Đề tài Mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, chi nhánh Hai Bà Trưng

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 1.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 1.2 Hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại 1.2.1 Tổng quan về Doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.2 Hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 1.2.2.1 Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.2.2 Các phương thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.2.3 Đặc điểm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ so với các đối tượng khác 1.2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 1.2.2.5 Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 1.2.3 Mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 1.2.3.1 Khái niệm mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 1.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thươn mại 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại 1.3.1 Nhân tố chủ quan 1.3.2 Nhân tố khách quan CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TECHCOMBANK – HAI BÀ TRƯNG 2.1 Khái quát về Techcombank – Hai Bà Trưng 2.1.1 Giới thiệu chung về Techcombank 2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Techcombank – Hai Bà Trưng 2.1.3 Tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của Techcombank – Hai Bà Trưng trong năm 2008 và 2009 2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn 2.1.3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Techcombank – Hai Bà Trưng trong hai năm 2008 – 2009 2.2 Thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng 2.3 Đánh giá thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng 2.3.1 Kết quả 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 2.3.2.1 Hạn chế 2.3.2.2 Nguyên nhân CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TECHCOMBANK – HAI BÀ TRƯNG 3.1 Định hướng phát triển cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng 3.1.1 Định hướng phát triển của Techcombank – Hai Bà Trưng 3.1.2 Định hướng cho vay DNVVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng trong năm 2010 3.2 Giải pháp mở rộng cho vay DNVVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng 3.2.1 Nhận thức đúng về việc mở rộng cho vay đối DNVVN 3.2.2 Đổi mới quy trình cho vay đối với DNVVN 3.2.3 Đào tạo cán bộ chuyên sâu về doanh nghiệp vừa và nhỏ 3.2.4 Tăng cường hoạt động marketing ngân hàng 3.3 Kiến nghị 3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 3.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 3.3.2 Kiến nghị với doanh nghiệp vừa và nhỏ 3.2.4 Kiến nghị vơí Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc88 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 14/05/2013 | Lượt xem: 6202 | Lượt tải: 66download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Mở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, chi nhánh Hai Bà Trưng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g thể thiếu trong các NHTM, nó đóng góp một phần không nhỏ trong tổng lợi nhuận của các NHTM. Đối với Techcombank – Hai Bà Trưng, hoạt động dịch vụ bao gồm : Phí thanh toán quốc tế, phí chuyển tiền nước ngoài, phí các loại thẻ... Các hoạt động này thực tế đã và đang là nguồn thu lớn của Techcombank – Hai Bà Trưng. Bảng 2.5 Tình hình hoạt động dịch vụ của Techcombank – Hai Bà Trưng Đơn vị: Triệu VND Năm Doanh thu dịch vụ Chi phí từ hoạt động dịch vụ Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ 2008 3,591.91 601.15 2,990.76 2009 7,789.09 496.23 7,292.86 Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy, thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Techcombank – Hai Bà Trưng năm 2009 cao hơn nhiều lần so với năm 20008 ( 2.41 lần ). Nguyên nhân xuất phát từ Doanh thu hoạt động này năm 2009 tăng nhiều lần cộng với chi phí hoạt động thấp hơn so với năm 2008. Doanh thu lớn như trên chủ yếu thu từ Thanh toán quốc tế ( 5,913.26 triệu VND ), mà đặc biệt là từ phí chuyển tiền nước ngoài và thanh toán L/C ( lên đến 5,756.2 triệu VND ). Ngoài ra, phí thu được từ dịch vụ thẻ nội địa và quốc tế cũng tăng đáng kể ( từ -150.1 triệu VND năm 2008 lên đến + 78.5 triệu VND năm 2009 ). Kết quả trên có được của Techcombank – Hai Bà Trưng là nhờ vào sự nỗ lực của tất cả các cán bộ nhân viên trong ngân hàng. Đặc biệt là sự chuyên nghiệp và chu đáo trong các nghiệp vụ như : thanh toán quốc tế , tín dụng trong nước, cung cấp các loại thẻ Visa Credit Card, F@st – iBank… 2.1.3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Techcombank – Hai Bà Trưng trong hai năm 2008 – 2009 Trong hai năm qua, tình hình hoạt động của Techcombank – Hai Bà Trưng đều khá tốt. Các chỉ tiêu về lợi nhuận, hay doanh số cho vay, dư nợ đều vượt kế hoạch đề ra. Lợi nhuận năm 2009 tăng hơn so với năm 2008, điều đó cho thấy hoạt động kinh doanh của Techcombank – Hai Bà Trưng đang đi rất đúng hướng. Trong các khoản thu, thu từ hoạt động dịch vụ là cao nhất, chiếm phần lớn tổng lợi nhuận của ngân hàng ( 7.78 tỷ trong 8.3 tỷ ) . Từ những thành quả đạt được, Techcombank – Hai Bà Trưng đã và đang hướng tới những thành công lớn hơn trong tương lai, đặc biệt là trong năm 2010. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng được thể hiện qua bảng báo cáo sau: Bảng 2.6 Báo cáo tài chính của Techcombank – Hai Bà Trưng Đơn vị: Triệu VND STT Năm 2008 Năm 2009 1 Doanh thu từ lãi 62,692 60,428 1.1 - Thu lãi tiền cho vay 28,349 24,302 1.2 - Thu lãi điều hòa vốn trong hệ thống 34,342 36,125 2 Chi trả lãi 48,720 50,749 3 Thu nhập lãi thuần 13,971 9,678 4 Doanh thu dịch vụ 3.591 7.789 5 Chi phí dịch vụ 601 496 6 Thu nhập từ dịch vụ 2.990 7.292 7 Doanh thu kinh doanh Ngoại tệ -403 -598 8 Chi phí kinh doanh Ngoại tệ 0 0 9 Thu nhập từ kinh doanh Ngoại tệ -403 -598 10 Chi phí nhân viên 2.319 2.934 11 Chi tài sản công cụ 2.136 1.169 12 Chi quản lý hành chính 554 377 13 Khấu hao 106 20.4 14 Tổng chi phí 5.127 4.500 15 Lợi nhuận trước trích dự phòng 11.432 11,873 16 Trích dự phòng 3.364 3,550 17 LN trước thuế 8.067 8,323 Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng 2.2 Thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng DNVVN là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế, có mặt ở rất nhiều ngành kinh tế với các loại hình kinh doanh đa dạng, phong phú. Vì thế các NHTM cũng có rất nhiều những chính sách ưu đãi dành cho loại hình khách hàng này. Tuy nhiên việc tiếp cận vốn của các DNVVN đối với NHTM còn gặp nhiều ngăn trở. Tình trạng phổ biến là có khoảng 30 – 45% DNVVN tin tưởng nộp hồ sơ vay vốn thường xuyên nhưng 20% gặp khó khăn và bị từ chối. Số doanh nghiệp còn lại có nhu cầu vay không thường xuyên, nhưng một số gặp trở ngại trong tiếp cận, nâng tỷ lệ gặp khó khăn trong tín dụng lên mức 27%. Ngoài ra số doanh nghiệp thuộc nhóm không nộp hồ sơ một phần là vì gặp trở ngại như thiếu tài sản thế chấp, nhận thức quá trình vay vốn quá khó khăn hoặc do tỷ lệ lãi suất quá cao. Với chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước nâng cao đời sống xã hội, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển và ổn. Trong điều kiện đó, cùng với sự phát triển của các DNVVN là nhu cầu về vốn ngày càng tăng. Để đáp ứng nhu cầu đó thì các NHTM nói chung và Techcombank nói riêng đã không ngừng mở rộng cho vay DNVVN. Chúng ta có thể xem xét thực trang cho vay đối với các DNVVN qua các chỉ tiêu sau : Doanh số cho vay DNVVN Nó phản ánh lượng vốn mà NHTM đã cho DNVVN vay, phản ánh quy mô tuyệt đới của hoạt động cho vay của NHTM. Doanh số cho vay phụ thuộc vào các chính sách cho vay của NHTM trong từng thời kỳ cụ thể. Quy mô và tốc độ tăng của doanh số cho vay lớn cho thấy khả năng mở rộng cho vay của NHTM đó. Bảng 2.7 Doanh số cho vay DNVVN của Techcombank – Hai Bà Trưng Năm Chỉ tiêu 2008 2009 Doanh số Tỷ trọng Doanh sô Tỷ trọng Doanh số cho vay DNVVN 280,565.44 87.61% 260,576.80 87.52% Tổng doanh số cho vay 320,220.24 100% 300,125.45 100% Tăng Giảm - 7.67% - 6.69% Đơn vị: Triệu VND Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy, doanh số cho vay DNVVN của năm 2009 thấp hơn so với năm 2008, cụ thể là giảm khoảng 7.67%. Điều này cũng tác động đến doanh số cho vay chung của cả chi nhánh, khiến tổng doanh thu năm 2009 thấp hơn so với năm 2008. Tình hình không mấy khả quan trên là do sự cạnh tranh khốc liệt của các NHTM. Các NHTM đua nhau ra nhiều chính sách tín dụng nhằm ưu đãi các khách hàng, đặc biệt là đối với các DNVVN. Chính vì thế, lượng khách hàng DNVVN của Techcombank nói chung cũng như Techcombank – Hai Bà Trưng nói riêng trong năm 2009 đều bị giảm. Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn tại Techcombank – Hai Bà Trưng Bảng 2.8 Số lượng DNVVN vay vốn tại Techcombank – Hai Bà Trưng theo loại tiền Đơn vị: Khách hàng Năm Chỉ tiêu 2008 2009 Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng VND 52 91.2% 54 98.2% NTQD 5 8.8% 1 1.8% Tổng số DNVVN 57 100% 55 100% Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Bảng 2.9 : Số lượng DNVVN vay vốn tại Techcombank – Hai Bà Trưng theo kỳ hạn Đơn vị: Khách hàng Năm Chỉ tiêu 2008 2009 Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Ngắn hạn 42 73.7% 24 43.6% Trung và dài hạn 17 26.3% 31 56.4% Tổng số DNVVN 57 100 55 100% Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Qua 2 bảng số liệu trên ta có thể thấy, số lượng các DNVVN năm 2009 giảm so với năm 2008, tuy nhiên số lượng này không giảm nhiều, chủ yếu là do ngân hàng đang dần chú trọng tới các đối tượng mới, có tiềm năng hơn và có khả năng chi trả. Các khách hàng của chi nhánh thường là DN của Việt Nam, có quan hệ thương mại với nước ngoài, có tài khoản tiền gửi tại Techcombank – Hai Bà Trưng. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Dư nợ phản ánh lượng tiền vay của khách hàng tại một thời điểm nhất định. Nó giúp phản ánh chính sách mở rộng tín dụng của NHTM như thế nào. Biểu đồ 02: Dư nợ theo đối tượng khách hàng Dư nợ cho vay DNVVN theo loại tiền Bảng 2.10 Dư nợ cho vay DNVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng theo loại tiền Đơn vị: Triệu VND Năm Chỉ tiêu 2008 2009 Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng VNĐ 72,850 62.7% 66,890 68.3% Ngoại tệ QD 43,326 37.3% 31,050 31.7% Tổng dư nợ DNVVN 116,186 100% 97,940 100% Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Dư nợ cho vay DNVVN của Techcombank – Hai Bà Trưng luôn chiếm tỷ lệ cao qua các năm. Điều này cho thấy các ngân hàng rất quan tâm và luôn ưu đãi vốn vay cho đối tượng này. Từ bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng, Techcombank – Hai Bà Trưng rất chú trọng đến cho vay DNVVN, đặc biệt với các doanh nghiệp tại Việt Nam, cho vay bằng VND đã và đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tiền cho vay. Một phần là vì lãi suất vay và cho vay VND cao hơn nhiều so với ngoại tệ khác, một phần vì Ngân hàng không có nhiều ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của một số bộ phận DN. Thực tế với mức lãi suất như hiện nay, các DNVVN sẽ tính toán một cách có lợi nhất, họ sẽ có lời khi đi vay ngoại tệ với mức lãi suất thấp để rồi đổi ra VND kinh doanh, tuy nhiên không phải lúc nào Ngân hàng cũng đáp ứng được điều đó, ngoại tệ luôn là một nguồn khan hiếm trong các ngân hàng. Dư nợ cho vay DNVVN phân theo kỳ hạn Bảng 2.11 Dư nợ cho vay DNVVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng phân theo kỳ hạn Đơn vị: Triệu VND Năm Chỉ tiêu 2008 2009 Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Dư nợ ngắn hạn 113,022 97.3% 84,634 86.4% Dư nợ trung và dài hạn 3,164 2.7% 13,306 13.6% Tổng dư nợ DNVVN 116,186 100% 97,940 100% Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Từ bảng 2.9 trên ta có thể thấy, các DNVVN vay tiền chủ yếu là ngắn hạn, với tỷ lệ rất cao ( chiếm tới 97.3% trong năm 2008 và 86.4% năm 2009 trong tổng số vốn vay DNVVN ). Sự chênh lệch này có thể hiểu một cách đơn giản là vì các DNVVN có thể quay vòng vốn nhanh, nên việc họ trả nợ các ngân hàng là khá dễ dàng, mặt khác vay vốn ngắn hạn thì sẽ chịu mức lãi suất thấp hơn và rủi ro ít hơn. Bảng 2.12 Dư nợ cho vay DNVVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng phân theo lãi suất VND Đơn vị: Triệu VND Năm Chỉ tiêu 2008 2009 Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Lãi suất cố định 102,125 87.9% 50,225 51.3% Lãi suất thả nổi 14,061 12.1% 47,715 48.7% Tổng dư nợ DNVVN 116,186 100% 97,940 100% Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Theo bảng 2.10 trên ta có thể thấy, các DNVVN chủ yếu vay vốn Ngân hàng theo lãi suất cố định, tuy nhiên, trong năm 2009 dư nợ cho vay DNVVN theo lãi suất thả nổi lại khá cao, điều này cho thấy sự mất ổn định của thị trường tiền tệ. Đối với một Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, việc vay vốn Ngân hàng với một lãi suất cố định thường là sự lựa chọn tối ưu khi mà nền kinh tế cũng như thị trường tiền tệ ổn định. Ngược lại, khi mà các Doanh nghiệp nhận thấy một điều gì đó bất ổn trong nền kinh tế sẽ dẫn đến sự mất ổn định về lãi suất đồng tiền, khi đó họ sẽ tính toán chấp nhận rủi ro để vay vốn theo lãi suất thả nổi. Thực tế thì năm 2009 với nhiều diễn biến trong thị trường tài chính và tiền tệ, tỷ giá USD/VND liên tục tăng, dẫn đến nhiều tác động tới DNVVN, rất nhiều DNVVN đã chủ động vay vốn theo lãi suất thả nổi để tiến hành kinh doanh, mong muốn đạt được những lợi ích tốt nhất từ những đồng vốn vay. Các khoản nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng NHTM hoạt động với mục đích sinh lời và an toàn. Vì vậy mặc dù mở rộng cho vay thì ngân hàng vẫn phải đặt vấn đề an toàn lên hàng đầu. Bảng 2.13 Tình hình nợ quá hạn của các DNVVN Đơn vị: Triệu VND Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Nợ quá hạn DNVVN 6,465 9,702 Tổng dư nợ DNVVN 116,186 97,940 Tỷ trọng 5.56% 9.91% Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Tuy nhiên, có thể thấy rằng tỷ lệ nợ quá hạn của các DNVVN trong năm 2009 lại cao hơn năm 2008, trong khi tổng dư nợ DNVVN năm 2009 lại thấp hơn 2008, điều này phản ánh chất lượng cho vay không tốt của Ngân hàng. Ngân hàng đã không thể kiểm soát được các khoản nợ của DNVVN, dẫn đến nợ quá hạn tăng khá cao. Với đà tăng tỷ lệ nợ quá hạn như trên thì rất có thể Ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng vốn. Trong các khoản nợ quá hạn, thì đáng lưu ý nhất là các khoản nợ xấu 3-5 của các Ngân hàng. Đây là một trong những loại nợ khó xử lý nhất của các Ngân hàng, nếu Ngân hàng nào có tỷ lệ nợ 3-5 càng cao thì đó sẽ là một điểm rất xấu trong sự đánh giá về chất lượng tín dụng Ngân hàng của khách hàng. Bảng 2.14 Các khoản nợ 3-5 tại Techcombank – Hai Bà Trưng Đơn vị: Triệu VND Năm Chỉ tiêu 2008 2009 Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Ngắn hạn 4,861 83% 8,954 94.7% Trung và dài hạn 995 17% 497 5.3% Tổng nợ 3-5 5,856 100% 9,451 100% Nguồn: Báo cáo tổng kết của Techcombank – Hai Bà Trưng Trong hai năm qua, dư nợ quá hạn tại Techcombank – Hai Bà Trưng đều ở mức cao. Đặc biệt năm 2009, dư nợ thì giảm mà nợ quá hạn lại ở mức khá cao, điều đó cho thấy khả năng quản lý cho vay của ngân hàng còn ở mức hạn chế. Nợ 3-5 trong năm 2009 gần gấp đôi so với năm 2008, cho thấy mức độ rủi ro các khoản cho vay là rất lớn, điều này cũng khiến cho ngân hàng phải nhìn nhận một cách đúng đắn hơn để nâng cao hơn nữa việc thẩm định các khoản vay để làm thế nào hạn chế thấp nhất tỷ lệ nợ xấu. 2.3 Đánh giá thực trạng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng 2.3.1 Kết quả Cùng với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về việc phát triển DNVVN trong cơ chế thị trường, hội nhập, mở cửa nền kinh tế. Thời gian vừa qua, ngân hàng Techcombank đã thực hiện việc cho vay và nâng cao hiệu quả tín dụng đối với các DNVVN và đã đạt được những kết quả đáng kể. Trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước cũng như thế giới có nhiều biến động, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng nhất định đến hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, với các biện pháp và chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể, chi nhánh đã đạt được những thành công nhất định trong hoạt động của mình nói chung và hoạt động cho vay đối với DNNVV nói riêng . Về doanh số cho vay và dư nợ cho vay: Họat động cho vay của ngân hàng đối với DNVVN trong hai năm 2008 – 2009 luôn đạt được sự tăng trưởng cao, bền vững, góp phần làm lành mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như đem lại hiệu quả chung cho việc thực hiện các nhiệm vụ của ngân hàng. Doanh số cho vay và dư nợ cho vay được gia tăng đáng kể qua các năm với tốc độ tăng trưởng tương đối cao so với trung bình ngành. Điều này chứng tỏ rằng uy tín của ngân hàng đang ngày càng được nâng cao và chiến lược thu hút khách hàng là tương đối tốt. Về công tác thẩm định Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn, công tác thẩm định tổ chức quản lý hoạt động tín dụng đối với các DNNVV đã phần nào được nâng cao. Việc thẩm định dần áp dụng nhiều phương pháp mang tính khoa học, nhìn nhận vấn đề rộng hơn, kỹ thuật thẩm định hoàn chỉnh hơn và việc kiểm tra, giám sát vay vốn cũng chặt chẽ hơn. Nhờ vậy mà chất lượng tín dụng được đảm bảo. Mối quan hệ với DNNVV đã được mở rộng, thể hiện ở việc doanh số cho vay DNNVV tăng . Dư nợ cũng tăng nhanh cuối 2008, với chất lượng cơ cấu dư nợ vững chắc, số lượng doanh nghiệp vay vốn tăng lên rõ rệt. Đồng thời bám sát và kiên quyết giảm dần dư nợ ở những doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém , có tài sản đảm bảo khó quản lý, quyết liệt trong việc thu hồi nợ. Chi nhánh đã thực hiện một cách bài bản và dứt khoát hơn , tạo điều kiện để khách hàng trả nợ đúng hạn đồng thời cũng có thái độ kiên quyết với những khách hàng chậm trễ, thiếu ý thức trả nợ . Về công tác thu hồi nợ Quy mô và tỷ lệ nợ quá hạn của các DNVVN so với tổng dư nợ tương ứng đều có xu hướng chuyển biến tích cực qua các năm. Tỷ lệ dư nợ các năm đều tăng so với trung bình ngành và đạt chỉ tiêu đề ra của chi nhánh. Tỷ lệ nợ quá hạn tuy tăng không tăng đáng kể, vẫn ở mức tốt. Điều này khẳng định sự lành mạnh hóa trong các khoản tín dụng đối với DNVVN của ngân hàng. Về hình thức cho vay Hình thức cho vay của ngân hàng cung cấp rất đa dạng, phong phú. Đã có nhiều DNVVN được cấp hạn mức tín dụng và nhiều doanh nghiệp đã được vay theo món, cho vay tài trợ dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Hình thức cho vay của các NHTM tương đối giống nhau, tuy nhiên tại Tehcombank, khách hàng luôn được ưu đãi. Các khoản vay của khách hàng thường được cấp hạn mức một cách nhanh chóng, quy trình đảm bảo và hợp lý. Về hoạt động Marketing Chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng đã triển khai công tác tiếp xúc các doanh nghiệp, hướng dẫn các doanh nghiệp lập các hồ sơ vay vốn tương đối hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể thực hiện việc vay vốn nhanh chóng và thuận lợi. Chi nhánh đang từng bước gắn mình với các khách hàng nói chung và khách hàng DNVVN nói riêng qua vai trò tư vấn. Chi nhánh đã mở chiến dịch đi tiếp cận các khách hàng có dự án tốt, mời về vay vốn. Nhờ đó đã tiếp cận được với nhiều khách hàng mới và thẩm định được với nhiều dự án cho vay về với chi nhánh. Về lợi nhuận Lợi nhuận của chi nhánh không ngừng được tăng lên, đảm bảo và nâng cao đời sống cán bộ, khích lệ tinh thần làm việc. Đóng góp vào sự phát triển của ngân hàng cũng như nền kinh tế . Như vậy với những kết quả đạt được, cho thấy sự cố gắng phấn đấu của chi nhánh trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Những chuyển biến đó tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận dễ dàng hơn kênh dẫn vốn quan trọng ,đáp ứng được phần nào nhu cầu vốn của DNNVV. Với những kết quả kinh doanh đã đạt được trong năm 2008 và 2009 cùng với tốc độ tăng trưởng và hoàn thành xuất sắc mọi chỉ tiêu kế hoạch được giao, chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng xếp loại thi đua là một trong những đơn vị xuất sắc trong hệ thống. Chi nhánh ngày càng có nhiều đổi mới trong hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như tăng cường khả năng cạnh tranh, thích ứng trong xu thế hội nhập. 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 2.3.2.1 Hạn chế Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc cho vay đối với DNVVN còn tồn tại một số hạn chế cần phải được khắc phục. † Quy mô cho vay còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của ngân hàng cũng như nhu cầu của thị trường. Qua phân tích trên ta thấy tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay năm 2008 và 2009 đều tăng so với trung bình, khoảng 10%, tuy nhiên con số này chưa phải là cao trong sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng Techcombank nói chung và Techcombank – Hai Bà Trưng nói riêng. Tỷ trọng dư nợ đối với các DNVVN trong tổng dư nợ vẫn còn hạn chế mặc dù đã có sự tăng trưởng qua các năm. Công tác cho vay còn hơi có phần thụ động, coi tài sản đảm bảo vần là tiêu chí hàng đầu sẽ là một bất cập † Nguy cơ phát sinh các khoản nợ quá hạn trong hoạt động cho vay đối với DNVVN là không ít. Nợ quá hạn năm 2008 là 6.5 tỷ đồng, năm 2009 là 9.7 tỷ đồng. Nếu nhìn vào số liệu về tỷ lệ nợ quá hạn tại chi nhánh ngân hàng trong các năm vừa qua thì ta giễ có cảm giác an tâm, thỏa mãn nhưng trên thực tế, vẫn có những thời điểm có doanh nghiệp không trả được nợ vay và làm phát sinh nợ quá hạn. † Ngân hàng còn hạn chế trong việc cấp tín dụng trung và dài hạn cho các DNVVN. Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn mặc dù đã được gia tăng qua các năm nhưng tốc độ gia tăng chưa nhanh và chưa đáp ứng được nhu cầu cấp bách về vốn trung và dài hạn của các DNVVN hiện nay. 2.3.2.2 Nguyên nhân † Về phía ngân hàng Cơ cấu vốn thì chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn nên bị hạn chế cho vay trung và dài hạn. Các DNNVV có lĩnh vực hoạt động rất đa dạng, thông tin về khách hàng còn hạn chế vì vậy làm cho công tác thẩm địmh chưa thực sự đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, quy định về tài sản dảm bảo cũng là một điều kiện khó mà không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng đựơc. Họat động Marketing của ngân hàng đã được chi nhánh quan tâm nhưng chưa thực sự đúng mức. Nhiều doanh nghiệp còn chưa thực sự hiểu biết thông tin về họat động của ngân hàng mà đặc biệt là những thông tin mang tính mới, cập nhật như về thủ tục vay vốn, cơ chế tín dụng, dịch vụ ngoại hối, thanh toán quốc tế... Cho nên quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân hàng vẫn là mối quan hệ một chiều là chủ yếu. Khách hàng đến với ngân hàng khi họ thiếu vốn còn ngân hàng thì thiếu sự chủ động tìm kiếm khách hàng. Điều này sẽ cản trở đến việc mở rộng việc cho vay. Chất lượng đội ngũ cán bộ vẫn có những hạn chế nhất định, đội ngũ cán bộ nhân viên trẻ, đầy nhiệt huyết và tinh thần làm việc, xong kinh nghiệm chưa được trau dồi nhiều, đôi khi dẫn đến việc thẩm định cho vay dễ xảy ra những sai sót : chưa đưa ra được những đánh giá chính xác về khách hàng, thẩm định tài sản đảm bảo chưa sát với giá trị thực tế của nó,... Từ đó có thể dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm. † Về phía DNVVN Năng lực tài chính và năng lực quản lý còn kém đã hạn chế khả năng vay vốn của ngân hàng đối với một số DNVVN. Vì chiến lược kinh doanh chưa cụ thể và không có những dự an khả thi nên không đủ thuyết phục ngân hàng cho vay vốn. Bên cạnh đó, tình hình sản xuất kinh doanh của DNNVV thường không ổn định, một số DNNVV làm ăn phi pháp, các doanh nghiệp mới thành lập, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, tình hình tài chính chưa ổn định, khó có thể đáp ứng đựơc yêu cầu cho vay. Các DNVVN hầu hết chưa thực hiện nghiêm túc chế độ hoạch toán, kế toán theo pháp lệnh hoạch toán kế toán. Điều đó đã dẫn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp không minh bạch, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định cũng như đánh giá, xem xét, giải quyết cho vay. Các DNVVN thường chưa thực sự năng động để tìm ra các phương án sản xất kinh doanh khả thi để ngân hàng đầu tư vốn hiệu quả Do hiệu quả của việc sử dụng vốn luôn là quan tâm hàng đầu của các ngân hàng nên việc cho vay đối với DNVVN phải gắn với những điều kiện nhất định trong đó phải có những phương án kinh doanh hiệu quả và khả thi. Đây là một điều kiện quan trọng vì chỉ có phương án sản xuất kinh doanh tốt thì doanh nghiệp mới có thể có lãi và từ đó mới có khả năng trả nợ cho ngân hàng † Về phía môi trường kinh doanh Trong thời gian qua, chính phủ và các bộ, ngành đã có những chương trình, chính sách để hỗ trợ các DNVVN như: đổi mới cơ chế đảm bảo tiền vay theo hướng mở rộng cho vay không có tài sản đảm bảo, cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay, trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực, chương trình hỗ trợ thông tin, thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN…Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nó còn gặp phải nhiều khó khăn. Các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, thông tin, xúc tiến thương mại đã được triển khai nhưng số DNVVN tiếp nhận được nó quá ít so với tổng số DNVVN ở Việt Nam hiện nay. Điều đó bắt nguồn từ việc một số quyết định đưa ra không phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, thậm chí có văn bản không đủ cơ sở pháp lý để thực hiện. Các chính sách và biện pháp trợ giúp DNVVN tại các địa phương không được thống nhất, đồng bộ, mang tính tự phát. Các thông tin về ưu đãi của nhà nước cũng như địa phương chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch để cho các DNVVN biết. Tình hình kiểm tra thực hiện các chính sách hỗ trợ DNVVN còn yếu nên chưa mang lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ DNVVN. Công tác quản lý DNNVV của nhà nước còn lỏng lẻo dẫn đến sự phát triển một cách tràn lan không hiệu quả của một số DNNVV. Việc cập nhật thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế vì vậy mà chưa giám sát theo dõi hoạt động kinh doanh của DNNVV. Điều đó cản trợ việc nắm bắt thông tin, cũng như gây tâm lý e ngại trong việc cho vay của ngân hàng. Trên đây, chúng ta đã xem xét, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với DNVVN của ngân hàng Techcombank chi nhánh Hai Bà Trưng. Qua đây, ta đã thấy được những gì đã đạt được và những điểm còn hạn chế đồng thời tìm ra một số nguyên nhân chính gây ra điều đó để tìm ra các biện pháp khắc phục kịp thời. CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TECHCOMBANK – HAI BÀ TRƯNG 3.1 Định hướng phát triển cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank – Hai Bà Trưng 3.1.1 Định hướng phát triển của Techcombank – Hai Bà Trưng a. Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của năm 2010 * Tổng tài sản : 2000 tỷ đồng * Tổng nguồn vốn huy động : 1400 tỷ đồng * Tổng dư nợ : 800 tỷ đồng * Lợi nhuận trước thuế : 30 tỷ đồng * Tỷ lệ nợ 3-5 : < 2% b. Hoạt động đầu tư Năm vừa qua chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng bị thua lỗ khá nhiều về tài chính, lỗ từ hoạt động kinh doanh ngoại hối đến mua bán chứng khoán và các hoạt động đầu tư khác. Chính vì lý do đó mà trong định hướng phát triển của các năm tiếp theo, ban lãnh đạo của chi nhánh đã đưa ra các biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém dẫn đến tình trạng trên. Một mặt nâng cao trình độ nhằm nắm bắt chắc các thông tin trên thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán, mặt khác đa dạng hóa các kênh đầu tư như bất động sản, vàng... c. Hoạt động dịch vụ Năm vừa qua chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng đã đạt lợi nhuận khá cao từ hoạt động dịch vụ, doanh thu từ hoạt động này lên đến hơn 7 tỷ đồng. Hoạt động này đã và đang tạo ra nguồn thu đáng kể cho chi nhánh. Trong các năm tiếp theo, ngân hàng đã có nhiều chủ trương phát triển đẩy mạnh hoạt động này. Cụ thể như là nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ, hoàn thiện hơn trong các quy trình phục vụ khách hàng. d.Phát triển sản phẩm dịch vụ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Hiện tại Techcombank – Hai Bà Trưng có đủ các sản phẩm và dịch vụ để phục vụ tốt những nhu cầu của khách hàng. Như các dịch vụ cho vay tiêu dùng, cho vay mua nhà, mua ôto, cho vay doanh nghiệp, vay đầu tư, dịch vụ thanh toán quốc tế và đầu tư thương mại, bảo lãnh... Các sản phẩm dịch vụ này ngày càng được cải thiện để đi vào chiều sâu. Chi nhánh tiếp nhận được những thành quả về công nghệ thông tin và phải ứng dụng hiệu quả vào việc phát triển tốt hơn các sản phẩm sẵn có. Mặt khác để các sản phẩm dịch vụ của Techcombank được sử dụng rộng rãi với mọi đối tượng khách hàng thì cần nâng cao hiệu quả Marketing. e. Phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển dài hạn đối với Techcombank. Tại chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng, nguồn nhân lực luôn được trẻ hóa, các nhân viên trẻ có năng lực, trình độ học vấn cao, ý thức làm việc rất tốt. Xong, kinh nghiệm làm việc của đội ngũ cán bộ nhân viên trẻ thì còn thấp, đồng nghĩa với hiệu quả làm việc chưa được cao, còn gặp nhiều hạn chế. Vì thế mục tiêu chính trong tương lai gần của chi nhánh là đào tạo về chiều sâu năng lực nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên trẻ của chi nhánh, để góp phần vào sự phát triển và lợi ích của Techcombank – Hai Bà Trưng. 3.1.2 Định hướng cho vay DNVVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng trong năm 2010 Như đã phân tích, DNVVN là một trong số các loại hình doanh nghiệp có tiềm năng rất lớn để các NHTM đầu tư cho vay vốn. Tại Techcombank – Hai Bà Trưng cũng vậy, lợi nhuận đem lại từ cho vay DNVVN đã và đang là động lực lớn để Ngân hàng tiếp tục mở rộng cho vay với đối tượng này. Trong các năm tiếp theo, đặc biệt là trong năm 2010 này, Techcombank – Hai Bà Trưng đã định hướng một cách rõ ràng trong hoạt động cho vay đối với DNVVN. Cụ thể như sau: Tổng dư nợ đối với DNVVN : 200 tỷ đồng Tổng số lượng DNVVN : 100 Doanh nghiệp Tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN : 8 tỷ đồng Tỷ lệ nợ xấu : dưới 2% Trên đây là một số chỉ tiêu trong định hướng cho vay DNVVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng. Đây cũng là một động lực lớn để mọi nhân viên trong Ngân hàng đều phải nỗ lực và cố gắng đạt được. 3.2 Giải pháp mở rộng cho vay DNVVN tại Techcombank – Hai Bà Trưng Từ những nguyên nhân từ phía Techcombank – Hai Bà Trưng đã nêu trên đồng thời trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hoạt động cho vay đối với DNVVN tại chi nhánh này, em xin đưa ra một số đề xuất nhằm mở rộng hoạt động cho vay đối với DNVVN tại ngân hàng Techcombank – Hai Bà Trưng như sau: Nhận thức đúng về việc mở rộng cho vay đối DNVVN Do khách hàng có quan hệ với ngân hàng rất đa dạng và phong phú, mỗi đối tượng khách hàng đều có một nhu cầu, đòi hỏi khác nhau. Đối với mỗi loại đối tượng khách hàng thì ngân hàng sẽ có các chính sách, biện pháp khác nhau. Chính vì vậy, việc nhận thức đúng việc đẩy mạnh cho vay đối với DNVVN là một vấn đề hết sức quan trọng để từ đó có thể cụ thể hóa mục tiêu đẩy mạnh cho vay DNVVN vào chương trình hành động của từng đơn vị trong toàn bộ hệ thống. Mặt khác, phần lớn các DNVVN hiện nay chưa hiểu một cách đầy đủ về các dịch vụ ngân hàng, e ngại khi đến ngân hàng vay vốn. chính vì vậy, để thu hút được số lượng khách hàng là DNVVN thì ngân hàng cần có một số biện pháp như: ¬ Đẩy mạnh việc tiếp thị giới thiệu các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp. Thông qua hình thức này sẽ cho các khách hàng thấy được điểm ưu việt của các sản phẩm của ngân hàng mình so với các sản phẩm cùng loại của các ngân hàng khác. Đặc biệt, ngân hàng nên tổ chức các buổi hội nghị khách hàng DNVVN để từ đó các DNVVN biết đến ngân hàng và ngân hàng có cơ hội để tìm hiểu rõ thông tin về các khách hàng truyền thống và tiếp cận với khách hàng tiềm năng. ¬ Tìm hiểu một cách kỹ lưỡng tình hình làm ăn của khách hàng để đưa ra những quyết định cho vay phù hợp và đáp ứng yêu cầu của khách hàng và giảm thiểu được rủi ro cho ngân hàng ¬ Ngân hàng nên thường xuyên quảng bá, giới thiệu về những chính sách ưu đãi đối với các DNVVN như việc doanh nghiệp nào có uy tín, luôn thực hiện tốt các cam kết của hợp đồng tín dụng thì có thể hưởng các ưu đãi về lãi suất, phí dịch vụ.. ¬ Tăng cường họat động Marketing cho ngân hàng Mặc dù đối tượng DNVVN hiện nay là đối tượng phục vụ chính của ngân hàng nhưng hiện nay, ngân hàng vẫn chưa có phòng Marketing và các chiến lược marketing cụ thể cho đối tượng này. Chính vì vậy, ngân hàng cần phải hướng tới xây dựng phòng Marketing riêng biệt và có các chiến lược cụ thể về marketing cho đối tượng này Đổi mới quy trình cho vay đối với DNVVN Hiện nay, tại ngân hàng vẫn áp dụng quy trình cho vay chung đối với khách hàng là doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với DNVVN có những đặc điểm khác so với các loại hình doanh nghiệp khác. Ví dụ như là: quy mô hoạt động nhỏ, trình độ quản lý hạn chế, hệ thống sổ sách chưa rõ ràng, tài sản đảm bảo ít, nhu cầu vốn vay nhỏ.. Do đó, để có thể đẩy mạnh cho vay đối với DNVVN, ngân hàng cần đổi mới quy trình, thủ tục cho vay phù hợp với điều kiện và nhu cầu vốn vay của DNVVN. Cụ thể như ngân hàng có thể giảm bớt các thủ tục rườm rà, không cần thiết hay là xử lý các công đoạn cùng một lúc để tạo ra sự mau lẹ, nhanh chóng, đáp ứng được kịp thời nhu cầu vốn cho các DNVVN. Hoặc là ngân hàng có thể thực hiện phương pháp chấm điểm tín dụng định kỳ đối với các khoản vay để nâng cao chất lượng của các khoản vay… Trong quá trình đổi mới thì ngân hàng cần sử dụng các tiện ích công nghệ ngân hàng hiện đại để phục vụ khách hàng, tư vấn hỗ trợ khách hàng trong việc lập hồ sơ vay vốn. Khi mà thủ tục vay vốn phức tạp, phải qua nhiều công đoạn, cung cấp nhiều giấy tờ, con dấu…sẽ làm cho các khách hàng cảm thấy phiền hà, rắc rối và e ngại khi tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng đặc biệt đối với những món vay nhỏ của các DNVVN. Những thủ tục tuy trải qua nhiều công đoạn, phiền hà nhưng nó thực cũng không phải là điều kiện quyết định làm giảm rủi ro cho ngân hàng mà để có thể giảm thiểu rủi ro thì ngân hàng cần phải tiến hành,,,, Hoàn thiện và bổ sung các sản phẩm phù hợp với đối tượng khách hàng DNVVN. Tuy các sản phẩm hiện có của ngân hàng Techcombank – Hai Bà Trưng tương đối đa dạng, phong phú nhưng nó chưa thể phân tích, đánh giá loại sản phẩm nào là có hiệu quả. Do đó, cần có sự nghiên cứu, thiết kế lại tên gọi sản phẩm, nhóm loại sản phẩm cho phù hợp. Ngân hàng có thể tiến hành thông qua việc thiết kế lại các sản phẩm hiện có cho phù hợp với khách hàng DNVVN hoặc nghiên cứu phát triển sản phẩm mới. Trên cơ sở đó ban hành các hệ thống văn bản hướng dẫn cho từng loại sản phẩm riêng biệt. Xây dựng cơ chế cho vay linh động phù hợp với DNVVN. Nguyên tắc quan trọng trong hoạt động cho vay đó chính là “an toàn và hiệu quả”. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng tăng. Chính vì vậy, ngân hàng phải xây dựng một cơ chế cho vay gọn nhẹ, linh hoạt, phù hợp với loại hình DNVVN, đảm bảo khả năng sinh lời của họat động cho vay trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Thủ tục cho vay ¬ Rút ngắn thời gian xét duyệt vốn: hiện nay, thời hạn xét duyệt vốn của một khách hàng kể từ khi tiếp nhận hồ sơ tại Techcombank – Hai Bà Trưng là 4 đến 5 ngày. Tuy nhiên, các khách hàng luôn mong muốn được vay vốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn trong chu kỳ kinh doanh của mình. Chính vì vậy, các các cán bộ tín dụng cần phải tiến hành thẩm định, hoàn tất hồ sơ một cách nhanh chóng, rút ngắn thời gian xét duyệt vốn xuống khoảng 2 đến 3 ngày để đáp ứng nhu cầu cần thiết của khách hàng. Nhưng trong quá trình đó vẫn phải đảo bảo yêu cầu đúng và đủ. ¬ Tạo sự đơn giản, dễ hiểu trong thủ tục cho vay, phù hợp với trình độ của mọi đối tượng khách hàng. Cụ thể, các cán bộ tín dụng có thể hướng dẫn một cách tận tình cho khách hàng về các loại giấy tờ cần thiết trong quá trình vay vốn. Đối với các khách hàng là hộ tư nhân cá thể thì các giấy tờ cần đơn giản hóa và có thể in thành các mẫu biểu chung… Kỳ hạn cho vay Hiện nay, ngân hàng phần lớn đáp ứng nhu cầu cho vay ngắn hạn trong khi nhu cầu cho vay trung và dài hạn của DNVVN là rất lớn. Chính vì vậy, ngân hàng cần khai thác tối đa các nguồn vốn rẻ, dài hạn để tài trợ cho DNVVN. Bên cạnh đó, ngân hàng cần nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng bằng cách thực hiện tốt công tác phân tích khách hàng, tích cực thu thập các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để từ đó tăng tính an toàn, giảm độ rủi ro cho các khoản vay. Xem xét các phương án, dự án sản xuất kinh doanh của khách hàng có gắn với các biến động của môi trường, đặc thù của ngành nghề sản xuất kinh doanh… để từ đó đem ra những quyết định chính xác hơn. Việc xác định kỳ hạn nợ không chỉ căn cứ vào bảng tổng kết tài sản, kế hoạch sản xuất mà còn dựa vào hợp đồng mua bán tiêu thụ sản phẩm…Mỗi một khách hàng đều có một chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau, do đó ngân hàng cần tiến hành cho vay với từng kỳ hạn phù hợp Cơ chế đảm bảo tiền vay Hiện nay, ngân hàng mới chỉ áp dụng hình thức bảo đảm bằng tài sản thế chấp là chủ yếu. Trong khi đó các DNVVN hầu như tài sản có giá trị thấp, thậm chí không có tài sản đáng kể để thế chấp nên không có đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng đặc biệt là các nguồn vốn lớn. Vì vậy, ngân hàng nên kết hợp nhiều hình thức đảm bảo khác nhau, có các phương pháp quản lý tài sản thế chấp hợp lý và quan tâm nhiều hơn đến khâu thẩm định để giải quyết việc cho vay đối với các DNVVN đó. Phát triển bộ phận cho vay DNVVN và các quỹ riêng để cho vay đối với DNVVN Hiện nay, DNVVN là đối tượng khách hàng chính và luôn gắn với mục tiêu hoạt động của ngân hàng. Tuy hiện tại, ngân hàng đã có phòng DNVVN, tuy nhiên nó mới được thành lập nên chưa thực sự phát huy được vai trò của nó trong việc cho vay đối với DNVVN. Chính vì vậy, ngân hàng cần quan tâm đến bộ phận này và hình thành nên một quỹ riêng để cho vay đối với DNVVN. Thông qua đó, ngân hàng sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong việc cho vay đối với DNVVN và đem lại hiệu quả cao hơn trong việc cho vay của ngân hàng Đào tạo cán bộ chuyên sâu về doanh nghiệp vừa và nhỏ Đồng hành với việc bố trì đủ cán bộ phù hợp với số lượng khách hàng, cần quán triệt tới cấp cán bộ để thống nhất quan điểm, nhân thức về sự cần thiết của việc đẩy mạnh cho vay đối với DNVVN và tạo những kỹ năng, kiến thức chuyên mô về phục vụ khách hàng DNVVN. Tăng cường tính chủ động của các cán bộ ngân hàng Techcombank trong việc tiếp cận với khách hàng và hoàn thiện các kỹ năng giao dịch Bên cạnh đó, ngân hàng cần xây dựng cơ chế lương thưởng gắn với chất lượng và hiệu của công việc, đảm bảo tạo động lực cho cá cán bộ tâm huyết với nghề Tăng cường hoạt động marketing ngân hàng Marketing với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng là một trong số những hoạt động được chú trọng hàng đầu, ngân hàng cũng vậy. Hoạt động marketing hiệu quả sẽ giúp cho nhiều doanh nghiệp biết tới ngân hàng cùng với những ưu đãi của ngân hàng so với những ngân hàng khác. Hơn nữa với đối tượng là các DNVVN thì sự am hiểu về hoạt động cho vay cũng như quy trình vay vốn ngân hàng cùa doanh nghiệp còn nhiều hạn chế nên các DNVVN rất ngại ngần và sợ mất nhiều thời gian cho thủ tục vay ngân hàng. Vì thế để phát triển cho vay DNVVN ngân hàng cần tăng cường chiến dịch quảng ba, giới thiệu sản phẩm và các loại hình dịch vụ tới khách hàng. Để giúp khách hàng có các thông tin về các dịch vụ, tiện ích của ngân hàng, đặc biệt là về lĩnh vực cho vay, ngân hàng cần thực hiện cung cấp thông tin, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, ỉternet…Khi có những thay đổi lớn trong hoạt động cho vay, ngân hàng nên công bố rộng rãi để các doanh nghiệp đều biết được sự thay đổi kịp thời, kèm theo đó là các hướng dẫn về thủ tục để doanh nghiệp không bị bỡ ngỡ khi tìm đến với ngân hàng. Để tăng số lượng khách hàng, Techcombank - Hai Bà Trưng không chỉ thụ động chờ đợi khách hàng tìm đến với mình mà ngược lại, ngân hàng cần tìm kiếm thông tin, tiếp xúc khách hàng một cách chủ động. Ngân hàng thu thập thông tin về các doanh nghiệp, xem xét quan hệ tín dụng của khách hàng với ngân hàng hoặc đã phát sinh với các đối tác khác rồi từ đó định hướng những khách hàng mà ngân hàng cần hướng tới. Ngoài ra, Techcombank – Hai Bà Trưng còn cần tăng cường hoạt động tư vấn, hướng dẫn khách hàng khi khách hàng chưa nắm rõ những dịch vụ và quy trình của ngân hàng. Ngân hàng Techcombank – Hai Bà Trưng có thể chủ động tiếp xúc với các DNVVN qua các buổi hội thảo, gặp gỡ và trao đổi. Ngân hàng sẽ nắm bát được những nguyện vọng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp cũng như những thủ tục mà họ chưa thật sự hiểu rõ, từ đó tư vấn, hướng dẫn khách hàng tiềm năng, cần khai thác triệt để vì DNVVN tuy chỉ là những khách hàng nhỏ nhưng số lượng đông đảo, lĩnh vực hoạt động kinh doanh lớn, đa ngành nghề. Khi ngân hàng tham gia tư vấn, hỗ trợ họ thì họ có thể lập được những dự án có tính khả thi cao hơn, DNVVN có thể vay vốn nhanh và thận lợi hơn, DNVVN hoạt động có hiệu quả thì ngân hàng cũng thu được nguồn lợi nhuận cho mình, thúc đẩy cả nền kinh tế phát triển. Và khi doanh nghiệp đã trở thành khách hàng của ngân hàng thì ngân hàng cần có chính sách chăm sóc khách hàng chu đáo để không giữ chân được khách hàng cũ mà còn có thể lôi keo những khách hàng mới qua những khách hàng cũ đó, tăng thêm uy tín cho ngân hàng trên thị trường. Kiến nghị Kiến nghị với Chính phủ Trong những năm gần đây, chính phủ đã có những chính sách khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của DNVVN. Tuy nhiên, để cho các DNVVN có thể ngày càng phát triển tốt hơn thì em xin đề xuất một số những kiến nghị sau Chính phủ cần ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn tạo nên hành lang pháp lý thông thoáng cho các DNVVN có thể phát huy được nội lực của mình Chính phủ cần thực hiện một cách triệt để, công khai công cuộc cải cách hành chính trong đó có các chính sách ưu đãi đối với DNVVN, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể nâng cao trình độ năng lực quản lý, có thể tiếp xúc, học tập kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ngoài, có các chính sách hỗ trợ vốn, tư vấn quản lý và thành lập các quỹ bảo lãnh DNVVN nhằm tạo điều kiện cho các DNVVN có thể tiếp cận được nguồn vốn một cách đa dạng và hiệu quả Chính phủ phải tạo một sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế trong xã hội, không phân biệt đối xử, ưu tiên cho bất kỳ thành phần kinh tế nào, tạo động lực để mọi thành phần kinh tế để phát triển. Chính phủ nên chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán, kiểm toán và quản lý tài chính đảm bảo cung cấp thông tin chính xác cho ngân hàng về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN. Có các quy định cụ thể về thực hiện kế toán thường xuyên nhằm phản ánh kịp thời và chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, tạo được lòng tin từ phía khách hàng. 3.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước Ngân hàng nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước về toàn bộ các hoạt động ngân hàng thông qua hệ thống các văn bản quy định. Tất cả các hoạt động của ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động cho vay đối với DNVVN nói riêng đều phải tuân theo các quy định của các văn bản pháp luật nói trên. Chính vì vậy, ngân hàng nhà nước có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc định hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống các ngân hàng thương mại. Ngân hàng nhà nước đã ban hành chế độ cho vay đối với DNVVN theo quyết định số 18/NH-QĐ vào ngày 27/4/1988 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam, cho đến nay đã được gần 20 năm. Hiện nay để tiếp tục đẩy mạnh việc cho vay đối với các DNVVN thì Ngân hàng Nhà nước cần: † Ngân hàng nhà nước cần ban hành các văn bản hướng dẫn việc thi hành Luật và các văn bản khác một cách rõ ràng, chính xác và hạn chế sự thay đổi trong thời gian ngắn. Từ đó giúp cho các NHTM có thể có một cơ sở pháp lý đúng đắn, cụ thể, ổn định, tránh sự sai sót, nhầm lẫn và có thể thúc đẩy, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động của NHTM nói chung và hoạt động cho vay của NHTM nói riêng. † Cần đảm bảo việc cung cấp các thông tin về DNVVN một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ cho các NHTM. Nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin tín dụng của NHNN bằng việc phối hợp với các cơ quan, ban ngành khác trong việc thu thập, xử lý thông tin của các doanh nghiệp như là: Bộ tài chính, cơ quan thuế, bộ kế hoạch đầu tư, chính quyền địa phương, các NHTM và kể cả các doanh nghiệp.. Thông qua đó, nó sẽ giúp cho các NHTM có thể thuận lợi trong việc tiếp cận những thông tin cần thiết về doanh nghiệp vay vốn và từ đó có thể đưa ra các quyết định đầu tư chính xác † NHNN cần có các biện pháp nhằm tăng thêm quyền tự chủ cho các NHTM ví dụ như không can thiệp quá sâu vào mức lãi suất, hình thức cho vay…để cho các NHTM có thể tự do cạnh tranh một cách bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật để từ đó có thể nâng cao được hiệu quả hoạt động của các NHTM. † NHNN cần nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát các NHTM trong hoạt động cho vay đặc biệt là cho vay đối với DNVVN. Nó có thể đựợc thực hiện theo hình thức giám sát từ xa hay kiểm tra tại chỗ. Từ đó một mặt, nó tìm ra những bất cập trong hoạt động cho vay của NHTM. Mặt khác, nó còn đưa ra những kiến nghị, giải pháp tháo gỡ, sửa chữa những sai sót cho NHTM để phần nào có thể nâng cao được chất lượng của hoạt động cho vay của các NHTM, ngăn ngừa và hạn chế các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng † NHNN cần đưa ra một quy chế cho vay và quy chế miễn giảm lãi suất riêng đối với các DNVVN để từ đó các NHTM có căn cứ cụ thể hơn nữa trong việc thực hiện cho vay đối với đối tượng khách hàng này. † NHNN cần sớm đưa quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN đi vào hoạt động. Hiện nay, mặc dù các quỹ này đã được thành lập nhưng nguồn vốn chủ yếu của nó theo quy định là do NHTM đóng góp. Chính vì vậy, nó rất khó được triển khai vì các NHTM chưa thực sự thấy được sự cần thiết của quỹ này, đồng thời các NHTM phải bỏ tiền ra để bảo lãnh cho chính những khoản cho vay của mình. NHNN cần có quy định cụ thể về mức bảo lãnh đối với một NHTM căn cứ vào mức độ đóng góp vào quỹ. Trước mắt có thể trích một phần của quỹ dự trữ bắt buộc của NHTM để tạo nguồn quỹ này. Sau đó, NHNN còn có thể có các kiến nghị với chính phủ về việc cho phép giữ lại một phần thuế thu nhập của các NHTM để bổ sung cho quỹ bảo lãnh tín dụng đối với DNVVN Kiến nghị với doanh nghiệp vừa và nhỏ Vay vốn để hoạt động kinh doanh và sản xuất là mục tiêu chính của đa số các DNVVN. Để bản thân các doanh nghiệp thuận lợi trên con đường tiếp cận nguồn vốn khách hàng thì các DNVVN cần thực hiện các biện pháp sau: Thứ nhất DNVVN phải nâng cao năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp là người đứng mũi chịu sào của doanh nghiệp, có ảnh hưởng lớn tới định hướng và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó người chủ doanh nghiệp cần tự nâng cao trình độ, trau dồi kiến thức về tài chính, quản lý về thị trường…theo dõi sự biến động thường xuyên của doanh nghiệp mình từ đó ra quyết định đúng đắn. Người đứng đầu doanh nghiệp cũng cần có những hiểu biết nhất định về tạo lập phương án sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, lập dự án, có như vậy mới dễ dàng trong việc điều hành nhân viên thực hiện các nhiệm vụ trên, mới đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe từ ngân hàng trong quy trình vay vốn. Ngoài ra chủ doanh nghiệp còn là người chịu trách nhiệm chấp hành qui định của pháp luật về kinh doanh, chế độ kế toán trong doanh nghiệp, tính hợp pháp, hợp lệ của những báo cáo cung cấp cho ngân hàng… Chủ DNVVN cần chủ động trong việc cung cấp thông tin một cách trung thực, tỉ mỉ cho ngân hàng có như vậy mới tạo được lòng tin với ngân hàng. Thứ hai, khi đã được vay vốn, DNVVN cần có trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay một cách an toàn, có hiệu quả, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích. Trong quá trình sử dụng vốn, DNVVN cần theo dõi chặt chẽ việc phân bổ nguồn vốn, tiến độ sản xuất tránh tình trạng lãng phí. Hơn nữa DNVVN cần nêu cao ý thức về nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn, không chây ì, tuân thủ đúng những điều đã ký kết trong hợp đồng tín dụng với ngân hàng 3.2.4 Kiến nghị vơí Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam Hiệp hội DNVVN là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tập hợp, liên kết, hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ các DNVVN Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Trong thời gian qua, hiệp hội đã tổ chức nhiều đoàn doanh nghiệp Việt Nam đi tham quan, khảo sát và tiếp thị tại nước ngoài: tổ chức đoàn đi dự hội Koblenz – CHLB Đức ( 1995 ); tổ chức đoàn DN tham quan, khảo sát thị trường Bỉ, Pháp, Đức, Hà Lan (1996, 1997); tổ chức đoàn DN đi hội chợ thương mại quốc tế SMIOS tại Malaysia ( 6/2002); tỏ chức đoàn DN Việt Nam đi dự Hội chợ DNVVN tại Kuala Lumpur, Malaysia… Bên cạnh việc tổ chức cho các đoàn DN đi tham quan thị trường nước ngoài, hiệp hội còn tiến hành nhiều hoạt động xúc tiến thương mại và hỗ trợ xuất khẩu trong nước… Tuy nhiên, để góp phần mở rộng cho vay DNVVN trong thời gian tới, Hiệp hội DNVVN cần tăng cường tiến hành kết nối hơn nữa giữa các doanh nghiệp với cơ quan chức năng trong mọi mặt hoạt động, đồng thời làm tham mưu, đóng góp ý kiến với các cơ quan nhà nước nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách vì lợi ích đất nước nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách vì lợi ích đất nước và vì lợi ích của doanh nghiệp… Bên cạnh đó, Hiệp hội nên có các chương trình hỗ trợ tích cựu hơn cho các doanh nghiệp hội viên, để Hiệp hội thực sự trở thành một khối vững mạnh, có sự gắn kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp hội viên với nhau và với Hiệp hội như thường xuyên tiến hành các cuộc hội thảo, giao lưu trao đổi kinh nghiệm giữa các DNVVN, các buổi làm việc giữa các ngân hàng với doanh nghiệp… Hơn nữa, Hiệp hội DNVVN có thể triển khai các hoạt động tăng cường tuyên truyền giáo dục thành viên xây dựng văn hóa kinh doanh tiến bộ, kinh doanh trung thực, có ý chấp hành luật pháp và trách nhiệm cộng đồng cao, nâng cao chất lượng cung cấp thông tin, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hình thức trao đổi kinh nghiệm và cơ hội kinh doanh. Trong thời gian tới, Hiệp hội DNVVN phải ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng trong hoạt động của hệ thống DNVVN. Qua đó, hiệp hội góp phần thực hiện các hoạt động cung cấp thông tin, marketing làm cầu nối cho doanh nghiệp với thị trường và ngoài nước, đặc biệt là trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho DNVVN, tiến hành nhiều hoạt động hơn nữa cho các DNVVN. Sự lớn mạnh của các DNVVN cả về quy mô và chất lượng kinh doanh là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng cho day DNVVN. Trên đây là một số kiến nghị với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng việc mở rộng cho vay DNVVN tại chi nhánh Techcombank – Hai Bà Trưng. Tuy nhiên, hoạt động này có thực hiện được tốt hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện các giải pháp. Bên cạnh đó, Techcombank – Hai Bà Trưng nên thường xuyên tiến hành đánh giá và xem xét lại thực trạng mở rộng cho vay để có những định hướng đúng đắn và phù hợp hơn. KẾT LUẬN Để có thể mở rộng cho vay đối với DNVVN và để cho vốn tín dụng của Ngân hàng thực sự đem lại hiệu quả cho các DNVVN có thể phát triển được các họat động của họ tốt hơn nữa thì cần phải có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía liên quan như: ngân hàng, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước… Trên cơ sở phân tích tình hình thực tế ở Ngân hàng, chuyên đề thực tập của em đã có những đánh giá cơ bản về thực trạng hoạt động cho vay đối với DNVVN tại Ngân hàng và đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị đối với cơ quan nhà nước cũng như các DNVVN nhằm tạo ra sự thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan nhằm giải quyết những khó khăn, tháo gỡ các rào cản nhằm nâng cao hiệu quả họat động cho vay đối với DNVVN. Với tầm nhìn và sự hiểu biết còn có hạn, thêm vào đó là những sự biến đổi không ngừng của môi trường kinh doanh và sự đa dạng, phong phú về hoạt động của NHTM nên những vấn đề đưa ra của bài viết này còn gặp nhiều thiếu sót. Chính vì vậy, em hi vọng sẽ nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Ngân hàng cũng như của các thầy cô giáo trong khoa Ngân hàng - Tài chính mà đặc biệt là giáo viên trực tiếp hướng dẫn chuyên đề. Tuy nhiên, em cũng hi vọng rằng những ý kiến, giải pháp đưa ra sẽ được quan tâm, trở thành đóng góp nhỏ trong tổng thể các giải pháp để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay đối với DNVVN ở Techcombank – Hai Bà Trưng hiện nay. Em xin chân thành cảm ơn! DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS Phan Thị Thu Hà, giáo trình NHTM, NXB Thống kê-2006 2. GS.TS Lê Văn Tư, Nghiệp vụ NHTM, NXB Tài chính 3. TS. Lê Xuân Bá, TS. Trần Kim Hào, TS. Nguyễn Hữu Thắng: DNVVN của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị quốc gia - 2006 4. Luật các tổ chức tín dụng số 07/QH của nước CHXHCNVN 5. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/1/2001 về trợ giúp phát triển DNVVN. 6. Tạp chí ngân hàng số 2,3 tháng 3/2008 7. Tạp chí kinh tế và phát triển số 12/2008 8. Một số website: www.vnexpress.com www.vcci.com.vn www.vneconomy.com.vn www.saga.vn www.baodientu.chinhphu.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMở rộng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, chi nhánh Hai Bà Trưng.doc
Luận văn liên quan