám định các định mức lao động để đánh giá kết quả của người lao động, phân phối thu nhập và giáo dục tính kỷ luật, tác phong kinh doanh. Tổ chức các phong trào thi đua có trao phần thưởng để khuyến khích những người lao động năng động, sáng tạo, biết tìm đến kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới. Tổ chức thi các ý tưởng sản xuất kinh doanh dưới hình thức nhà nông làm kinh tế giỏi để phổ biến và nhân rộng kinh nghiệm sáng tạo trong nông nghiệp của người lao động. Tại Chư Sê, việc tổ chức như vậy sẽ có tác dụng rất lớn trong việc để các DN có được những người có hiểu biết về canh tác, thâm canh, hướng việc sản xuất vào tiêu thức năng suất, chất lượng và hiệu quả. Có chính sách khen thưởng, kỷ luật một cách rõ ràng và công bằng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của người lao động như đã được tổ chức có kết quả tốt ở Nông trường cà phê Ia Pát (thuộc công ty cà phê Gia Lai) thời gian qua. Tất nhiên, vẫn phải có chính sách ưu tiên đối với lao động là người dân tộc thiểu số trong áp dụng những định mức lao động thấp hơn để thu hút họ vào làm việc tại các DNNN. Việc ưu tiên này không những không dẫn đến tính bất ổn trong DN mà ngược lại còn làm cho hoạt động của nội bộ DN và trong xã hội được ổn định tốt hơn. Có cơ chế để những lao động trẻ được đi đào tạo ở các trường lớp chính quy. Nhà nước và DN cần đưa ra và áp dụng cơ chế hỗ trợ tài chính theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số để họ được đi đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật canh tác. Đồng thời, mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo chủ trương đưa cán bộ trẻ về làm việc nông thôn. Khuyến khích thành lập và phát triển các DNNN công nghệ cao trong đó giới trẻ là những người khởi sự và lãnh đạo DN. Có kế hoạch tổ chức trao đổi kinh nghiệm thường xuyên giữa các chủ và người quản lý các DNNN trên địa bàn huyện hoặc trong tỉnh và với tỉnh bạn để phổ biến kiến thức kinh nghiệm cho nhau. Hàng năm, tổ chức để các chủ DN và các nhà khởi sự DN được tiếp cận với các tri thức về lập dự án, tổ chức đầu tư và có thể tổ chức đi tham quan học hỏi các DNNN ở các địa phương khác. Trong vấn đề này, Trung Quốc đã áp dụng phong trào “đốm lửa” để những người nông dân và nhà quản lý sản xuất nông nghiệp có cơ hội gặp và phổ biến kinh nghiệm cho nhau, qua đó nhân rộng mô hình điển hình tiên tiến. 3.2.3. Nâng cao vai trò của Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp nông nghiệp Môi trường cho hoạt động của DNNN là toàn bộ những điều kiện về pháp lý, chính sách và thể chế để các chủ DN tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong quá trình đổi mới vừa qua, môi trường kinh doanh của huyện Chư Sê cũng như các địa phương khác ở nước ta đã có nhiều biến đổi theo hướng thị trường, người dân ngày càng tự chủ hơn trong việc lựa chọn việc sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Đó là những tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề nếu không được tiếp tục hoàn thiện thì sẽ cản trở sự phát triển của DN. Theo chủ trương mới, Chính phủ có đưa ra 6 biện pháp lớn nhằm hỗ trợ cho nhóm DN nhỏ và vừa đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn bao gồm: (1) Hướng dẫn xây dựng kế hoạch, chương trình trợ giúp phát triển DN; (2) Tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng và huy động các nguồn lực hỗ trợ tài chính cho DN; (3) Tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất; (4) Hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DN; (5) Đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho DN; và (6) Xây dựng và củng cố hệ thống trợ giúp phát triển DN. Đây là những nội dung quan trọng của Chính phủ nhằm hỗ trợ loại DN này, trong đó có DNNN. Là một huyện miền núi Tây Nguyên, huyện Chư Sê không thể phát triển nhanh các DNNN như các huyện ngoại thành và đồng bằng nếu không coi trọng vai trò kinh tế của Nhà nước. Kinh nghiệm của các địa phương khác về phát triển DNNN cũng cho thấy điều đó. Vì vậy, vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển DNNN trên địa bàn huyện Chư Sê có vai trò rất quan trọng. Vai trò đó được thể hiện thông qua việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước và tạo lập môi trường thể chế cho hoạt động của DN. Trong thời gian tới, để thúc đẩy sự phát triển nhanh và đúng hướng của các DNNN trên địa bàn, cần phải tiến hành tổng kết lại những kinh nghiệm đã có trong việc vận dụng cơ chế chính sách của Nhà nước và của tỉnh, rà soát lại những quy định về pháp luật trong việc tạo môi trường và điều kiện cho DNNN trên địa bàn để bổ sung, điều chỉnh. Trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với DNNN đã ban hành. Chủ yếu là: Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế bỏ vốn vào phát triển DNNN. Để phát huy tối đa nguồn vốn này, vấn đề cấp bách đối với huyện Chư Sê hiện nay là phải sớm giải quyết xong việc cấp đất và quyền sử dụng đất đối với các hộ gia đình, tư nhân và DN. Cần có những quy định về thuế, tiền thuê đất cho mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nhất là vào vùng sâu, vùng xa để khuyến khích đầu tư. Hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm phát triển kinh tế trang trại; xây dựng và nhân rộng mô hình liên kết "4 nhà" trong phát triển DNNN; quan tâm giữ rừng, bảo vệ rừng, có cơ chế, chính sách phù hợp để người dân bảo vệ, quản lý rừng được hưởng lợi thoả đáng từ rừng, không để cho dân "giữ kho vàng mà lại nghèo". Cùng với chính sách kích thích nguồn vốn trong nhân dân, Nhà nước cần sử dụng ngân sách để hoàn thiện môi trường đầu tư, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn cho phát triển DNNN. Trong điều kiện nước ta thực hiện các cam kết khi tham gia WTO, đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp cần được xác định rõ hướng ưu tiên vốn từ ngân sách, lựa chọn một số khâu trọng yếu, tập trung đầu tư đủ mạnh để tạo ra sự chuyển biến về chất lượng, tạo lợi thế cạnh tranh cho DNNN. Theo hướng này, Nhà nước nên tập trung đầu tư cho các yếu tố đầu vào của sản xuất như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và nhằm hạn chế tổn thất sau thu hoạch, giảm chi phí vận chuyển, phát huy lợi thế, nâng cao khả năng cạnh tranh về hàng nông sản của các DN. Như vậy có nghĩa là chính sách đầu tư của Nhà nước phải chuyển từ trợ cấp trực tiếp cho nông nghiệp sang đầu tư nâng cao năng lực sản xuất của các DN hoạt động trong khu vực này. Cần sử dụng chính sách thuế như là một công cụ để phát triển DNNN. Trong thời gian tới, cần củng cố, mở rộng và áp dụng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ đối với các DNNN. Tăng cường các thủ tục kê khai, tính thuế, lập hồ sơ miễn, giảm thuế. Mở rộng diện nộp thuế theo hình thức kê khai thay cho hình thức thuế khoán theo phương thức giảm bớt phiền hà cho người kinh doanh và chống thất thu thuế. Xem xét để giảm thuế thu nhập DN đối với các DN hoạt động trong nông nghiệp, nông thôn nói chung. Tiếp tục giảm và miễn thuế sử dụng đất đối với các chủ kinh doanh nông nghiệp. Nghiên cứu để tiến tới đơn giản hóa các biện pháp thu thuế, cách tính thuế thu nhập cá nhân đối với các chủ kinh doanh nông nghiệp theo hướng mở rộng khoảng cách chênh lệch về thu nhập chịu thuế ở các mức thuế suất khác nhau. Phát triển các dịch vụ tư vấn thuế, kế toán thuế, cung cấp các dịch vụ về thuế tạo thuận lợi cho DN. Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận các nguồn tài chính trên thị trường, cần thực hiện nguyên tắc bình đẳng về chính sách tài chính, tín dụng. Các DNNN dù là của Nhà nước hay của các thành phần kinh tế khác đều được dùng giá trị quyền sử dụng đất vào việc thế chấp để vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng, hoặc góp cổ phần liên doanh với các DN khác. - Giải pháp và chính sách về thị trường, giá cả đảm bảo tốt lưu thông sản phẩm trong và ngoài huyện. Phải coi thị trường (kể cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra) là một thể chế quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất và tái sản xuất của DNNN. Ở địa bàn huyện Chư Sê hiện nay, do là một địa hình có nhiều phức tạp, thông tin về thị trường hạn chế, nên việc giao lưu sản phẩm còn có nhiều khó khăn đã đẩy nhà sản xuất vào thế bất lợi vì mua đắt, bán rẻ. Thị trường còn nhiều yếu tố tự phát bởi chủ yếu là hoạt động của tư thương, kinh doanh nhỏ lẻ theo kiểu “ mì ăn liền ”, “ đánh quả ”... Điều này gây cản trở sự phát triển sản xuất của nhà nông nói chung, DNNN nói riêng. Để hỗ trợ cho phát triển của các DNNN, nhà nước cần hoàn thiện các chính sách nhằm phát triển đồng bộ các loại thị trường, Ngoài việc phát triển các tụ điểm thương nghiệp liên thôn, liên xã, cần chú trọng hình thành các chợ nông thôn miền núi; mở rộng thị trường ra các địa bàn trong tỉnh, trong vùng, trong nước và thị trường quốc tế. Trong thời gian qua, trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện đã đề ra giải pháp chiến lược về thị trường như phải coi trọng cả thị trường hướng nội và thị trường hướng ngoại. Các tỉnh duyên hải miền Trung và phía nam cũng là thị trường rất lớn có thể tiêu thụ được hàng hóa đa dạng về chủng loại về chất lượng, mẫu mã, tiêu thụ được những mặt hàng được sản xuất bởi hệ thống hiện có. Mặt khác, cũng cần có biện pháp để vươn mạnh ra thị trường nước ngoài. Thực tế ở chúng ta đã rất thành công trong việc giới thiệu thương hiệu hồ tiêu Chư Sê trong nước và quốc tế. Thương hiệu đang có sức sống trên nhiều thị trường không chỉ châu Á, mà còn ở nhiều châu lục khác. Kinh nghiệm này cũng cần được nghiên cứu và có thể nhân rộng ra các sản phẩm khác mà huyện có thế mạnh như cao su, thịt bò đàn trên Cao nguyên v.v… Chính quyền cấp tỉnh và huyện nên có những biện pháp hỗ trợ DN để các sản phẩm của họ có mặt tham dự ở các trung tâm triển lãm, quảng bá thương hiệu. Coi đây là cơ hội để giới thiệu sản phẩm với khách hàng mới, mở rộng thị trường. Đồng thời, có cơ chế kiểm soát giá cả hàng nông sản nhằm ổn định tín hiệu thị trường, tránh những tình trạng bấp bênh về giá để ổn định sự phát triển của DN. Từng bước xây dựng và phát triển hệ thống thương mại, bao gồm các tổ chức thương mại nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã, chợ nông thôn v.v… Hệ thống thương mại phải gắn kết và nằm trong quy hoạch chung của huyện và của tỉnh. Bên cạnh xây dựng trung tâm thương mại của huyện, cần thành lập một số chợ trung tâm theo cụm xã để người dân có điều kiện thuận lợi trong giao dịch mua bán hàng hóa, đồng thời để xây dựng các trung tâm thương mại ở các huyện khi mới thành lập. Cần nhận thức rằng trong cả trước mắt và lâu dài, sự phát triển hệ thống trung tâm thương mại là rất quan trọng. Việc xây dựng này không chỉ tạo thuận lợi cho các chủ kinh tế trong giao lưu sản phẩm, mà còn là điều kiện để giá cả nông sản thực sự cạnh tranh và tiếp cận với thị trường bởi các lực lượng cung – cầu mức người mua và người bán số lượng lớn trên thị trường. - Cần thành lập tổ chức tư vấn hỗ trợ DNNN. Tổ chức này có nhiệm vụ phối hợp với các trung tâm tư vấn tuyến trên (tỉnh, khu vực và quốc gia) có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin, tư vấn, môi giới giúp các nhà sản xuất nắm bắt thị hiếu và nhu cầu của khách hàng, kịp thời thay đổi sản phẩm đáp ứng thị trường. Hỗ trợ các DNNN trong việc tiếp cận thị trường trong và ngoài địa bàn, ngoài nước bằng cách cung cấp thông tin thị trường trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vận động tham gia các Hội ngành hàng, Hội viên phòng CNTM Viêt Nam... để được hỗ trợ về pháp lý quảng cáo, triển lãm giới thiệu sản phẩm. Nghiên cứu và thành lập Hội DN ở huyện hoặc nâng cao vai trò của các tổ chức trong hoạt động dịch vụ về khoa học và dịch vụ về thông tin, đáp ứng nhu cầu thiết yếu về thông tin nêu trên. Khuyến khích và nâng cao vai trò và hiệu lực hoạt động của các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, của các hội và các tổ chức nghề nghiệp để đưa nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Việc khuyến khích và nâng cao hiệu lực của các tổ chức này bao gồm cả về con người, các điều kiện vật chất và phương thức hoạt động thích hợp. Hiện nay, các hoạt động của các tổ chức này chủ yếu tập trung vào các hoạt động của sản xuất nông, lâm, thủy sản mà chưa chú trọng vào các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, vì vậy việc phát triển còn có nhiều yếu tố tự phát (ví dụ trồng hồ tiêu trên trụ cây khô chặt từ rừng, trồng cao su, cà phê bằng cây thực sinh hoặc giống năng suất thấp, ít kháng được sâu bệnh và chịu hạn kém...). Ngoài những cơ chế và chính sách trên, việc tạo môi trường thuận lợi cho phát triển DNNN còn đòi hỏi vai trò của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương trong sự hỗ trợ phát triển, như chính sách và biện pháp bảo đảm về kết cấu hạ tầng, đào tạo nhân lực cho phát triển doanh nghiệp, đảm bảo về an ninh trật tự có các chính sách hỗ trợ ưu đãi để giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư nông nghiệp. Đây cũng là những nội dung bức thiết cần được đặt ra nhằm khuyến khích thu hút đầu tư. Để các chính sách và biện pháp trên được thực thi thì vai trò của chính quyền địa phương trong hỗ trợ phát triển DNNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi đây chính là nơi triển khai tất cả những chính sách về phát triển DNNN, gắn hệ chính sách này với các chính sách khác trong toàn bộ quá trình hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho các DNNN. KẾT LUẬN Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có một lực lượng DNNN đủ mạnh làm trụ cột. DNNN là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, gồm một số người lao động, sử dụng các nguồn lực tự nhiên như đất, nước, khí hậu và vốn, lao động, công nghệ và tư liệu sản xuất khác để tạo ra những nông sản đáp ứng nhu cầu thị trường. Sự ra đời và phát triển của DNNN là kết quả tất yếu, mang tính quy luật của quá trình phát triển phân công lao động xã hội được tác động mạnh mẽ bởi các cuộc cách mạng công nghiệp và sự phát triển kinh tế thị trường ngày càng mang tính quốc tế hóa và hội nhập sâu rộng. DNNN nông nghiệp lấy ruộng đất là bộ phận tư liệu sản xuất chủ yếu; hoạt động chịu sự tác động kép của cả quy luật sinh học và cả các quy luật kinh tế kỹ thuật. Nó cũng được coi là lĩnh vực kinh tế đặc thù vì đối tượng sản xuất của nó là những cơ thể sống, sản xuất có tính thời vụ và được tiến hành trên không gian rộng lớn. Đầu tư vào kinh doanh nông nghiệp, do đó có nhiều rủi ro hơn so với vào các ngành khác. Tuy nhiên, sự phát triển của DNNN có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Nó là động lực phát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát huy lợi thế của vùng. Sự phát triển của nó sẽ tạo ra điều kiện để tăng thu nhập cho xã hội và xây dựng nông thôn mới. Vì thế, việc phát triển DNNN được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Sự phát triển của DNNN chịu tác động bởi nhiều nhân tố, chủ yếu là điều kiện tự nhiên, mức độ hiện đại hóa công nghệ sản xuất, trình độ phát triển của kinh tế thị trường, trình độ của người lao động và năng lực của người quản lý, và môi trường thể chế mà DN hoạt động. Để có cơ sở thực tiễn nghiên cứu hoạt động của các DNNN ở huyện Chư Sê, luận văn đã tìm hiểu và rút ra những bài học kinh nghiệm của một số mô hình DNNN công nghệ cao ở nước ta hiện nay như sản xuất rau ở thành phố Đà Lạt, mô hình sản xuất rau, hoa, quả, chăn nuôi thủy sản ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, DNNN công nghệ cao ở thành phố Hồ Chí Minh và mô hình DNNN ở Công ty mía đường Lam Sơn (Thanh Hoá). Từ việc phân tích những tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện Chư Sê trong phát triển nông nghiệp, luận văn nêu, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện từ năm 2005 đến nay. Trong đó khẳng định sự phát triển của các DNNN đã góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng tiến bộ, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời cũng cho rằng quy mô của các DNNN chủ yếu là nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh yếu; hoạt động mới chủ yếu phát triển theo chiều rộng, đang vấp phải tình trạng khan hiếm nguồn đất canh tác; còn nhiều yếu tố tự phát, tiêu cực; tăng trưởng chậm, hiệu quả kinh tế - xã hội còn những vấn đề phải quan tâm. Nguyên nhân của những hạn chế này. Trên cơ sở làm rõ bối cảnh mới tác động đến phát triển các DNNN trên địa bàn, luận văn phân tích và xác định các phương hướng cụ thể trong phát triển DNNN ở huyện Chư Sê đến năm 2015 và tầm nhìn 2020. Đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các DN này. Đó là, hoàn thiện công tác dự báo và quy hoạch của chính quyền cấp huyện về phát triển DNNN; tăng cường các nguồn lực về ruộng đất, vốn, nhân lực và công nghệ cho phát triển DN và nâng cao vai trò của Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của DN. Mặc dù trong quá trình nghiên cứu, học viên đã có nhiều cố gắng tìm tư liệu, đúc rút lý luận và tổng hợp thực tiễn, nhưng vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Học viên tiếp thu những góp ý và xin trân trọng cám ơn các nhà khoa học và những ai quan tâm đến đề tài luận văn này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Hải Anh (2010), Ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, (Thế giới vi tính), 9/4/2010. Ban tuyên giáo Trung ương (2008), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết hội nghị Trung ương bảy khóa X. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. PGS,TS Nguyễn Sinh Cúc (chủ biên – 2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, NXB Thống kê, Hà Nội. Ngô Vi Dũng, Đầu tư và doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn, 08/08/2006. Nguyễn Dũng (2010), Chư Sê chuyển đổi cơ cấu sản xuất, sử dụng đất hiệu quả phục vụ quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, Tạp chí Cộng sản, Số 41 (3/2010). Hoàng Nguyễn Trí Dương (2003), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Đề tài luận văn Cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị bảo vệ tại Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đảng bộ huyện Chư Sê (2010), Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá VII trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VIII. Đảng bộ huyện Chư Sê (2010), Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2010-2015. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương khóa IX về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010. Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Vũ Trọng Hồng (2008), Tăng trưởng kinh tế và sự phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn, Tạp chí Cộng sản (chuyên đề cơ sở 22). Nguyền Huyền (2007), Để nông nghiệp bền vững trong hội nhập, www.vneconomy.vn (4/5/2007). Phạm Đức Long (2010), Chư Sê - Vùng đất của nông trại hàng hóa, (23/07/2010). Mô hình liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, (Diễn đàn dành cho doanh nhân), 4/05/2010. Đình Nam (2007), Ì ạch doanh nghiệp nông nghiệp, 18/10/2007. Hồng Ngọc (2010), Doanh nghiệp nhà nước ngành nông nghiệp gặp khó, (Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online), 17/3/2010. Hoàng Xuân Nghĩa (2000), Kinh tế trang trại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tây Nguyên, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (260). Đinh Thị Kim Phượng, Doanh nghiệp nông nghiệp trước thềm hội nhập WTO, (Viện chính sách và chiến lược phát triển NN, NT), 10/11/2006. Quyết sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, 06/05/2010. TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông (chủ biên – 2005), Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đỗ Tiến Sâm (2008), Vấn đề tam nông ở Trung Quốc, thực trạng và giải pháp, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội. Đặng Kim Sơn, Hoàng Thu Hòa (2002), Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn, NXB Thống kê, Hà Nội. Tạo lực "hút" doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn, 31/08/2009. Phạm Ngọc Thạch (chủ biên – 2002), Những biện pháp thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quang Thiện (2008), Chỉ 14% doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp - nông thôn, 20/08/2008. Tỉnh ủy Gia Lai (2003), Chương trình số 25-CTr/TU của Ban thường vụ tỉnh ủy về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Gia Lai. Đinh Văn Thành (2007), Thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam, NB Thế giới, Hà Nội. Tiến Thành (2010), Phát triển kinh tế trang trại ở Gia Lai, (05/10/2010). Hoa Trang (2010), Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, 15/03/2010. Đào Thế Tuấn (2008), Nông nghiệp, nông thôn, nông dân – những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững, Tạp chí Cộng sản (787), tr 56-59. Trung tâm tư vấn đầu tư hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn Vacvina (1997), Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. GS,TS Nguyễn Kế Tuấn (chủ nhiệm – 2007), CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi, Đề tài KX-02-07. Nguyễn Từ (2004), Nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. Nguyễn Từ (chủ biên - 2008), Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp của Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Xuân Trình (2006), Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ một số hàng nông sản ở Việt Nam: qua nghiên cứu chè, cà phê, điều, NB Lý luận chính trị, Hà Nội. Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê (2001), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Sê giai đoạn 2001-2010, Chư Sê. Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê (2008), Báo cáo tóm tắt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Chư Sê. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2002), Chương trình hành động của UBND tỉnh về việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2002-2010. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai – Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2000), Báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 1996-2000, định hướng phát triển 2001-2005. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2002), Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2010. Việt Nam – WTO (2007), Những cam kết liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh nghiệp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. WB, ADB, Việt Nam 2010 – tiến vào thế kỷ XXI – Các trụ cột của sự phát triển. Báo cáo phát triển Việt Nam 2001. Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam, Hà Nội, từ ngày 14-15/12/2009. Hưng Yên (2008), Chư Sê và chiến lược hồ tiêu, (8/5/2008). Một số Báo cáo về tình hình sản xuất, kinh doanh của các DNNN trên địa bàn huyện Chư Sê từ năm 2005 đến nay và một số các trang Web khác. PHỤ LỤC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRAI HUYỆN CHƯ SÊ TÍNH ĐẾN 31 / 10 / 2010 STT ĐỊA ĐIỂM SỐ LƯỢNG DIỆN TÍCH ĐẤT SỬ DỤNG (ha) SỐ LAO ĐỘNG XẾP LOẠI 1 Xã Ia Glai 3 21.0 11 Khá Trang trại trồng trọt 3 21.0 11 2 Xã H’Bông 23 110.0 91 Khá Trang trại trồng trọt 14 90.0 51 Trang trại Chăn nuôi 9 20.0 40 3 Xã Dun 8 17.3 20 Khá Trang trại trồng trọt 6 16.1 15 Trang trại Chăn nuôi 1 0.2 2 Trang trại tổng hợp 1 1.0 3 4 Xã Ia Pal 1 56.2 10 Khá Trang trại tổng hợp 1 56.2 10 5 Xã Ia Hlốp 5 11.0 21 Trung Bình Trang trại trồng trọt 5 11.0 21 6 Xã Bờ Ngoong 9 69.0 32 Khá Trang trại thủy sản 1 18.0 3 Trang trại trồng trọt 8 51.0 29 7 Xã Ayun 2 68.0 10 Trung Bình Trang trại trồng trọt 1 53.0 6 Trang trại Chăn nuôi 1 15.0 4 8 Xã Ia Blang 164 377.0 523 Khá Trang trại trồng trọt 164 377.0 523 9 Xã Chư Pơng 2 16.0 11 Khá Trang trại trồng trọt 2 16.0 11 10 Xã Al Bă 2 1.0 6 Trung Bình Trang trại Chăn nuôi 2 1.0 6 11 Xã Kông HTok 3 0.8 6 Khá Trang trại Chăn nuôi 3 0.8 6 12 Thị trấn Chư Sê 119 314.0 418 Khá Trang trại trồng trọt 115 303.0 393 Trang trại Chăn nuôi 4 11.0 25 13 Xã Ia Tiêm 20 216.8 85 Khá Trang trại trồng trọt 20 216.8 82 14 Xã Bar Măih 6 18.2 16 Khá Trang trại trồng trọt 5 18.0 14 Trang trại Chăn nuôi 1 0.2 2 15 Xã Ia Ko 4 23.0 13 Khá Trang trại trồng trọt 4 23.0 13 Tổng cộng 371 1,319.3 1,273 Nguồn: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chư Sê. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8 1.1. Doanh nghiệp nông nghiệp 8 1.1.1. Khái niệm và tính quy luật hình thành, phát triển doanh nghiệp nông nghiệp 8 1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp 15 1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội trên một địa bàn 20 1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp 23 1.2.1. §iÒu kiÖn tù nhiªn cho s¶n xuÊt n«ng nghiÖp 23 1.2.2. Tèc ®é triÓn khai c«ng nghiÖp hãa, hiÖn ®¹i hãa 26 1.2.3. Tr×nh ®é ph¸t triÓn cña kinh tÕ thÞ tr­êng 27 1.2.4. Tr×nh ®é hiÖn cã cña ng­êi lao ®éng vµ n¨ng lùc qu¶n lý doanh nghiÖp 28 1.2.5. LuËt ph¸p, chÝnh s¸ch cña Nhµ n­íc 30 1.3. Kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao của một số địa phương 31 1.3.1. Mô hình rau hoa thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng). 31 1.3.2. Mô hình rau, hoa, quả, chăn nuôi thủy sản thành phố Hà Nội 32 1.3.3. Doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh 34 1.3.4. Mô hình doanh nghiệp công nghệ giống cây trồng, vật nuôi của các công ty 36 Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY 39 2.1. Những tiềm năng và lợi thế của huyện Chư Sê trong phát triển nông nghiệp và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn 39 2.1.1. Những tiềm năng và lợi thế của huyện Chư Sê trong phát triển nông nghiệp 39 2.1.2. Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện. 48 2.2. Đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê 58 2.2.1. Thành quả đạt được 58 2.2.2. Những hạn chế, tiêu cực và nguyên nhân 69 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯ SÊ 78 3.1. Phương hướng phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê 78 3.1.1. Bối cảnh mới tác động đến phương hướng phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê 78 3.1.2. Phương hướng phát triển doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 82 3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Chư Sê thời gian tới 88 3.2.1. Hoàn thiện công tác dự báo và quy hoạch của chính quyền cấp huyện về phát triển doanh nghiệp nông nghiệp 88 3.2.2. Tăng cường nguồn lực cho phát triển doanh nghiệp nông nghiệp 93 3.2.3. Nâng cao vai trò của Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp nông nghiệp 112 KẾT LUẬN 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 Häc viÖn chÝnh trÞ Hµnh chÝnh quèc gia Hå chÝ Minh NGUYỄN DŨNG Doanh nghiÖp n«ng nghiÖp trªn ®Þa bµn huyÖn ch­ sª, tØnh gia lai LuËn v¨n th¹c sü kinh tÕ Hµ néi 2010 Häc viÖn chÝnh trÞ Hµnh chÝnh quèc gia Hå chÝ Minh NguyÔn dòng Doanh nghiÖp n«ng nghiÖp trªn ®Þa bµn huyÖn ch­ sª, tØnh gia lai Chuyªn ngµnh: Kinh tÕ chÝnh trÞ M· sè: 60 31 01 LuËn v¨n th¹c sü kinh tÕ Ng­êi h­íng dÉn khoa häc: PGS.TS An Nh­ H¶i Hµ néi 2010

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNoi dungLV Dũng_Sua ngay 12-01-2011.doc
  • docCam doan.doc
  • docDe cuong - Bia.doc
  • docDe cuong.doc
  • docLuan van - chinh thuc.doc
  • docMuc luc.doc
Luận văn liên quan