Đề tài Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Tĩnh

Hoạt động huy động vốn đã và đang là một trong những nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của các NHTM nói chung và của Ngân hàng ngoại thương Bắc Hà Tĩnh nói riêng. Mặc dù vẫn còn một số tồn tại trong công tác huy đ ộng vốn, song Chi nhánh đã đạt đư ợc những kết quả đáng khích lệ trong những năm qua, nguồn vốn huy động liên tục tăng trưởng với tỷ lệ cao, luôn đảm bảo an toàn tuy ệt đối, được đông đảo khách hàng tín nhiệm. Trong những năm tới, đ ể đạt được những kết quả như mong muốn đòi hỏi Chi nhánh phải có chiến lược huy động vốn đúng đắn với các giải pháp, biện pháp kinh doanh đồng bộ trên cơ sở nội lực của Chi nhánh, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

pdf57 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 25/02/2014 | Lượt xem: 1697 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Tĩnh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hoản này không sinh lời, trong khi huy động dài hạn thì không phải dự trữ bắt buộc mà có thể được phép sử dụng 100 %. BẢNG 2.12. Tình hình huy động, sử dụng vốn trung, dài hạn Đơn vị: Triệu đồng Khoản mục Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 1.Nguồn vốn trung và dài hạn 125.143,8 153.457 178.573 2. Sử dụng vốn trung, dài hạn 139.116,7 162.387 185.427 3. Phần dư nguồn vốn trung dài hạn -46.027,1 - 8.930 - 6854 ( Nguồn: Báo cáo cân đối của NHVietcombank Bắc Hà Tĩnh 2009-2011) Qua số liệu trên ta thấy nhu cầu vay vốn và đầu tư trung, dài hạn tăng nhanh, việc huy động vốn trung dài hạn chưa gắn với việc sử dụng vốn. Qua các năm, phần dư nguồn vốn trung, dài hạn đều âm, ngân hàng phải chuyển hoán nguồn, dùng phần lớn phần dư nguồn vốn ngắn hạn để bù đắp. Năm 2010 so với năm 2009, nhu cầu sử dụng vốn trung dài hạn tăng 16,7%, trong khi nguồn để cho vay trung, dài hạn tăng 22,6% nhưng cũng vẫn không đủ đáp ứng cầu sử dụng vốn ( âm 46.027,1). Năm 2011 với năm 2010, nhu cầu sử dụng tăng 14,2 % trong khi nguồn vốn dài hạn chỉ tăng 16,36%, nhưng phần dư nguồn vốn trung dài hạn (- 6854). Như vậy, mặc dù nguồn có tăng, thậm chí còn tăng nhanh hơn cả nhu cầu sử dụng nhưng về số lượng vẫn không đáp ứng được nhu cầu sư Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 35 dụng. NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh buộc phải dùng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay, bù đắp thiếu hụt. Phân tích mối quan hệ giữa huy động vốn, sử dụng vốn ngắn hạn BẢNG 2.13: Tình hình huy động, sử dụng vốn ngắn hạn Đơn vị: Triệu đồng Khoản mục Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 1.Nguồn vốn NH 337.715,8 397.264 574.234 2. Sử dụng vốn NH 221.752 329.326 433.208 3. Phần dư nguồn vốn NH 115.963,8 67.938 141.206 Nguồn: Báo cáo cân đối huy động, sử dụng vốn Qua phân tích ở trên ta thấy nguồn vốn của VCB Bắc Hà Tĩnh có tăng nhanh nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu vay vốn cho nền kinh tế. Vốn ngắn hạn huy động thừa so với nhu cầu (năm 2009 dư 115.963,8 triệu đồng; năm 2010 phần dư nguồn vốn dai hạn là 67.938). Phần dư nguồn vốn ngắn hạn lớn nhất là năm 2011 khi thực hiện lãi suất thả nổi có điều tiết thì số dư nguồn lên tới 141.206 triệu đồng. Mức tăng lớn đã làm cho cơ cấu giữa nguồn ngắn hạn và dài hạn có sự thay đổi lớn. Tóm lại, việc huy động và sử dụng vốn của NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh chưa thực sự hợp lý: huy động vốn tăng nhưng chủ yếu là huy động vốn ngắn hạn, huy động vốn trung dài hạn có tăng về cơ cấu, qui mô nhưng còn chiếm tỷ lệ nhỏ. 2.3. Đánh giá thực trạng huy động tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Bắc Hà Tĩnh Hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cũng như hoạt động của các ngân hàng khác đều chịu sự tác động của môi Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 36 trường kinh doanh, chính sách pháp luật của Nhà nước và các yếu tố liên quan đến bản thân ngân hàng. Do vậy hoạt động huy động vốn cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhiều nhân tố đó. Từ thực trạng huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh em rút ra được những thành tựu mà ngân hàng đã đạt được cũng như những khó khăn còn vướng mắc như sau: 2.3.1. Những kết quả đạt được Trong những năm qua chi nhánh VCB Bắc Hà Tĩnh đã chủ động xác định rõ chiến lược, phương châm hoạt động kinh doanh trong từng thời kỳ. Căn cứ vào thực trạng công tác huy động vốn ở trên, ta thấy hiệu quả công tác huy động vốn tương đối cao. Điều này thể hiện qua các kết quả đạt được cụ thể như sau: Chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh đã hoàn thành kế hoạch huy động vốn trong ba năm gần đây (2009 – 2011). Đặc biệt năm 2011, NH đã đạt chỉ tiêu huy động vốn trong suốt quá trình hoạt động đạt 520.917 triệu đồng. Ngoài ra, cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh còn có sự thay đổi đáng kể, từ việc chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh chỉ huy động nguồn vốn ngắn hạn của tổ chức và trong dân; trong năm 2010 chi nhánh đã khai thác được nguồn vốn trung và dài hạn của dân cư và tổ chức đạt 94.622 triệu VNĐ. Nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ của chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cũng tăng lên đáng kể. Năm 2011, chi nhánh huy động vốn ngoại tại Ngân hàng là 109.902 triệu VNĐ, tăng so với cùng kỳ năm ngoái là 39.992 triệu VNĐ, tỷ lệ tăng 44,8%. Đồng thời, CN Ngân hàng VCB Bắc Hà Tĩnh còn tăng được số dư tiền gửi đạ t:446.867 triệu VNĐ Về quy mô huy động vốn: Với mục tiêu và chiến lược kinh doanh nhằm không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh, NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh đặt ra phương châm tập trung khai thác nguồn nhàn rỗi của các thành phần kinh tế một cách có hiệu quả, chú trọng hơn tới những đối tượng trong ngành để tài trợ cho những nhu cầu ngày càng tăng của danh mục tài sản. Trong những năm trở lại đây, vốn huy động từ tiền gửi tăng dần qua các năm. Hơn nữa, với tỷ trọng nguồn tiền gửi lớn hơn rất nhiều nguồn tiền vay đã giúp ngân hàng giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Trong nguồn tiền gửi, tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng luôn chiếm tỷ trọng cao một mặt tạo điều kiện tăng số dư và giảm chi phí đầu vào, mặt khác giúp ngân hàng mở rộng các dịch vụ liên quan đến huy động vốn Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 37 như phát hành thẻ .v.v..Tiền gửi của tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Về cơ cấu: Cũng giống các NHTM CP khác, nguồn huy động chủ yếu của là nguồn ngắn hạn, tuy vậy nguồn này của NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh lại không biến động nhiều. Nguồn có kỳ hạn trung và dài có xu hướng tăng tuy cũng chưa đủ đáp ứng cầu nhưng đã thể hiện sự chuyển biến tích cực, cho thấy sự chú trọng của ngân hàng về vốn trung và dài hạn. Nguyên nhân kết quả đạt được: NH VCB Bắc Hà Tĩnh không ngừng lớn mạnh cả về quy mô và cơ cấu, phát triển một mạng lưới huy động vốn rộng khắp ở tất cả các chi nhánh tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm. Thương hiệu của ngân hàng ngày càng có chỗ đứng tin cậy, vững chắc trong lòng khách hàng. Trong công tác điều hành và quản lý vĩ mô, NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh đã sớm đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp huy động vốn hợp lý, luôn bổ xung và hoàn chỉnh các quy chế theo hướng phát huy quyền chủ động sáng tạo. Trong thời gian qua, ngân hàng đã thực hiện một chính sách huy động mềm dẻo trên cơ sở phân tích, dự đoán xu hướng biến động, dùng công cụ lãi suất thả nổi có điều tiết để thu hút khách hàng. Những năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân đã thu được những thành tựu đáng kể. Đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được nâng lên, rút ngăn khoảng cách chênh lệch về kinh tế của địa phương so với mức tring bình của cả nước. những kết quả đạt được này đã góp phần thúc đẩy công tác huy động - Nhà nước ta đã thành lập công ty bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ lợi cho người gửi tiền, điều này làm tăng niềm tin của khách hàng, đối với đồng tiền. Các kênh huy động vốn càng ngày được mở rộng. Ngân hàng áp dụng thành công nghiệp vụ quỹ tiết kiệm gắn với dịch vụ thanh toán chuyển tiền nên đã tạo được sức hút khá lớn lượng kách hàng đến giao dịch. - Cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng phục vụ hoạt động nghiệp vụ huy động vốn đã và đang được đổi mới, nâng cấp. - Quan hệ của ngân hàng đối với các ngân hàng khác trong nước ngày một phát triển hỗ trợ đắc lực cho việc huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng. - Tích cực khai thác và huy động nguồn vốn tại chỗ, Chi nhánh NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh đã tranh thủ được sự hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của nguồn vốn trong nội bộ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, đáp Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 38 ứng thỏa mãn kịp thời mọi nhu cầu hợp lý về vốn cảu khách hàng. - Về đội ngũ cán bộ, ngân hàng đã tạo dựng một môi trường làm việc hấp dẫn và thuận lợi nhằm thu hút nhân viên giỏi, luôn khuyến khích người lao động học tập, nâng cao trình độ. 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 2.3.2.1 Hạn chế Trong quá trình thực hiện chính sách huy động vốn của mình, NHTM VCB Bắc Hà Tĩnh cũng gặp phải những trở ngại chủ quan cũng như khách quan. Cụ thể: - Trình độ của lực lượng làm công tác huy động vốn chưa đáp ứng được yêu cầu, thái độ, tác phong làm việc, giao dịch còn kém. Một số cán bộ điều hành và tác nghiệp còn lúng túng trước diễn biến của thị trường, chậm đổi mới tư duy và điều hành kinh doanh theo cơ chế thị trường. - Hoạt động dịch vụ được tăng cường nhưng chưa đa dạng và phong phú. Chủ yếu vẫn là sản phẩm, dịch vụ truyền thống và đơn giản như nhận tiền gửi và cho vay. Chi nhánh chưa khai thác tối đa công nghệ hiện đại của ngân hàng để đẩy mạnh hoạt động dịch vụ nên tỷ trọng thu phí trong thu nhập còn thấp. - Việc thu thập thông tin và xử lý thông tin nội bộ còn nhiều hạn chế. - Việc tổ chức nghiệp vụ không được định hướng rõ nét theo khách hàng, một số nghiệp vụ còn chồng chéo, không khoa học, hệ thống tổ chức quản lý công tác huy động vốn còn chưa phù hợp nên thích ứng chậm với thị trường, hiệu quả huy động vốn chưa cao. 2.3.2. 2. nguyên nhân 2.3.2.2.1. Nguyên nhân chủ quan + NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh chưa thực hiện tốt công tác phân tích nguồn vốn, mặc dù những năm qua ngân hàng đã nghiên cứu, xem xét vấn đề này nhưng những việc đó chưa đúng với thực chất phân tích nguồn vốn. + Thực tế cho thấy, ngân hàng bị mất cân đối về kỳ hạn huy động, cơ cấu vốn huy động chưa thực sự cân xứng và phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn về kỳ hạn. Việc cân đối nguồn vốn, lập kế hoạch dự trữ chưa tốt. Vì vậy, NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh có nơi có lúc vẫn phải vay vốn trên thị trường liên ngân hàng. + NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh vẫn duy trì huy động vốn bằng những hình thức đơn giản, truyền thống. Các hình thức mới như : tiết kiệm tích Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 39 luỹ, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm có mục đích gần đây mới được triển khai nhưng còn chậm, mới ở mức độ thăm dò, thử nghiệm.Việc triển khai huy động vốn thông qua hình thức phát hành giấy tờ có giá đang còn khiêm tốn của NH. + NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh vẫn chưa xác định rõ được chiến lược khách hàng phù hợp, từ đó chưa có chính sách khách hàng hợp lý. Việc tổ chức thực hiện chính sách chưa thường xuyên, mức độ chưa thoả đáng, NHTM CP VCB Bắc Hà Tĩnh cũng chưa đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, tìm hiểu khách hàng. Trải qua thời gian dài hoạt động, NHTM CP VCB Bắc Hà Tĩnh đã bộc lộ hạn chế: việc tiếp cận cộng đồng dân cư còn thụ động, công tác tuyên truyền, quảng cáo, cung cấp thông tin cho khách hàng chưa đa dạng, từ đó sự hiểu biết của người dân đối với ngân hàng còn hạn chế. +Việc thu thập thông tin diễn biến lãi suất, nhu cầu người gửi tiền của cán bộ làm công tác huy động vốn dân cư còn thụ động. Hầu hết các khách hàng có nhu cầu mở và sử dụng tài khoàn tiền gửi đều tự đến ngân hàng, cán bộ huy động chưa thực sự tìm hiểu sâu sắc các nhu cầu từng khách hàng cũng như chưa chủ động lôi cuốn khách hàng về giao dịch tại CN. + Trong thời gian qua, NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh tuy đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách lãi suất của mình, song cũng chỉ dừng lại ở mức độ tương đối. Trên cơ sở tham khảo các mức lãi suất của các ngân hàng lớn, ngân hàng đưa ra các mức lãi suất. Việc đưa ra các mức lãi suất chủ yếu dựa trên cơ sở định tính, dựa trên việc phân tích , tổng hợp lãi suất đầu ra ,đầu vào chưa được chú trọng. 2.3.2.2.2. Nguyên nhân khách quan Bên cạnh những nguyên nhân từ chi nhánh VCB Bắc Hà Tĩnh, nhiều mặt cũng tồn tại của Chi nhánh một phần cũng do các yếu tố bên ngoài tác động, hoạt động kinh doanh của Vietcombank Bắc Hà Tĩnh đặt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, việc tìm kiếm thị trường nguồn vốn với chi phí thấp sẽ không phải là dễ dàng. + Những khó khăn của tỉnh Hà Tĩnh ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Chi nhánh. Hà Tĩnh vẫn là một tỉnh nghèo, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chưa vững chắc. Công tác tổ chức, sắp xếp lại, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước còn triển khai chậm. Do vậy hoạt động ngân hàng của Chi nhánh cũng bị ảnh hưởng không tốt của nhân tố này. + Chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh phải chịu sự Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 40 điều hoà trực tiếp của Ngân hàn Ngoại Thương Việt nam Do vậy có những điều không phù hợp với tình hình thực tế của ngân hàng. Các hình thức huy động vốn của Chi nhánh còn bị hạn chế, do đó cần phải đa dạng hoá hơn nữa các hình thức huy động vốn nhằm tăng nguồn vốn huy động tại chỗ đáp ứng nhu cầu đầu tư cho vay. + Chi nhánh ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh đóng tại địa bàn thị xã Hồng Lĩnh ( Hà Tĩnh) là một huyện có nền kinh tế chưa phát triển, dân cư chủ yếu là công nhân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ với thu nhập thấp, tích luỹ ít ỏi. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới lượng tiền gửi tiết kiệm mà Chi nhánh có thể huy động. Đặc biệt đối với Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh trong tổng nguồn huy động tại chỗ thì tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm khá cao (>70%). Do vậy nó càng ảnh hưởng nhiều hơn tới công tác huy động vốn. + Tâm lý ưa dùng tiền mặt của dân chúng cũng ảnh hưởng rất nhiều tới công tác huy động vốn. + Các quy định chung liên quan đến hoạt động ngân hàng cũng ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của Chi nhánh. Như về tỷ lệ dữ trữ bắt buộc quy định đối với các Ngân hàng Thương mại Quốc doanh là 5% trên tổng số dư tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng; tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đồi với số dư tiền gửi ngoại tệ USD là 8%. Theo quy định ( của Thổng đốc Ngân hàng Nhà nước) thì khả năng mở rộng tín dụng sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều vị hiện nay Chi nhánh chủ yếu huy động vốn ngắn hạn. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát, là tiền đề cơ bản để người dân gửi tiền vào ngân hàng nhưng nhìn chung lòng tin vào sự ổn định của đồng tiền chưa cao khi giá cả và tỷ giá biến động. Cạnh tranh ngày càng gay gắt diễn ra đồng thời trên 2 mặt : Một mặt, cạnh tranh diễn ra các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp từ đó ngân hàng khó khăn trong việc tìm kiếm doanh cho hoạt động tài trợ của mình. Mặt khác, cạnh tranh diễn ra trong nội bộ hệ thống các NHTM với nhau và với các định chế tài chính phi ngân hàng trong hoạt động huy động vốn. 3.Giải pháp huy động vốn tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Tĩnh Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, huy động vốn và sử dụng vốn là hai nghiệp vụ chủ yếu quyết định sự tồn tại, phát triển của một ngân hàng. Nếu nghiệp vụ sử dụng vốn có hiệu quả thì có tác động tích cự đến công tác huy động vốn của ngân hàng. Qua phân tích tình hình thực tế về công tác huy động vốn tại CN Ngân hàng Ngoại thương Bắc Hà Tĩnh đã đạt được nhiều thành công, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế. Mục tiêu của V ie t c o m b a n k Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 41 Bắc Hà Tĩnh trong thời gian tới là tăng trưởng nguồn vốn huy động và mở rộng tín dụng. 3.1.Định hướng phát triển của Vietcombank – CN Bắc Hà Tĩnh * Tổ chức thực hiện tốt mọi nhiệm vụ chính trị của NH TMCP NT, mở rộng mạng lưới huy động vốn gắn với tăng trưởng dư nợ lành mạnh. Coi trọng công tác cán bộ, duy trì mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, khuyến khích các phòng tổ chức các chuyên đề thảo luận, học tập, trao đổi kinh nghiệm đào tạo và tự đào tạo tại chỗ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành. * Tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của các cấp lãnh đạo chính quyền địa phương, ngành, đoàn thể, tạo sức mạnh tổng hợp hỗ trợ đắc lực cho công tác kinh doanh, xử lý tốt tài sản đảm bảo tiền vay. Năm 2012, được đánh giá là năm nền kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên với nghành ngân hàng năm 2012 là một năm cạnh tranh khốc liệt về thị trường huy động vốn, để đáp ứng nhu cầu vay vốn của nềnkinh tế đòi hỏi các ngân hàng phải hết sức nỗ lực và đạt mục tiêu huy động vốn lên hàng đầu. - Mục tiêu tăng trưởng huy động vốn 36% so với năm 2011, và đạt: 708 tỷ đồng. Trong đó: + Huy động VNĐ tăng 33% và đạt: 546 tỷ đồng + Huy động USD tăng 43% và đạt: 157 tỷ đồng + huy động tổ chức kinh tế tăng 27% và đạt: 228 tỷ đồng + Huy động từ dân cư tăng 39% và đạt: 480 tỷ đồng - Mục tiêu tăng trưởng tín dụng 25% so với năm 2010, và đạt: 773 tỷ đồng. Trong đó: + Dư nợ ngắn hạn: tăng 16% và đạt: 502 tỷ đồng + Dư nợ trung và dài hạn: tăng 46% và đat: 271 tỷ đồng + Dư nợ VNĐ: tăng 24% và đat: 624 tỷ đồng + Dư nợ ngoại tệ: tăng 27% và đạt: 149 tỷ đồng - Tỷ lề nợ xấu tối đa theo QĐ443: 2% tổng dư nợ bằng 9 tỷ - Tỷ lệ nợ xấu tối đa theo xếp hạng tín dụng nội bộ: 3,5% tổng dư nợ bằng 17 tỷ đồng - Tỷ trọng cho vay thể nhân: 18% tương đương 112 tỷ đồng - Tỷ trọng cho vay SMES: 70% tương đương 434 tỷ đồng. - Dư nợ bảo lãnh bình quân năm 92 tỷ đồng tăng 29% so với năm 2010 3.2. Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Vietcombank – VN Bắc Hà Tĩnh Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 42 Sau khi tìm hiểu thực tế công tác huy động vốn tại Vietcombank Bắc Hà Tĩnh, căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ của Vietcombank Bắc Hà Tĩnh, em xin đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn, tồn tại cũng như nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn, góp phần tăng nguồn vốn, giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. 3.2.1. Có định hướng, kế hoạch huy động vốn phù hợp. Biện pháp đầu tiên mà ngân hàng có thể làm là phải luôn luôn đánh giá một cách chi tiết, phân tích tỉ mỉ tình hình tỷ trọng, kết cấu nguồn vốn ..., tình hình thực tiễn của Việt Nam (môi trường kinh tế, pháp lý, môi trường xã hội, tâm lý, môi trường đối ngoại) để tìm ra những khó khăn vướng mắc xuất phát từ phía ngân hàng hay những người gửi tiền. Đồng thời, ngân hàng phải chủ động xây dựng cân đối nhu cầu vốn. Trên cơ sở đó, ngân hàng lập chiến lược dài hạn về huy động vốn để từ đó có những biện pháp huy động vốn phù hợp, đáp ứng nhu cầu vốn cho bản thân ngân hàng nói riêng, cho nền kinh tế nói chung và không để bị đọng vốn trong quá trình sử dụng vốn. Các định hướng, kế hoạch về công tác huy động vốn phải được xuất phát từ những yêu cầu sau: * Coi khai thác triệt để các nguồn vốn dưới mọi hình thức, theo nhiều kênh khác nhau vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là yêu cầu mang tính giải pháp tình thế hiện nay. * Gắn chiến lược tạo nguồn với chiến lược sử dụng nguồn trong một thể đồng bộ, nhịp nhàng. * Luôn có biện pháp nâng tỷ trọng vốn tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, đồng thời tăng khối lượng tiền gửi từ các tầng lớp dân cư để tạo lập một mặt bằng vốn luân chuyển vững chắc. 3.2.2.Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn 3.2.2.1. Đa dạng hóa tiền gửi tiết kiệm Tốc độ tăng trưởng của tiền gửi tiết kiệm tăng nhanh qua các năm và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động. Sở dĩ như vậy vì người Việt Nam có thói quen tiết kiệm để dự phòng lúc ốm đau, bệnh tật hay mua sắm. Mục đích của họ là để kiếm lời, tích lũy. Nắm bắt được điều này, Vietcombank Bắc Hà Tĩnh đã đưa ra nhiều kỳ hạn gửi với các mức lãi suất khác nhau nhằm thu hút nguồn vốn này. Tuy nhiên, Vie tcombank Bắc Hà Tĩnh cần có những giải pháp thích hợp hơn để thu hút được nguồn vốn dồi dào này. Thứ nhất, Đa dạng hoá các hình thức gửi tiền tiết kiệm trong dân cư bao gồm cả tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi sử dụng thẻ, trái phiếu, kỳ phiếu. Áp dụng hình thức gửi nhiều lần lấy gọn một lần, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 43 tuổi già, tiết kiệm tích luỹ, hay tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm nhà ở... Thứ hai, Quầy gửi tiền tiết kiệm của dân chúng phải phân bổ ở nhiều nơi, đảm bảo thuận tiện cho khách hàng. Thứ ba, Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cần cải tiến thời gian làm việc để thuận tiện cho người gửi, rút tiền. Đây là một vấn đề rất quan trọng vì có những người chỉ có ngoài giờ làm việc hoặc ngày nghỉ mới có thời gian để đến Ngân hàng gửi tiền cũng như rút tiền. Thứ tư, Cải cách lề lối làm việc, thủ tục trong việc huy động vốn qua các tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Tránh sử dụng nhiều chứng từ, thủ tục rườm rà, tốn công sức, tiền của của Ngân hàng mà khách hàng lại không hài lòng. Sự linh hoạt về kỳ hạn cũng là một sự hấp dẫn tiền gửi. Bên cạnh các kỳ hạn đang áp dụng, ngân hàng mở rộng thêm các thời hạn gửi tiền như 9 tháng, 2 năm, 3 năm, 5 năm... và thậm chí 10 năm. Việc áp dụng hình thức gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn với thời hạn khác nhau sẽ tăng nguồn vốn trung và dài hạn, tạo điều kiện đa dạng hoá các hình thức sử dụng vốn tại ngân hàng 3.2.2.2. Đa dạng hóa tài khoản tiền gửi cá nhân Hình thức này giúp ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư với lãi suất thấp. Đồng thời, phát triển tài khoản cá nhân góp phần hiện đại hoá quá trình thanh toán qua ngân hàng, giảm tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông. Để tăng số lượng tài khoản tiền gửi cá nhân để góp phần thúc đẩy quá trình thanh toán không dùng tiền mặt trong xã hội thì Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cần chú ý hơn nữa đến hình thức. Bởi vì nước ta vẫn còn nghèo, thu nhập bình quân thấp, tâm lý của người dân Việt Nam vẫn quen sử dụng tiền mặt. Vì vậy khái niệm mở tài khoản cá nhân và thanh toán qua ngân hàng với nhiều người vẫn còn rất mới mẻ. Hơn nữa, lãi suất huy động đối với loại tài khoản này là rất thấp (lãi suất không kỳ hạn) ngược hẳn với tâm lý của người gửi tiền vào ngân hàng luôn mong hưởng lãi suất cao.Về phía Ngân hàng cần có những biện pháp tác động như sau: * Áp dụng mức lãi suất phù hợp hơn, hấp dẫn khách hàng mở tài khoản, kết hợp với các dịch vụ thanh toán, chi trả hộ khách hàng. Hướng dẫn cho khách hàng thấy được những tiện ích khi sử dụng tài khoản này để họ hiểu được những ưu điểm của tài khoản và thường xuyên sử dụng nó. * Ngân hàng có thể áp dụng việc theo dõi 2 tài khoản song song của khách hàng tức là khi tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng có số dư cao, Ngân hàng sẽ chuyển bớt sang tài khoản tiền gửi có kỳ hạn để giúp khách hàng không bị thiệt. Ngược lại, khi khách hàng có nhu cầu thanh toán cao, Ngân hàng sẽ tự động chuyển tiền gửi có kỳ hạn thành tiền gửi thanh Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 44 toán để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng làm được như vậy sẽ tạo ra sự nhanh chóng, tiện lợi hơn cho khách hàng. Đồng thời cũng giúp Ngân hàng giảm giai đoạn rút tiền nhiều lần, tốn thời gian và chi phí. * Ngân hàng cũng có thể liên kết với Kho bạc để làm dịch vụ mở tài khoản chi trả lương cho các khách hàng là cán bộ công nhân viên làm việc ở các trường đại học, các doanh nghiệp Nhà nước có thu nhập ổn định. Đây là một lĩnh vực còn rất mới mẻ, cho nên thị trường và khả năng khai thác là rất lớn. Hơn nữa, trong thị trường này, trình độ dân trí cao nên khả năng thích ứng của khách hàng với các dịch vụ ngân hàng là rất nhanh. Ngân hàng có thể qua đó giúp người dân tiếp xúc với các dịch vụ thanh toán hiện đại như thẻ thanh toán, máy rút tiền tự động ATM... nhanh chóng hoà nhập vào mạng lưới thanh toán quốc tế, tạo nguồn vốn lớn, ổn định cho Ngân hàng. * Liên hệ với các trường Đại học, Cao đẳng... để cùng nhà trường có thể mở tài khoản cho mọi sinh viên trong trường. Làm được điều này có lợi cho cả Ngân hàng, nhà trường và cả sinh viên. Đối với Ngân hàng, đây là một nguồn huy động dồi dào vì hiện nay số lượng sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng... là rất lớn. Về phía nhà trường và sinh viên, sẽ dễ dàng hơn trong việc thu học phí và các chi phí, lệ phí khác. Sinh viên không còn cảnh chen chúc nhau nộp học phí, có khi phải nghỉ cả tiết học mới chen chân được vào bàn thu. 3.2.2.3. Phát triển và mở rộng hình thức huy động vốn qua tài khoản của các doanh nghiệp Hiện nay, số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Hà Tĩnh là không nhiều, quan hệ thương mại phức tạp. Nhiều doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp tư nhân) không mở tài khoản thanh toán ở Ngân hàng hoặc thanh toán với nhau bằng tiền mặt không qua ngân hàng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thanh toán của hệ thống NHTM nói chung và Vietcombank Bắc Hà Tĩnh nói riêng, qua đó hạn chế hiệu quả huy động vốn - cho vay của Sở. Vì vậy, trong thời gian tới, Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cần có những giải pháp đúng đắn để thu hút nguồn vốn này như: * Cử cán bộ xuống tận doanh nghiệp, giới thiệu cho doanh nghiệp các loại tài khoản và những tiện ích của chúng. Đồng thời có chính sách ưu đãi khuyến khích doanh nghiệp mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng. * Bám sát quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình luân chuyển vật tư hàng hoá và kỳ hạn nợ của các TCKT để động viên khách hàng nhanh chóng tiêu thụ sản phẩm, nộp tiền cho Ngân hàng đúng hạn thanh toán. Với những khách hàng có doanh thu lớn, Viecombank Bắc Hà Tĩnh có biện pháp thu tại chỗ theo lịch thỏa thuận với đơn vị, tạo mối quan hệ tốt đẹp trong mối quan hệ Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 45 kinh doanh với bạn hàng. * Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu có mục đích với hình thức đa dạng hơn như trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi định kỳ. Kỳ hạn đa dạng hơn, lãi suất áp dụng linh hoạt hơn trên cơ sở hoạt động của ngân hàng có lãi. 3.2.2.4. Mở rộng huy động các loại tiền gửi khác Ngân hàng cần quan tâm đến việc mở rộng thêm các loại tiền gửi khác để đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của dân chúng. Viecombank Bắc Hà Tĩnh có thể áp dụng những hình thức huy động tiết kiệm dài hạn có mục đích, cụ thể: *Hình thức tiết kiệm hưu trí bảo thọ: Dành cho những người có thu nhập hiện tại để dành một phần tiêu dùng cho tương lai khi về già bằng cách hàng tháng gửi tiền vào tài khoản này. *Hình thức tiết kiệm nhà ở: Hình thức này tạo cho người gửi tiền được quyền vay ở ngân hàng một khoản lớn với lãi suất hợp lý để đầu tư cho chỗ ở của chính mình. Tuỳ từng điều kiện, thời điểm cụ thể mà ngân hàng áp dụng những hình thức huy động vốn phù hợp nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi và tiền mặt ngoài xã hội. Đa năng trong kinh doanh cũng làm cho khách hàng có cảm giác thoả mãn và ngày càng có nhiều khách hàng đến với ngân hàng. Những hoạt động này ảnh hưởng đến công tác huy động vốn, nhờ đó mà khả năng của ngân hàng được nâng lên. Ngân hàng cần mở thêm các dịch vụ như: dịch vụ tư vấn, dịch vụ môi giới, dịch vụ cầm đồ, tín dụng thuê mua... 3.2.3. Đơn giản hoá các thủ tục nhận tiền gửi cho tới các thủ tục cho vay. Hiện nay, nếu một người gửi tiền thông thường mất 15 -30 phút cho một lần gửi hoặc rút. Đối với xin vay, thủ tục còn kéo dài nhiều ngày. Các thủ tục này ngân hàng làm theo quy định, nhưng ngân hàng cần nghiên cứu biện pháp rút ngắn thời gian. Vietcombank Bắc Hà Tĩnh nên nghiên cứu triển khai hình thức tiết kiệm gửi một nơi, rút ở nhiều nơi. 3.2.4. Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt Lãi suất là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc thu hút vốn tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu. Thấy rõ được điều đó, Vietcombank Bắc Hà Tĩnh rất chú trọng đến việc thay đổi lãi suất trong từng thời kỳ sao cho phù hợp với lãi suất thị trường nhằm thu hút nguồn tiền gửi của mọi thành phần trong nền kinh tế. Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cần xác định được rằng biện pháp tăng lãi suất để thu hút được nguồn vốn huy động có tác động rất mạnh và nhanh. Tuy nhiên, đây là biện pháp có giới hạn, bởi việc tăng lãi suất huy động đồng nghĩa với tăng chi phí đầu vào, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 46 doanh. Đồng thời có liên quan trực tiếp đến lãi suất cho vay và tác động đến toàn bộ hoạt động tín dụng của Sở.Vì thế, mức lãi suất đưa ra là tuỳ theo mức độ cần thiết của nguồn vốn, tuỳ theo từng thời điểm, từng khu vực, phù hợp với khung lãi suất do NHNN quy định và có lợi cho người gửi, người vay và cả Ngân hàng. 3.2.5. Gắn liền việc tăng cường huy động vốn với sử dụng vốn có hiệu quả Nước ta đang trong giai đoạn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nên việc đầu tư tín dụng có chiều hướng tăng trưởng mạnh. Nhưng việc mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn vốn và tăng trưởng. Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cần đưa ra các giải pháp thích hợp cho việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả: * Thường xuyên bám sát chủ trương, đường lối phát triển kinh tế xã hội của thành phố, bám sát mục tiêu, biện pháp của ngành. Nắm chắc thị trường, cả thị trường hiện tại và thị trường dự báo để xây dựng chiến lược tổng thể về bề rộng của thị trường. * VCB Bắc Hà Tĩnh cần làm tốt vai trò trung gian tài chính, một mặt tăng cường tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, mặt khác cần nâng cao chất lượng tín dụng, tăng thị phần vào các. Việc cho vay phải đảm bảo cân đối giữa tiền gửi và tiền vay. Tính toán lợi ích nhiều mặt nhưng cho vay phải bù đắp chi phí, trích lập quĩ rủi ro và có lợi nhuận. Cán bộ tín dụng phải thường xuyên kiểm tra, phân tích chất lượng những khoản cho vay, kịp thời xử lý những phát sinh ảnh hưởng không tốt đến kết quả kinh doanh của Vietcombank Bắc Hà Tĩnh. * VCB Bắc Hà Tĩnh cần cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn, đảm bảo sự tương ứng về thời hạn và lãi suất cho nguồn vốn nào thì cho vay loại hình đó. 3.2.6. Thực hiện tốt chính sách khách hàng và chiến lược marketing hiệu quả Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng cần hiểu rõ lợi ích của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, vào lợi ích của người gửi tiền. Vì vậy, ngân hàng phải có chính sách khách hàng đúng đắn. Đó là thu hút nhiều khách hàng, duy trì, mở rộng khách hàng truyền thống, đảm bảo lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng, chiến lược kinh doanh của ngân hàng cũng phải nhằm giúp đỡ doanh nghiệp khắc phục những khó khăn yếu kém, tạo mối quan hệ lâu dài. Ngân hàng chia khách hàng ra làm nhiều loại để có cách đối xử cho phù hợp. Những khách hàng lâu năm, có số dự tiền gửi lớn, được ngân hàng tín nhiệm, thì ngân hàng Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 47 sẽ có chính sách ưu tiên về lãi suất, kỳ hạn món vay cũng như việc xét thưởng. Để thu hút khách hàng đến với ngân hàng ngày một nhiều thì ngân hàng phải đặt ra chiến lược khách hàng. Vì lợi ích của khách hàng, ngân hàng cần có phòng Marketing riêng chuyên thu thập thông tin, nắm bắt nhu cầu của khách hàng, phân loại thị trường, phân loại khách hàng để từ đó có cách xử lý cho phù hợp. Việc nắm bắt được thông tin của khách hàng, nắm bắt được thông tin của thị trường sẽ giúp cho ngân hàng tận dụng được hấu hết các cơ hội. Từ đó có những định hướng, chính sách huy động phù hợp hơn, đa dạng hơn. 3.2.7. Hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả trong kinh doanh. Từ phần thực trạng ở trên, ta thấy tình hình kinh doanh của ngân hàng là khả quan. Tuy nhiên, nhiệm vụ của ngân hàng trong thời gian tới là tiếp tục tăng doanh số cho vay, nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn hiệu quả. Để làm được điều này, ngân hàng phải thực hiện các biện pháp sau: - Ngân hàng phải chủ động tìm các dự án đầu tư có hiệu quả. Trước khi cho vay ngân hàng cần thẩm định kỹ về khách hàng. Trong quá trình thực hiện dự án cho vay, các cán bộ tín dụng phải thường xuyên định kỳ theo dõi tình hình sử dụng vốn của khách hàng, có những nhận xét, kiến nghị lên ban lãnh đạo để đưa ra được những quyết định kịp thời tránh tổn thất cho ngân hàng. - Ngân hàng phải thường xuyên thống kê các khế ước đến hạn, có kế hoạch đôn đốc trả nợ đối với các doanh nghiệp có nợ quá hạn trên tinh thần giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau. Bằng các mối quan hệ của mình, ngân hàng có thể hỗ trợ khách hàng tiêu thụ sản phẩm của họ trong trường hợp sản phẩm có chất lượng còn thấp, bị giảm giá do cung lớn hơn cầu... làm được điều này, ngân hàng không những thu hồi được vốn cho vay, giảm rủi ro ở mức thấp nhất mà còn giúp doanh nghiệp không bị phá sản. - Ngân hàng phối hợp chặt chẽ với cơ quan chính quyền quận để quản lý tài sản thế chấp, thường xuyên trao đổi thông tin với trung tâm cung cấp những thông tin về rủi ro tín dụng ngân hàng. Sau khi cấp phát tiền vay, ngân hàng làm bản thông báo cho công an, viện kiểm sát... biết những tài sản đã thế chấp. Cơ quan pháp luật Nhà nước sẽ không xác nhận bất cứ trường hợp nào do chủ tài sản đề nghị chuyển nhượng, cho thuê hoặc để thế chấp ngân hàng khác. 3.2.8. Đổi mới công nghệ Ngân hàng Một biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn là đổi mới công nghệ ngân hàng, tiếp cận nhanh với công nghệ hiện Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 48 đại. Là một ngân hàng mới thành lập, phải hoàn toàn tự chủ trong hoạt động kinh doanh, lượng vốn đầu tư để đổi mới công nghệ còn hạn hẹp. Vì vậy, ngân hàng cần phải tự nghiên cứu đổi mới công nghệ, đồng thời lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện, khả năng của ngân hàng. Trước mắt hiện nay, công nghệ ưu tiên là công nghệ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm làm tăng vòng quay vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông. 3.2.9. Tăng cường công tác thông tin, quảng cáo. Với ngân hàng, để mở rộng hoạt động của mình thì khuếch trương, quảng cáo là việc làm hết sức cần thiết. Ngân hàng phải làm sao cho người dân biết đến hoạt động của mình và thấy được lợi ích khi giao dịch với ngân hàng. Trong công tác huy động vốn, việc quảng cáo nên tập trung một số vấn đề như: lãi suất tiền gửi, hình thức huy động, lợi ích của ngân hàng khi gửi tiền, việc khai trương quỹ tiết kiệm mới... Thực tế cho thấy nhiều khi ngân hàng phát hành kỳ phiếu với lãi suất hấp dẫn để huy động vốn trong một thời hạn ngắn cho hoạt động kinh doanh nhưng vẫn không được người gửi hưởng ứng. Đó là phần lớn người dân không biết thông tin này, ngoại trừ những người thường xuyên liên hệ với ngân hàng. Vì vậy, việc quảng cáo nên tiến hành tương đối thường xuyên trên một số phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí Đi song hành với hình thức quảng cáo là khuyến mại, giúp đẩy mạnh thêm hoạt động quảng cáo thu hút vốn vào ngân hàng. Các hình thức khuyến mại đa dạng sẽ tạo ra sự thích thú của khách hàng như trả lời câu hỏi có thưởng, hình thức xổ số theo tài khoản, lãi suất ưu đãi đối với khách hàng thường xuyên giao dịch. Đây là hình thức quảng cáo tốt vì nó làm cho khách hàng, người dân biết đến, hiểu rõ về ngân hàng. Vietcombank Bắc Hà Tĩnh trực thuộc ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, chịu sự chỉ đạo của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Vì vậy, những biện pháp trình bày ở trên là một số biện pháp mà Vietcombank Bắc Hà Tĩnh nói riêng và ngân hàng Công thương Việt Nam cần phải thực hiện để khắc phục những tồn tại trong công tác huy động vốn nhằm đưa Vietcombank Bắc Hà Tĩnh trở thành một trong những tổ chức tài chính tiền tệ quan trọng, có vị trí then chốt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thủ đô theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên các giải pháp trên chỉ phát huy hiệu quả trong một môi trường vĩ mô thuận lợi. Vì vậy, tôi xin đưa ra một số kiến nghị để góp phần hoàn thiện môi trường vĩ mô, tạo điều kiện cho công tác huy động vốn ngày càng có hiệu quả hơn. 3.3. Một số kiến nghị Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 49 3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt nam Ngân hàng cần thường xuyên theo dõi và kiểm tra công tác hạch toán và chứng từ hạch toán, hoạt động huy động vốn của các quĩ tiết kiệm. Định kỳ hàng tháng có thống kê sai sót cần chỉnh sửa đối với các hoạt động nghiệp vụ, báo cáo Lãnh đạo để kịp thời chỉnh sửa. Thứ nhất, Cần có những biện pháp đồng bộ đối với hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động kế toán. Bộ phận tin học ở Vietcombank cần tiếp nhận những đề đạt từ bộ phận tin học tại các sở giao dịch , nghiên cứu, xử lý, giải quyết những bất cập và triển khai những phần mềm kế toán mới, phù hợp hơn với các hoạt động tác nghiệp hàng ngày. Sự phối hợp đồng bộ trên toàn hệ thống sẽ phát huy được hiệu quả tối đa của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Thứ hai, Hoạt động kiểm toán nội bộ cũng cần phát huy chức năng và vai trò của nó trong tất cả các hoạt động của ngân hàng, trong đó có hoạt động huy động vốn. Incombank cần tăng cường tính độc lập của bộ phận kiểm toán nội bộ nhằm giúp cho hoạt động kiểm toán này đạt được hiệu quả như mong muốn, thực sự là cánh tay đắc lực của Ban Giám đốc ngân hàng. Thứ ba, Vấn đề cán bộ kế toán huy động vốn cần được chú ý hơn nữa. Đây là bộ phận trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Vì vậy, thái độ phục vụ cũng như trình độ nghiệp vụ của bộ phận này có tính chất quyết định quan trọng trong việc thu hút khách hàng. Cần có kế hoạch đào tạo về nghiệp vụ kế toán, tin học cũng như quản trị. 3.3.2. Kiến nghị với NHNN VN Vietcombank nằm trong hệ thống NHTM quốc doanh, chịu sự quản lý của NHNN. Vì vậy, trong công tác huy động vốn cũng như hoạt động kinh doanh của Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cần có sự hướng dẫn chỉ đạo từ NHNN, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Mặt khác, NHNN là nơi hoạch định các chính sách tiền tệ quốc gia với mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Do đó, các biện pháp khả dĩ có thể thực hiện được nhằm khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, đó là NHNN cần xây dựng và điều hành một chính sách tiền tệ ổn định và hợp lý hơn. Chính sách này phải theo sát với tín hiệu của thị trường. Các can thiệp của NHNN phải thông qua thị trường bằng hệ thống các công cụ tiền tệ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường mở...). Bởi sự quản lý chặt chẽ đôi khi vượt quá sự cần thiết vào hoạt động của ngân hàng sẽ tạo khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 50 Đối với các NHTM, xúc tiến thực thi hai bộ Luật về Ngân hàng. Bên cạnh đó, cần tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra NHNN đối với các NHTM để nâng cao hiệu quả cho vay và sử dụng vốn huy động. Công khai hoạt động của ngân hàng là một chính sách tiếp thị hữu hiệu nhất. Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các nghiệp vụ để các NHTM có thể tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh doanh hiện tại, tạo nên một hệ thống NHTM vững mạnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước. Xây dựng môi trường pháp lý vững chắc nhằm tạo được lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng và nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân. NHNN cần mở rộng bảo hiểm tiền gửi để mở rộng bảo hiểm tiền gửi để củng cố lòng tin của người dân trong quá trình mở tài khoản tiền gửi tại NHTM. Đồng thời, cần bổ sung và hoàn thiện các chính sách, cơ chế thúc đẩy phát triển nghiệp vụ mở và sử dụng tài khoản tiền gửi. Một điều đáng chú ý hiện nay đó là trong việc hoạt động tiền gửi có kỳ hạn, về nguyên tắc đến hạn khách hàng mới được rút tiền. Nhưng thực tế thời gian qua cho thấy, nhiều NHTM vì cạnh tranh với nhau, muốn thu hút được nhiều khách hàng đến gửi tiền nên đã dễ dãi với người gửi tiền. Vì vậy có nhiều khách hàng không tôn trọng cam kết, đã rút tiền trước hạn, làm ảnh hưởng đến cân đối chi trả của Ngân hàng. Do vậy, NHNN cần sớm đưa ra biện pháp để thực hiện việc không tính lãi hoặc sẽ phạt đối với những khách hàng đến rút tiền trước hạn. Phát triển và hoàn thiện môi trường pháp lý, hoà nhập với thông lệ quốc tế và làm cơ sở thúc đẩy hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, hoàn thiện kỹ thuật công nghệ và cơ chế quản lý các trung tâm thị trường bù trừ NHNN. NHNN cần sớm nghiên cứu ban hành một khung pháp lý về chữ ký điện tử cụ thể nhằm giúp các NHTM có cơ sở pháp lý, xây dựng các qui trình nghiệp vụ cũng như lưu trữ chứng từ giao dịch đảm bảo đúng pháp luật, phù hợp với cấu trúc của chương trình hiện đại hoá đang được triển khai. 3.3.3 Kiến nghị với Nhà nước Giải pháp huy động vốn của NH Vietcombank Bắc Hà Tĩnh cũng như nhiều NHTM khác chỉ có thể thực hiện tốt được nếu có các điều kiện kinh tế - xã hội và pháp lý cần thiết tạo nên một hệ thống các giải pháp hỗ trợ tác động tới công tác huy động vốn của ngân hàng. Đó chính là vai trò của Nhà nước, của Chính phủ trong việc ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý và môi trường tâm lý phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, ở tầm quản lý vĩ mô, Nhà nước cần quan tâm tới các yếu tố sau: 3.3.3.1. Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô Điều này không những không đảm bảo được quyền lợi cho người gửi Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 51 tiền mà còn gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thực thi các điều khoản của pháp luật. Bởi chưa có một chuẩn mực chung cho các ngân hàng nên các ngân hàng đều thực hiện theo một quy định của riêng mình và gây không ít khó khăn, trở ngại cho khách hàng khi đến giao dịch với ngân hàng. Tất cả các yếu tố trên có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngân hàng và tác động rất lớn đến công tác huy động vốn. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta và các ngành các cấp, trong đó trước hết là NHNN đã thành công trong việc tạo lập và duy trì ổn định tiền tệ. Tuy nhiên, vấn đề ổn định không chỉ được đặt ra trong từng thời kỳ mà quan trọng là năng lực điều chỉnh chính sách và các công cụ sao cho thích nghi nhanh chóng với sự biến đổi của nền kinh tế với chủ trương của Nhà nước ta là tăng cường huy động vốn trong nước, coi đó là yếu tố quyết định đến sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. 3.3.3.2. Tạo lập môi trường pháp lý ổn định, đồng bộ Các ngân hàng vẫn còn tình trạng thực hiện theo những qui định riêng của mình. Điều này không những không đảm bảo được quyền lợi của người gửi tiền mà còn gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thực thi các điều khoản của pháp luật. Do đó, để dảm bảo quyền chính đáng của người đầu tư (đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp qua ngân hàng) và người sử dụng vốn đầu tư cần có một hệ thống pháp luật đồng bộ như luật bảo vệ quyền tài sản cá nhân, luật chứng khoán và thị trường chứng khoán, luật kế toán và kiểm soát độc lập. Việc ban hành hệ thống pháp lý đồng bộ rõ ràng sẽ tạo niềm tin của công chúng. Đồng thời, với những qui định khuyến khích của Nhà nước sẽ tác động trực tiếp tới việc điều chỉnh quan hệ giữa người tiêu dùng và tiết kiệm, chuyển một phần tiêu dùng sang đầu tư, chuyển dần cất trữ tài sản dưới dạng vàng, ngoại tệ, bất động sản sang đầu tư vào sản xuất kinh doanh hay gửi vốn vào ngân hàng. 3.3.3.3. Môi trường xã hội Việc tạo lập môi trường xã hội cũng như môi trường pháp luật ổn định cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là tạo sự tin tưởng và nâng cao hiểu biết của người dân đối với hoạt động ngân hàng. Hay nói cách khác, yếu tố tâm lý, trình độ văn hoá có ảnh hưởng đến cách thức và tập quán huy động vốn. Ở nước ta hiện nay, việc huy động vốn của các NHTM bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý của người dân. Đó là thói quen tâm lý giữ tiền tiết kiệm ở nhà và họ cho rằng vẫn đảm bảo an toàn hơn, có thể sử dụng tiền mặt bất cứ khi nào. Người dân có thói quen sử dụng tiền mặt trong chi tiêu hàng ngày. Chính vì vậy, tầm hiểu biết về các công cụ thanh toán hiện đại và ý nghĩa thực tế của các công cụ thanh toán vẫn còn rất hạn chế ở mỗi người dân. Để tác động vào tâm Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 52 lý, thói quen của người dân thì biện pháp tốt nhất là về phía Chính phủ, Nhà nước. Chính phủ và Nhà nước cần có những biện pháp tích cực phối hợp với các NHTM để thu hút được mọi nguồn vốn nhàn rỗi đang người dân để dành trong nhà. Làm cho nười dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của nguồn vốn “nội lực” đối với công cuộc CNH – HĐH đất nước. Điều quan trọng trước tiên mà Nhà nước cần làm đó là tăng cường các giải pháp giải quyết công ăn việc làm cho người dân để họ có thu nhập ổn định, sớm tiếp cận với nền kinh tế phát triển. Một khi đời sống của người dân được nâng cao thì họ sẽ tiếp cận với các thể thức thanh toán qua ngân hàng, thay đổi tâm lý tiêu dùng tiết kiệm cũ. Từ đó tạo điều kiện cho NHTM dễ dàng thu hút được nguồn vốn từ mọi tầng lớp dân cư và các TCKT. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 53 KẾT LUẬN Hoạt động huy động vốn đã và đang là một trong những nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của các NHTM nói chung và của Ngân hàng ngoại thương Bắc Hà Tĩnh nói riêng. Mặc dù vẫn còn một số tồn tại trong công tác huy động vốn, song Chi nhánh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong những năm qua, nguồn vốn huy động liên tục tăng trưởng với tỷ lệ cao, luôn đảm bảo an toàn tuyệt đối, được đông đảo khách hàng tín nhiệm. Trong những năm tới, để đạt được những kết quả như mong muốn đòi hỏi Chi nhánh phải có chiến lược huy động vốn đúng đắn với các giải pháp, biện pháp kinh doanh đồng bộ trên cơ sở nội lực của Chi nhánh, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và Ngân hàng ngoại thương Việt Nam. Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng ngoại thương Bắc Hà Tĩnh, dưới sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn cùng với kiến thức đã học và được sự giúp đõ tận tình của tập thể chi nhánh , tôi đã thực hiện đề tài: “Tăng cường huy động huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Tĩnh”. Đề tài đạt được một số kết quả và còn nhiều hạn chế đồng thời cũng mở ra một số hướng nghiên cứu tiếp theo. * Mức độ đáp ứng mục tiêu nghiên cứu Mục đích trọng tâm của đề tài là tập trung tìm hiểu kế toán nghiệp vụ huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Bắc Hà Tĩnh trong ba năm 2009 – 2011. So với mục tiêu đề ra, tôi nhận thấy về cơ bản đề tài đã đáp ứng được. - Đề tài đã đưa ra được cơ sở lý luận về công tác HĐV tại địa bàn - Đề tài đã trình bày khá đầy đủ về kế toán các nghiệp vụ HĐV diễn ra thường xuyên và phổ biến tại Chi nhánh, quy trình của mọi giao dịch nghiệp vụ huy động tiền gửi. * Hạn chế của đề tài Với hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế, hạn chế trong việc tìm tòi và xử lý số liệu, nên đề tài chỉ mới tập trung được chủ yếu vào nguồn vốn huy động từ tiền gửi mà chưa mở rộng sang các nguồn Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 54 khác. Đồng thời chưa chỉ ra ngân hàng thường huy động từ những đối tượng khách hàng nào, với mức tiền gửi là bao nhiêu. Chưa xem xét được sự ảnh hưởng của lãi suất đến công tác huy động vốn của Chi nhánh. Các giải pháp đưa ra, có một số chỉ mang tính khái quát, chung chung. Tuy nhiên, hy vọng với một số giải pháp, Chi nhánh sẽ ngày càng hoàn thiện và nâng cao hoạt động kinh doanh của mình. * Hướng nghiên cứu tiếp theo Nghiên cứu về nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng là một đề tài vô cùng phong phú và đa dạng. Nội dung nghiên cứu trong chuyên đề này chỉ là một khía cạnh nhỏ, vì vậy nếu được trang bị thêm kiến thức, thời gian và kinh nghiệm thực tế, tôi xin đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo: - Cần phân tích đối tượng khách hàng của Chi nhánh để có những chiến lược riêng nhằm nâng cao chất lượng cũng như số lượng nguồn vốn huy động và có kế hoạch cụ thể để giữ chân khách hàng thân thiết, đồng thời thu hút khách hàng mới. - Tìm hiểu rõ hơn về các nguồn huy động vốn khác của Chi nhánh như huy động qua phát hành giấy tờ có giá, các nguồn vốn uỷ thác... - Xem xét sự ảnh hưởng của lãi suất đối với nguồn vốn huy động và nguyên nhân của sự ảnh hưởng trên. - Đưa ra các giải pháp cụ thể, rõ ràng hơn để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của Chi nhánh. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn cùng với sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị ở Ngân hàng ngoại thương Bắc Hà Tĩnh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chuyên đề này Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Tín dụng Ngân hàng – Nhà xuất bản thống kê 2. Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – Nhà xuất bản tài chính Hà Nội - 2008 3. Giáo trình Ngân hàng với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam – Nhà xuất bản chính trị quốc gia. 4. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NH TMCP Ngoại thương Chi nhánh Bắc Hà Tĩnh. 5. Báo cáo thường niên của Chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Bắc Hà Tĩnh. 6. Tạp chí Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (2008 -2011). 7. Thời báo kinh tế Việt Nam. Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 56 Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Lưu Tâm SVTH: Nguyễn Thị Phương Thảo LỚP: 49B2 - TCNH 57

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbao_cao_thuc_tap_6397.pdf
Luận văn liên quan