Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu

Lí do chọn đề tài PHẦN MỞ ĐẦU Tố Hữu là một cây đại thụ trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Tố Hữu gắn liền với các chặng đường cách mạng của dân tộc và lắng sâu trong lòng quần chúng nhân dân suốt thời gian qua. Đúng như Phong Lan và Mai Hương nhận xét “Trên bầu trời của văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được coi là ngôi sao sáng, là người mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho thơ ca cách mạng. Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca, ông thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam mê bền chắc trong nhiều độc giả. Ông là người đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại từ họ sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu, đang là niềm mơ ước của mọi sự nghiệp thơ ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông” [33, tr.20]. Bởi vậy, thơ Tố Hữu luôn thu hút được sự quan tâm của giới phê bình, nghiên cứu văn học và là đối tượng giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị. Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sống cách mạng, lí tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự. Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, của những tình cảm lớn, niềm vui lớn của cách mạng và con người cách mạng. Đặc biệt ở những bước ngoặt trong đời sống cách mạng của dân tộc, hồn thơ Tố Hữu thường vang ứng nhạy bén và dạt dào cảm hứng, kết tinh trong những bài thơ đặc sắc, được sự đồng cảm và hưởng ứng rộng rãi của đông đảo công chúng. Xuân Diệu có lần khẳng định: Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình. Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện. Hiện thực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị, đạo lí cách mạng qua sự cảm nhận và thể hiện của Tố Hữu đã gắn bó, hoà nhập với truyền thống tinh thần tình cảm và đạo lí của dân tộc, làm phong phú thêm cho truyền thống ấy. Trong thơ ông có thể bắt gặp một cách phổ biến những lối so sánh, các phép chuyển nghĩa và cách diễn đạt trong thơ ca dân gian đã trở nên quen thuộc với tâm hồn người Việt. Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu là ở sự phong phú về nhạc điệu, phong phú về vần, những phối âm trầm bổng nhịp nhàng nên dễ ngâm dễ thuộc và đặc biệt là ngôn ngữ thơ rất sinh động, sáng tạo. Một trong những yếu tố làm nên nét riêng đó của thơ Tố Hữu là nhà thơ đã đưa lớp từ ngữ địa phương vào trong thơ và sử dụng chúng có hiệu quả cao. Có thể nói từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu được sử dụng như một biện pháp nghệ thuật và trở thành ngôn ngữ nghệ thuật. Điều này không phải nhà thơ nào cũng làm được. Cho nên nghiên cứu việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu sẽ góp phần hiểu rõ về quan điểm nghệ thuật và phong cách sáng tác của nhà thơ, giúp ta thấy được quy luật tương tác giữa từ địa phương và từ toàn dân, cũng như giá trị của từ địa phương đối với việc biểu hiện tư tưởng tình cảm của nhà thơ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống cách dùng từ địa phương trong các sáng tác văn chương nói chung vẫn chưa được chú ý đúng mức. Chính vì vậy mà người viết lựa chọn đề tài “Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu”. 2. Lịch sử vấn đề Trong suốt thời gian qua, thơ Tố Hữu luôn là đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước. Xuất phát từ những góc độ, khía cạnh tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đều gặp gỡ và thống nhất trong đánh giá: Tố Hữu là một phong cách lớn trong sự phát triển của nền văn học dân tộc. Thơ ông không chỉ đặc sắc ở nội dung, tư tưởng mà còn có giá trị đặc sắc về nghệ thuật trên các phương diện về phong cách và ngôn ngữ thơ. Chính vì thế, cho đến nay đã có rất nhiều công trình biên khảo chuyên sâu về thơ ông. Trong đó nổi bật nhất là ba công trình: Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kị (1979), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh (1985), và Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử (1987). Nghiên cứu về thơ Tố Hữu từ phương diện ngôn ngữ đã có các công trình của tác giả như: “ Về cách dùng từ chỉ mầu sắc trong thơ Tố Hữu” của Lê Anh Hiền (Tạp chí Ngôn ngữ số 4- 1976 ), “Tính dân tộc hiện đại của ngôn từ thơ Tố Hữu” của Trần Đình Sử (Báo Văn nghệ số 36 – 1985), “ Nhạc điệu thơ Tố Hữu” của Nguyễn Trung Thu (Tạp chí văn học số 6 – 1968) và nhiều công trình khác. Đặc biệt, những nghiên cứu về việc sử dụng từ địa phương trong thơ ông thì chưa có nhiều tác giả quan tâm. Có thể kể: “Hiệu quả của việc dùng từ địa phương trong văn chương” của Phạm Văn Hảo (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 3- 1998), “ Từ địa phương trong thơ Tố Hữu” của Hoàng Thanh Vân (Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên – 2000), “Bước đầu khảo sát vốn từ địa phương trong thơ Tố Hữu” của Hoàng Thị Hằng (Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- 2006) Trong những người có nhận xét về từ ngữ địa phương, đáng chú ý hơn cả là ý kiến của Phó giáo sư Phạm Văn Hảo nhân đọc thơ Tố Hữu : “Nhiều khi từ ngữ địa phương được dùng không nhằm thể hiện không khí hay “phong vị quê hương” mà vì mục đích khai thác cái phong phú trong ý nghĩa của chúng Có thể dùng các từ địa phương cho các sáng tác bình thường bất kì ”[19, tr. 6]. Như vậy, có thể nói rằng việc nghiên cứu sự sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu là một vấn đề rất thú vị, hấp dẫn và có phần mới mẻ. Người viết luận văn này với hi vọng nghiên cứu việc sử dụng từ địa phương trong thơ ông một cách hệ thống có thể thể bổ sung hiệu quả và thiết thực vào công việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng luận văn nghiên cứu là việc sử dụng lớp từ địa phương trong thơ Tố Hữu qua tư liệu nghiên cứu được thống kê trong các tập thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gío lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta và lời phát biểu trực tiếp hay gián tiếp của Tố Hữu về quan điểm nghệ thuật trong quá trình sáng tác thơ ca. 4. Mục đích nghiên cứu Thực hiện đề tài “Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu” luận văn hướng vào những mục đích cụ thể sau: - Bằng việc thống kê các từ địa phương được sử dụng trong thơ Tố Hữu, người viết khái quát bức tranh về từ địa phương được sử dụng trong thơ Tố Hữu về các vùng miền, về các lớp từ. Trên cơ sở đó, tác giả luận văn phân tích, nhận xét, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu. - Người viết bước đầu tìm hiểu quan điểm nghệ thuật của Tố Hữu trong việc sử dụng ngôn ngữ nói chung và việc sử dụng từ ngữ địa phương cụ thể của ông nói riêng. Điều này có ích cho việc thưởng thức, nghiên cứu, giảng dạy thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung. 5. Phương pháp nghiên cứu Thực hiện luận văn này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp khảo sát thống kê: Dựa vào các tập thơ để khảo sát các từ ngữ địa phương sau đó đưa ra bảng thông kê các từ địa phương được sử dụng theo một số tiêu chí cần thiết. - Phương pháp so sánh đối chiếu: Để thấy được hiệu quả của việc dùng từ địa phương trong thơ Tố Hữu, chúng ta so sánh ngôn ngữ thơ của ông với một số nhà thơ cùng thời theo chủ đề, đề tài như Xuân Diệu, Huy Cận. - Phương pháp phân tích văn bản nghệ thuật được đặc biệt chú ý để tìm hiểu nội dung các văn bản và hiệu quả sử dụng các từ ngữ địa phương. - Phương pháp phân tích diễn ngôn: nghiên cứu ngôn ngữ thơ trong mối quan hệ đa chiều với ngữ cảnh môi trường giao tiếp, tác giả, độc giả. Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp bổ trợ khác nữa khi cần thiết như phương pháp khái quát tổng hợp, mô hình hoá 6. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn Ý nghĩa lí luận: Người viết thực hiện đề tài này đề cập đến một lớp từ được sử dụng trong ngôn ngữ nghệ thuật, qua đó góp phần tìm hiểu phong cách nghệ thuật ngôn ngữ thơ nói chung và phong cách nghệ thuật ngôn ngữ của từng tác giả nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài làm sáng rõ về ngôn ngữ nghệ thuật thơ Tố Hữu: đó là sử dụng ngôn ngữ đời thường, sử dụng lời nói, lời đối thoại hàng ngày vào trong ngôn ngữ nghệ thuật một cách khéo léo vừa phải, hợp lí sẽ mang hiệu quả nghệ thuật cao. Qua việc tìm hiểu đó thấy được quan điểm nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của ông trong thơ. Đề tài nghiên cứu này sẽ có đóng góp nhất định trong việc giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường nhất là ở bậc phổ thông. 7. Bố cục luận văn - Phần Mở đầu. - Phần Nội dung gồm ba chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan. Chương 2: Việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu. Chương 3: Quan điểm nghệ thuật của Tố Hữu trong việc sử dụng từ ngữ địa phương. MỤC LỤC CHÚ THÍCH: .3 PHẦN MỞ ĐẦU .4 1. Lí do chọn đề tài 4 2. Lịch sử vấn đề 5 3. Đối tượng ngiên cứu 6 4. Mục đích nghiên cứu .7 5. Phương pháp nghiên cứu 7 6. Ý thực tiễn và ý nghĩa khoa học 8 7. Bố cục luận văn .8 CHưƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 9 1.1. Cuộc đời và sự nghiệp thơ Tố Hữu . 9 1.1.1.Vài nét về cuộc đời Tố Hữu .9 1.1.2. Khái quát về sự nghiệp thơ Tố Hữu . 10 1.2. Khái quát về phương ngữ tiếng Việt .13 1.2.1. Khái niệm phương ngữ . .13 1.2.2. Đặc điểm phương ngữ tiếng Việt . 14 1.2.2.1. Đặc điểm về ngữ âm . 14 1.2.2.2. Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa . 15 1.2.2.3. Đặc điểm về ngữ pháp . .18 1.3. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 20 1.3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật .20 1.3.2. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật .21 1.3.2.1. Tính hình tượng 21 1.3.2.2. Tính truyền cảm .23 1.3.2.3. Tính cá thể hoá .24 CHưƠNG 2: VIỆC DÙNG TỪ ĐỊA PHưƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU . 27 2.1. Khái niệm từ ngữ địa phương .27 2.2. Thống kê phân tích các từ ngữ địa phương được sử dụng trong thơ Tố Hữu 28 2.2.1. Bảng thống kê chung . 28 2.2.2. Từ ngữ địa phương trong từng tập thơ .29 2.2.3. Khảo sát phân tích . 30 2.2.3.1. Số lượng, tần số xuất hiện của các từ ngữ địa phương . 30 2.2.3.2. Từ ngữ địa phương sử dụng theo vùng 34 2.2.3.3. Phân nhóm từ ngữ địa phương theo từ loại .35 2.2.3.4. Đề tài, thời gian, không gian với vấn đề sử dụng từ ngữ địa phương .46 2.2.3.5. Các lớp từ . .49 2.3. Tiểu kết . 57 CHưƠNG 3: QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TỐ HỮU TRONG VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỊA PHưƠNG .58 3.1. Quan điểm về thơ và ngôn ngữ thơ của Tố Hữu . 58 3.2. Về cách dùng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu .66 3.2.1. Ba nguyên tắc sử dụng từ ngữ địa phương . .66 3.2.1.1. Tố Hữu dùng từ ngữ địa phương khi viết về địa phương .66 3.2.1.2. Sử dụng từ ngữ địa phương khi tác giả là người ở địa phương . 71 3.2.1.3. Từ ngữ địa phương với yêu cầu của ngôn ngữ nghệ thuật .72 3.2.2. Lựa chọn từ ngữ “đắc địa” . 74 3.3. Hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu. 76 3.4. So sánh với ngôn ngữ thơ Xuân Diệu, Huy Cận .87 3.5. Tiểu kết .89 KẾT LUẬN . .90 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 92

doc127 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 4773 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ân tộc. Chúng làm cho kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt trở nên phong phú, và khi sử dụng tốt, tất cử chúng sẽ trở thành lợi khí của nhà văn nhà thơ. 5, Hình tƣợng ngƣời mẹ trong thơ Tố Hữu đƣợc khắc hoạ rất đậm nét. Sau đây chúng ta thử di vào phân tích cách sử dụng ngôn ngữ địa phƣơng trong việc xây dựng hình ảnh ngƣời mẹ Việt Nam trong thơ ông. Trong nền thơ ca Việt Nam hình ảnh ngƣời mẹ luôn là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn. Với Tố Hữu, hình ảnh ngƣời mẹ hiện lên đặc sắc và cảm động, nó không chỉ mang vẻ đẹp riêng mà còn là tiêu biểu cho hình tƣợng ngƣời mẹ Việt Nam – ngƣời mẹ anh hùng. Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà thơ đều có cảm quan hiện thực và một cảm hứng sáng tác riêng. Nó quy chiếu hệ thống ngôn ngữ của mỗi nhà thơ khi sáng tác. Tố Hữu đã xây dựng hình tƣợng ngƣời mẹ bằng một ngôn ngữ thơ hết sức độc đáo và đặc sắc, trong đó có việc sử dụng từ địa phƣơng rất sáng tạo và thành công Trong những ngày đầu cách mạng, hình ảnh ngƣời mẹ đầu tiên hiện lên trong thơ Tố Hữu đó là bà má Hậu Giang. Ngƣời mẹ nghèo khổ yếu đuối, tần tảo, và cũng ngƣời mẹ đó đã chấp nhận gian khổ, kiên cƣờng đáng ngạc nhiên trƣớc quân giặc: bà má Hậu Giang hiện thân cho sức mạnh bất diệt của quần chúng cách mạng trƣớc sự huỷ diệt của kẻ thù. “ Sức đâu như ngọn sóng trào Má già đứng dậy ngó vào thằng Tây Má thét lớn : “ Tụi bay đồ chó ! Cướp nước tao, cắt cổ dân tao ! Với một đoạn thơ ngắn, song rất điển hình trong cách xƣng hô ở Miền Nam.: má, bay, tụi bay. Đây là những từ khá quen thuộc trong xƣng hô hàng ngày của ngƣời Miền Nam. Bằng cách thể hiện từ xƣng gọi Tố Hữu đã tái hiện đƣợc hình ảnh ngƣời mẹ Nam Bộ trong kháng chiến một cách khá chân thực và sinh động với một vẻ đẹp riêng. Đó là hình ảnh ngƣời mẹ với tình yêu nƣớc, yêu con mãnh liệt đƣợc thể hiện bằng hành động cụ thể. Khi đối diện với quân thù, má đã có một thái độ cƣơng quyết chiến đấu đến cùng, với giọng nói đanh thép phản kháng đến cùng “ Tụi bay đồ chó….. Giết bay có các con tao trăm vùng”. Đất nƣớc chìm trong chiến tranh, những bà mẹ Việt Nam phải sống trong những ngày: “Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi…” với tâm trạng bồn chồn lo lắng chờ đợi mòn mỏi: “Bà bủ nằm ổ chuối khô Bà bủ không ngủ bà lo bời bời … … Nó đi đánh giặc đêm nay Bước run, bước ngã, bước lầy, bước trơn” (Bà bủ). “Phên nan gió lọt lạnh lùng Ngọn lửa bập bùng mé khóc rưng rưng” (Bà mẹ Việt Bắc) “ Con đi, con lớn lên rồi Chỉ thương bầ m ở nhà nhớ con ! Nhớ con bầ m nhé đừng buồn Giặc tan con lại sớm hôm cùng bầm. ( Bầm ơi ) Có thể thấy, mỗi ngƣời mẹ đƣợc tác giả tái hiện bằng những từ ngữ địa phƣơng khác nhau, theo đặc trƣng của từng vùng miền: bủ, mé, bầm. Ta bắt gặp hình ảnh ngƣời mẹ Phú Thọ hiện lên qua cách nói rất tiêu biểu của miền đất trung du: “ Bà bủ nằm ổ chuối khô Bà bủ không ngủ bà lo bời bời” “Lo bời bời” là lối nói quen thuộc thậm chí cửa miệng của ngƣời nông dân vùng đồng bằng trung du Bắc bộ. Thƣờng không phải lúc nào cũng có thể dùng nguyên mẫu ngôn ngữ hàng ngày vào thơ. Thế mà Tố Hữu đã rất thành công khi đƣa lối nói hàng ngày vào thơ, bởi ông đã sử dụng đúng cách đúng chỗ. Tố Hữu đã chia sẻ với mọi ngƣời mẹ ở vùng Trung du tần tảo thƣơng con. Mẹ Phú Thọ là một điển hình của các bà mẹ Việt Nam . Và hình ảnh ngƣời mẹ Phú Thọ của Bắc Bộ lại hiện lên gần gũi thân thƣơng qua tình cảm chân thành, sâu sắc của ngƣời con: “ Bầ m ơi có rét không bầ m Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn” Ở bài“ Bầm ơi”, lời thơ thật giản dị nhƣng đầy hiệu quả. Từ “ bầm” là cách nói riêng để thay thế từ “mẹ” của tiếng Việt văn hoá, song nó tạo cho ngƣời đọc cảm giác thân thiện gần gũi chứ không trung tính nhƣ từ “mẹ” của tiếng Việt văn hoá. Hơn nữa, trong thể thơ lục bát câu sáu và câu tám thƣờng gieo vần với nhau cho nên tác giả dùng từ “ bầm” càng hợp lí. Nhà thơ đã hiệp vần giữa từ địa phƣơng để gieo với vần của từ văn hoá sao cho phù hợp với luật bằng trắc, tạo cho bài thơ có âm điệu. Tác giả đã gieo vần “ âm” trong từ “ bầm” và “ thâm” một vần có âm hƣởng trầm và tối, giúp tác giả vẽ ra khung cảnh chiều đông vùng trung du phía Bắc.. Nếu thế từ “bầm” bằng một từ đồng nghĩa từ toàn dân là “ mẹ” thì câu thơ không còn sắc thái địa phƣơng và nhịp điệu nữa mặc dù ý nghĩa phản ánh sự việc của chúng vẫn không có gì thay đổi. Nhƣ vậy việc đƣa các yếu tố khẩu ngữ vào trong thơ mang những hiệu quả nhất định. Chính vì vậy, Hữu Đạt đã nhận định: Đƣa các yếu tố khẩu ngữ vào trong thơ không hề làm giảm giá trị của bài thơ mà trái lại nó còn làm cho bài thơ có mầu sắc riêng, biểu hiện một cách rõ nét. Mặt khác nó còn có tác dụng làm cho ngôn ngữ thơ trở nên sinh động, bình dị gần gũi với mọi ngƣời…Đọc những lời thơ viết về mẹ của Tố Hữu chúng ta càng thấy rõ điều này. Và đây nữa là tâm trạng chờ mong của bà mé Việt Bắc : “ Từ ấy đến nay Ngày đêm tôi khấn Tôi mong có ngày Nó về thắng trận” Trên chặng đƣờng đánh giặc mỗi bƣớc đi là mỗi bƣớc gian lao, nên mẹ thƣơng, mẹ lo cho các anh. Đó là tâm trạng của biết bao ngƣời mẹ Việt Nam bởi các anh luôn ở trong trái tim của mẹ. Mẹ là niềm tin là chỗ dựa tinh thần, là hậu phƣơng vững chắc để các anh làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng: Bảo vệ giữ gìn nền độc lập của dân tộc. Và khi đến với dải đất miền Trung nắng cháy, ta thấy mẹ Suốt- ngƣời mẹ của Quảng Bình hiện lên vừa chân thật vừa gần gũi mà lại rất sống động. Ghé tai mẹ hỏi tò mò: Cớ r ăn g , ông cũng ưn g cho mẹ chèo ? Mẹ cười : nó i cứn g phải xiêu Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông ! Nghe ra ông cũng vui lòng Tui đi, còn chạy ra sông dặn dò “ Coi chừng sóng lớn gió to Màn xanh đây mụ đắp cho kín mình !” Chỉ bằng một đoạn thơ ngắn tác giả đã thể hiện rất chân thật cảnh vợ chồng mẹ Suốt trong chiến tranh. Bằng cách dùng các khẩu ngữ, cách sử dụng từ xƣng hô: cớ răng, ưng, tui, coi chừng, mụ trong các đoạn miêu tả hội thoại trên chúng ta nhận diện đƣợc những con ngƣời ở đây là con ngƣời Trung Bộ, cụ thể là ngƣời Quảng Bình và lời của Tố Hữu, ngƣời Từa Thiên Huế, cũng ở phƣơng ngữ Bắc Trung Bộ. Ở đây Tố Hữu đã tả lại cảnh vợ chồng mẹ Suốt trong hoàn cảnh chiến tranh. Nhìn vào cách ông bà quan tâm săn sóc nhau ân cần chu đáo theo một cách riêng “ Coi chừng sóng lớn, gió to - Màn xanh đây mụ đắp cho kín mình” ta cũng cảm nhận đƣợc tình cảm của họ gắn bó sâu nặng, đặc biệt tình cảm ấy đƣợc lồng vào với tình yêu quê hƣơng đất nƣớc trong chiến tranh nên nó trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp lạ thƣờng. Và hình ảnh vợ chồng mẹ Suốt với Tố Hữu có mầu sắc riêng của vùng đất miền Trung nắng gió khắc nghiệt trong chiến đấu vừa giản dị bình thƣờng mà thấy rõ, cảm nhận rõ sự sâu đậm không đâu có đƣợc. Ngƣời mẹ Việt Nam – hình ảnh một con ngƣời còn mãi mãi tƣơi xanh trong cảm nhận ngọt ngào, thấm thía của Tố Hữu đó là Mẹ Tơm: “Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa Một buổi trưa, nắng dài bãi cát…. … Ôi bóng người xưa đã khuất rồi Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi Sống trong cát chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời” (Mẹ Tơm) Đến đây , ta có thể nhận thấy rằng khi viết về mẹ nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng khá nhiều từ khác nhau để diễn tả hình ảnh ngƣời mẹ. Mỗi vùng miền tác giả lại có cách gọi khác nhau : “ bủ, mé , bầm” ở Bắc bộ; “má” ở Nam Bộ, “mẹ” ở miện Trung….Nhà thơ đã dành một sự ƣu ái đặc biệt khi viết về các bà mẹ ở Việt Nam . Mẹ - với một ý niệm chung mang một ý nghĩa chung, rất trung tính, nhƣng tác giả đã lựa chọn các từ khác nhau trong các hoàn cảnh và miền quê khác nhau để cùng diễn tả một ý niệm đó nên hình ảnh ngƣời mẹ hiện lên rất sinh động và cụ thể. Qua đó ngƣời đọc cũng cảm nhận đƣợc vốn từ Việt Nam khá phong phú của tác giả. Và Hoàng Thị Châu đã khẳng định: Tiếng Việt có cả kho từ vựng địa phƣơng rất tinh tế và phong phú. Nếu không thu thập và sử dụng kho từ vựng ấy thì chúng ta sẽ để cho vốn từ ngữ quý báu ấy rơi rụng mất [5]. Và rồi lại phải đặt ra những từ và thuật ngữ mới, vay mƣợn tiếng nƣớc nọ nƣớc kia để dùng. Hơn ai hết, Tố Hữu cảm nhận đƣợc rất rõ điều này. Bởi hình ảnh ngƣời mẹ đƣợc nhà thơ xây dựng bằng chính ngôn ngữ bình dị đời thƣờng ấy. Nhà thơ đã dành một tình cảm đặc biệt khi viết về các bà mẹ trên mọi miền đất nƣớc. Mỗi bà mẹ có một tâm sự riêng, một cách thể hiện cảm xúc khác nhau, nhƣng các mẹ có các điểm chung là thƣơng chồng thƣơng con tần tảo đảm đang. Những đức tính tốt đẹp ấy đƣợc Tố Hữu ví nhƣ “ Những trái tim nhƣ ngọc sáng ngời”. Chính nhà thơ cũng phát biểu rằng: Trong thơ tôi có rất nhiều các bà mẹ. Có thể nhận diện tất cả các dân tộc qua các bà mẹ. Trong suốt lịch sử, các bà mẹ, nói chung là phụ nữ đã giữ một vai trò rất quan trọng… trên sân khấu hay trong tiểu thuyết các bà mẹ đều mang các phẩm chất của dân tộc: yêu nƣớc, thƣơng con [33]. Nhƣ vậy, để khắc hoạ thành công và nhấn mạnh tính chất nhân dân trong hình tƣợng ngƣời mẹ, thơ Tố Hữu đã vận dụng rất thành công chất dân gian, nhƣ một thi pháp của thơ ông. Đó là bài Bầm ơi – một bài thơ nhƣ bài ca dao đọc dễ thuộc, dễ nhớ; bài Bà Bủ kế thừa rất sáng tạo và sâu sắc vốn cổ điển và vốn dân gian; bài bà mẹ Việt Bắc đọc lên “ta phảng phất nhớ lại những bài vè kể chuyện của quần chúng”. Và đặc biệt hơn, khi xây dựng hình ảnh ngƣời mẹ Tố Hữu rất chú ý đến đặc trƣng vùng miền, mầu sắc địa phƣơng…Nên ông đã sử dụng sáng tạo lớp từ ngữ địa phƣơng, “ nhân đôi giá trị thể hiện” ( giá trị phản ánh hiện thực và giá trị thể hiện tình cảm của ngƣời viết) của chúng trong việc khắc hoạ hình ảnh ngƣời mẹ. Cho nên mỗi bà mẹ ở những miền đất khác nhau đều có vẻ đẹp riêng và họ đã hội tụ thành một bức tƣợng đài mẹ Việt Nam anh hùng. Hình ảnh ngƣời mẹ trong thơ Tố Hữu là sự khái quát những đức tính tốt đẹp xƣa nay của con ngƣời Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. 3.4 So sánh với ngôn ngữ thơ Xuân Diệu, Huy Cận Nhƣ chúng ta đã biết, ba nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu đều là những ngƣời con của dải đất miền Trung, đều sống trong cùng một thời kì lịch sử của đất nƣớc, tuy họ có khuynh hƣớng sáng tác khác nhau song họ cũng gặp nhau ở một số đề tài nhƣ viết về quê hƣơng, viết về ngƣời mẹ Việt Nam … Vậy ngôn ngữ thơ của họ có đặc điểm gì ? Xuân Diệu viết về quê cha và quê mẹ với một tình cảm thật chân thành: Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ …Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quýt Vào giữa mái tranh, giường chõng, cột nhà Rứa, mô, chừ ? cha hỏi đều muốn biết. Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha! Hai miền quê với những đặc trƣng khác nhau (cha Nghệ An, mẹ Quy Nhơn), nên tác giả đã sử dụng từ địa phƣơng để biểu hiện nét riêng biệt của từng vùng trong ngoài của miền Trung dằng dặc. Chính nhờ từ địa phƣơng mà ta có mà ta có thể nhận biết đƣợc nét riêng của mỗi vùng quê. Hai miền quê tuy khác nhau nhƣng nó đã hoà làm một trong tình cảm vợ chồng quấn quýt. Nên tác giả viết: Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con Cảm ơn Thầy vượt đèo ngang bất kể! Cám ơn Má biết yêu người xứ Nghệ; Nên máu con chung hoà cả hai miền. (Cha đàng ngoài mẹ ở đàng trong) Khi viết về xứ Huế Tố Hữu đƣa vào trong thơ những từ địa phƣơng để làm nổi lên “phong vị quê hƣơng” còn Huy Cận thì khác ông viết về Huế với tƣ cách của một ngƣời dành tình cảm đặc biệt với Huế: “Xanh mượt bờ xanh Huế Huế ơi ! Cỏ cây đây đã hoá vườn trời Người đi bước nhẹ không nghe tiếng Mà nặng lòng yêu biết mấy mươi” (Huế vấn vƣơng) Thiên nhiên, con ngƣời xứ Huế mộng mơ đã để lại bao nỗi vấn vƣơng trong lòng nhà thơ. Đó là ấn tƣợng, cảm nhận riêng của Huy Cận về xứ Huế với một vẻ đẹp chẳng nơi nào có đƣợc: Giọng em vang tự trời quê Huế Nhẹ thoảng, xanh veo, mà xốn xang Nồng cháy như mồi thông núi Ngự Giọng em nửa thực, nửa mơ màng Chỉ một lần nghe đủ nhớ đời Huống chi anh được đón bao lời Bâng khuâng em nói trong chiều lạnh Ngơ ngẩn lòng ta Huế, Huế ơi ! (Huế vấn vƣơng) Ngƣời mẹ luôn là nguồn cảm hứng của các thi nhân. Nếu nhƣ Tố Hữu có cả một chùm thơ viết về mẹ thì ở Huy Cận và Xuân Diệu cũng dành những tình cảm đặc biệt cho mẹ qua các bài thơ “Thơ tặng má” (Xuân Diệu), “ Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (Huy Cận). Với Xuân Diệu thì “ Má là nguồn gốc của con” còn với Huy Cận ngƣời mẹ đƣợc ví nhƣ nƣớc non: Chồng chết trận rồi, đến lượt con Mẹ già cặm cụi sống chon von Tôi nhìn mẹ, tưởng Bà Trưng hiện về Bà mẹ nghìn năm của nước non. Nói chung, thơ Xuân Diệu và Huy Cận ít dùng từ địa phƣơng hơn Tố Hữu. Họ tìm chỗ mạnh cho riêng mình ở những yếu tố khác trong lối diễn đạt. Nó cũng là nét phong cách. Nhƣ vậy là tuy cùng viết về cùng một đề tài , cùng một nhân vật nhƣng mỗi nhà thơ đều lựa chọn cho mình cách thể hiện khác nhau, miễn sao lời thơ có thể bộc lộ đƣợc ý thơ, tình thơ. Sự lựa chọn đó phụ thuộc vào chủ thể sáng tác và đối tƣợng sáng tác. Mỗi nhà thơ đều tìm cho mình cách viết riêng, không ai giống ai và chính điều đó góp phần làm nên phong cách tác giả. Tố Hữu sử dụng từ địa phƣơng nhƣ một nét phong cách là độc đáo, riêng biệt mà không phải nhà thơ nào cũng có đƣợc. 3.5. Tiểu kết Ở chƣơng này ngƣời viết nghiên cứu quan điểm nghệ thuật của Tố Hữu trong việc sử dụng từ địa phƣơng, cách dùng từ địa phƣơng trong thơ ông. Qua đó có thể đƣa ra một số nhận xét sau: 1. Tố Hữu có quan điểm nghệ thuật rõ ràng và thống nhất là thơ phải đi vào cuộc sống, phản ánh cuộc sống, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ quần chúng đã đƣợc thể hiện rõ qua việc dùng từ địa phƣơng trong thơ ông. 2. Việc dùng từ địa phƣơng trong thơ Tố Hữu phải đáp ứng những tiêu chí: ba nguyên tắc khi dùng từ địa phƣơng là viết về địa phương, tác giả là người ở địa phương, và do yêu cầu của ngôn ngữ nghệ thuật. Cuối cùng là lựa chọn từ ngữ “đắc địa”. 3. Từ địa phƣơng trong thơ Tố Hữu có giá trị nghệ thuật lớn, mang lại hiệu quả “kép” giúp cho tác phẩm tăng thêm giá trị thẩm mĩ. 4. So với các tác giả cùng thời nhƣ Xuân Diệu, Huy Cận, nhà thơ Tố Hữu sử dụng từ địa phƣơng rất thành công và điều này góp phần làm nên nét riêng trong phong cách thơ ông. Tố Hữu là một tài năng trong việc sử dụng từ ngữ mà theo tác giả Phạm Văn Hảo “ông là ngƣời “đãi chữ” vào một miền từ ngữ còn ít đƣợc ngƣời ta khai thác nhƣ một chỗ mạnh và chỉ rõ hết cái ƣu của chúng một cách khá thành công, với một bút pháp già dặn” [19] Các vấn đề của đề tài: KẾT LUẬN 1. Thơ Tố Hữu là loại thơ chính trị, thơ trữ tình điệu nói, rất đậm đà bản sắc dân tộc. Qua các chặng đƣờng của thơ ông, ta thấy tính dân tộc thể hiện trong thơ gồm nhiều phƣơng diện, trong đó có ngôn ngữ, đó là lời ăn tiếng nói của nhân dân khắp các miền của Tổ quốc. 2. Từ ngữ địa phƣơng đƣợc sử dụng trong thơ Tố Hữu chiếm số lƣợng khá nhiều tới 267 từ với tần số 650 lần. Trong đó từ địa phƣơng ở khu vực Bắc bộ chiếm lƣợng nhỏ mà tập trung chủ yếu ở khu vực Trung bộ và Nam bộ.Đây là số từ không lớn đối với các phƣơng ngữ tiếng Việt, nhƣng là lớn đối với một tác giả thơ. Qua sự phân chia theo nhóm, phân loại và thống kê, miêu tả, ta phần nào hình dung đƣợc diện mạo các từ ngữ địa phƣơng đƣợc sử dụng trong thơ Tố Hữu rất đa dạng và phong phú. 2.1 Xét về mặt từ loại, từ địa phƣơng có những loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ. Nếu xét riêng ở danh từ thì có thể chia thành nhiều nhóm: “danh từ chỉ đồ vật”, “danh từ chỉ con vật”, “danh từ chỉ sông nƣớc”, “danh tử chỉ thiên nhiên”. Các từ ngữ trong từng nhóm thể hiện đặc điểm từng vùng miền khá rõ. 2.2 Nếu xét về đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa và cách sử dụng của các lớp từ cho thấy sự phân nhóm của các đơn vị: lớp từ khẩu ngữ, lớp từ xƣng gọi, các từ chỉ sản vật địa phƣơng, lớp từ chỉ thời gian. Cách sử dụng chúng đƣợc tác giả sử dụng khéo léo và linh hoạt khi miêu tả hoàn cảnh, nhân vật đối thoại trong thơ. 3. Tố Hữu có quan điểm sáng tác rõ ràng nhất quán, đó là thơ phải đi vào cuộc sống, phản ánh cuộc sống, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ quần chúng. Vì vậy việc ông đƣa từ địa phƣơng vào trong ngôn ngữ thơ càng thể hiện rõ điều này. Quan điểm của Tố Hữu khi sử dụng từ địa phƣơng đƣợc thể hiện rõ qua những khía cạnh: 3.1. Cách dùng từ địa phƣơng trong thơTố Hữu. Ông sử dụng từ địa phƣơng theo ba nguyên tác: khi viết về con ngƣời, cảnh vật quê hƣơng, tác giả (Tố Hữu) là ngƣời địa phƣơng Huế và do yêu cầu của ngôn ngữ nghệ thuật. Trong ba nguyên tắc trên thì nguyên tắc thứ nhất đƣợc coi là cơ bản, các nguyên tắc sau thể hiện sự độc đáo trong sử dụng ngôn ngữ thơ ông. 3.2. Tố Hữu lựa chọn từ ngữ “đắc địa”, giầu sắc thái biểu cảm, đúng lúc đúng đúng chỗ, khéo léo, “có nghề”, theo một quan điểm nhất quán nên từ địa phƣơng đã đƣợc nhân đôi giá trị sử dụng. Trong luận văn này ngƣời viết đƣa ra ba từ địa phƣơng “o”, “ hĩm”, “kêu” đƣợc sử dụng thành công để chứng minh. Qua đó thấy đƣợc tài năng của Tố Hữu trong việc sử dụng ngôn từ của ông. 3.3. So với các tác giả cùng thời, nhƣ Xuân Diệu, Huy Cận, thì Tố Hữu dùng nhiều từ địa phƣơng hơn, ngay cùng một loại chủ đề hay đề tài thơ. 4. Với việc sử dụng thành công từ ngữ địa phƣơng ,Tố Hữu đã tạo nên một nét riêng mang tính phong cách của ngôn ngữ thơ mình mà không phải nhà thơ nào cũng làm đƣợc. Điều đó đã góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ thơ Tố Hữu là thơ mang đậm phong cách dân gian- thơ trữ tình điệu nói. Vấn đề từ sử dụng ngữ địa phƣơng trong thơ văn nói chung và trong thơ Tố Hữu là một vấn đề còn có phần mới mẻ và khó. Do thời gian có hạn cùng nhƣ khả năng còn nhiều hạn chế nên chúng tôi chƣa có điều kiện tìm hiểu sâu và chi tiết hơn. Ngƣời viết rất mong sẽ có dịp tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 1. Phạm Thị Thuỳ Dƣơng (2008) Từ ngữ địa phương về người mẹ trong thơ Tố Hữu, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 10 / 2008. 2. Phạm Thị Thuỳ Dƣơng (2008) Địa danh trong thơ Tố Hữu (sẽ in vào Ngữ học trẻ- 2008, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Vũ Tuấn Anh (2002), Thơ Tố Hữu - Một hiện tượng lớn về văn thơ Việt Nam Hiện đại, Tạp chí Văn hóa, số 12. 2. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên) (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh. Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội. 3. Nguyễn Phan Cảnh (2001) Ngôn ngữ thơ, Nxb VH-TT, Hà Nội. 4. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội. 5. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 6. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nƣớc, Nxb KHXH, Hà Nội. 7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1996), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 8. Xuân Diệu. Trò chuyện với các nhà thơ trẻ, Nxb Văn hoá, Hà Nội. 9. Xuân Diệu (1975), Lời nói đầu cuốn Máu và hoa. Liên hiệp các Nxb Pari. 10. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam. Nxb Giáo dục. 11. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt Hiện đại. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 12. Hữu Đạt (2002), Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học. Nxb Hà Nội. 13. Hà Minh Đức(1995), Tố Hữu – thơ (Lời giới thiệu). Nxb Giáo dục. 14. Hà Minh Đức (2002), Qua những chặng đường dài của thơ tôi vẫn giữ bản sắc riêng của mình. Tạp chí Văn học, số 12. 15. Hà Minh Đức, Đỗ Văn Khang, Lý luận văn học, Nxb Giáo dục. 16. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt. Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. 17. Nguyễn Thị Hạnh, Thạch Thị Toàn, Nguyễn Anh Vũ (2003),Tố Hữu thơ và đời Nxb Văn Học , Hà Nội. 18. Phạm Văn Hảo (1979), Bàn thêm một số điểm về việc thu thập và định nghĩa từ địa phương trong từ điển tiếng Việt phổ thông. Tập 1, Tạp chí Ngôn ngữ số 2. 19. Phạm Văn Hảo (1998), Hiệu quả việc sử dụng từ địa phương. Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 3 (29). 20. Hoàng Thị Hằng (2006), Bước đầu khảo sát vốn từ địa phương trong thơ Tố Hữu. Khoá luận tốt nghiệp. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 21. Nguyễn Quang Hồng (1981), Các lớp từ địa phương và chức năng của chúng trong ngôn ngữ văn háo tiếng việt, tập 2. Nxb Khoa học xã hội. 22. Phạm Thị Thuý Hồng. Tìm hiểu từ địa phương trong truyện cười. Báo cáo khoa học K39, ĐHQG Hà Nội. 23. Vũ Bá Hùng(2000) Tiếng Việt và một số ngôn ngữ dân tộc trên bình diện ngữ âm, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 24. Trần Thị Minh Huệ(1998), Phương ngữ Nam bộ trong một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh. Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành ngôn ngữ, Hà Nội. 25. Mai Hƣơng (2000), Hành trình cách mạng – hành trình thơ. Tạp chí Văn học số 12. 26. Mai Hƣơng (1975), ý kiến của Tố Hữu và Thơ. Tạp chí Văn học số 4, 1975 27. Tố Hữu. Thơ Tố Hữu. NXB VHTT HN. 28. Tố Hữu (1973), Xây dựng một nền văn hoá lớn xứng đáng với nhân dân ta với thời đại ta Nxb Văn Hoá Hà Nội. 29. Kvà T. Tố Hữu- Nhà thơ của tương lai. Báo Mới, số 1 tháng 5 năm 1939 30. Lê Thanh Kim (2002), Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt. Luận án tiến sỹ ngữ văn, Viện ngôn ngữ học, Hà Nội. 31. Lê Đình Kỵ (1979), Thơ Tố Hữu. Nxb ĐHQG Hà Nội. 32. Đinh Trọng Lạc (1988), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt. N xb Giáo dục. 33. Phong Lan (2003) Tố Hữu về tác gia, tác phẩm. Nxb Giáo dục.34. Trần Thị Ngọc Lang (1998), Phương ngữ Nam bộ. NXB KHXH, Hà Nội. 35. Trần Thị Ngọc Lang (1982) Nhóm từ liên quan đến sông nứơc trong phương ngữ Nam bộ. Số phụ Ngôn ngữ số 2. 36. Trần Thị Quỳnh Mai (1999), Việc sử dụng từ ngữ địa phương trên báo Sài Gòn giải phóng. Luân văn tốt nghiệp K40. 37. Nguyễn Thị Ly Na (2005) Về hai quyển từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh. Khoá luận tốt nghiệp K46, ĐHQG Hà Nội. 38. Lê Thị Nhƣờng. Cách sử dụng tính từ trong thơ Tố Hữu. Luận văn tốt nghiệp, số 244 39. Hoàng Phê(1997), Từ điển tiếng Việt.Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng. 40. Trần Đình Sử (1995), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Giáo dục. 41. Nguyễn Đình Thi (1958), Tập thơ Việt Bắc. Sách Mấy vấn đề văn học. Nxb VH-TT. 42. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên ngiệp. 43. Huỳnh Công Tý (2006), Đặc điểm phương ngữ Nam bộ trong các diễn đạt. Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2 (123+124). 44. Võ Xuân Trang (1996), Phương ngữ Bình Trị Thiên. Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học Nxb Giáo dục. 45. Nguyễn Phú Trọng (1968), Phong vị dân ca trong thơ Tố Hữu. Tạp chí Văn học số 11. 46. Hoàng Tuệ, Phạm Văn Hảo, Lê Văn Trƣờng (1982), nhân dịp kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu bàn vê “Vai trò văn hoá xã hội của tiếng địa phương”, Tạp chí Ngôn ngữ số 2. 47. Nguyễn Nhƣ Ý (1997), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục. 48. Nguyễn Nhƣ Ý (2001), Từ điển từ địa phƣơng, Nxb Giáo dục. 49. Hội Ngôn ngữ học Việt Nam ( 2000). Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh Niên. PHỤ LỤC NHỮNG TỪ NGỮ ĐỊA PHƢƠNG TRONG THƠ TỐ HỮU STT Từ ngữ địa phƣơng Từ ngữ toàn dân Tần số Ví dụ 1 ả (d)(T) chị 1 Vợ ta chết? Nhƣng sống muôn em ả Nhà ta tan? Nhƣng sống vạn gia đình (Đời thợ) 2 áo quần lam (d) áo quần xanh 1 Ngƣời hàng xứ về lao đi lải rải Áo quần lam rách rƣới dáng bơ phờ 3 ấp (d)(N) Thôn, xóm 3 Chân nhanh qua ấp qua làng Đất còn nóng lửa Trảng Bàng, Củ Chi (Nƣớc non ngàn dặm) 4 Bạc (d)(T) Tiền nói chung 1 Đào xuân thắm dâng hƣơng ngoài cửa sổ Bạc xuân trong sắc trắng mái nhành lang (Ly rƣợu thọ) 5 Bái (d)(t) Bụi 1 Truông dài, bái rộng, đồng khuya Ngƣời đi nhƣ chẳng nhớ gì Tết xuân (Đêm giao thừa) 6 Báu (t)(N) Quý 1 Với tất cả bao nhiêu tình ngọc báu Của đôi linh hồn khổ tối hôm nay (Đôi bạn) 7 Bay (đt) (N,T) Chúng mày 32 Bay sẽ thấy cả Việt Nam đoàn kết Đứng phắt lên, giết cả loài bay (Quyết hy sinh) 8 Bắp (d)(B) Ngô 2 Bắp nảy, mía giòn Bát ngát Tây Nguyên vẫy gọi (Với Đảng muìa xuân) 9 Bằng lăng Cây 1 Bằng lăng bạc nắng mƣa hè (d)(T) xăng le Nghe nhƣ cƣa xét tiếng ve rít dài 10 Bao đồng (t)(T) Lan man 1 Suy nghĩ chuyệ bao đồng Vài bao hớp nƣớc trong (Con cá, Chột nƣa) 11 Bầm (đt)(b) mẹ 27 Bầm yêu con yêu luôn đồng chí Bầm quí con bầm quí cả anh em (Bầm ơi) 12 Bây chừ (d)(T,N) Bây giờ 1 Bây chừ biển rộng trời cao Cá tôm cũng sƣớng lòng nào chẳng xuân (Mẹ Suốt) 13 bé (t)(N) Nhỏ 1 Và lớn, và bé, đàn ông đàn bà Tất cả chiếm, mỗi ngƣời đôi khí giới (14 tháng 7) 14 Bên ni (đt)(T) Bên này 1 Bên ni biên giới là mình Bên kia biên giới cũng yình quê hƣơng (Đƣờng sang nƣớc bạn) 15 Bể (d)(N) Biển 6 Bão rơi rồi lại mƣa tuôn Bể dâng nƣớc mặn lụt nguồn tràn sông (Vỡ bờ) 16 Bông (d)(T) Hoa 1 Bông đầy, hạt mẩy (Tuổi 25) 17 Bộng (d)(N) Hang 2 Tay hái sắc dầu nhƣ tăm mong ráng Đƣờng thơm tho nhƣ mật bộng trƣa hè (Hi vọng) 18 Bơi chèo (đ)(N) Mái chèo 2 Bạn thuyền ơi! nỗ lực bới bơi chèo lên (Giờ quyết định) 19 Bợn (t)(N) Bẩn 1 Lòng không bợn chú bùn dơ Biết đâu trăm tuổi còn thơ với đời (Dƣỡng sinh) 20 Bớ (ct)(N) Tiếng gọi ngƣời 1 Máu có chảy phải xƣơng tan thịt nát Bớ công nông! tiếng hát cao (Ba mƣơi năm đời ta có Đảng) 21 Bố (đ)(N) Càn quét 1 Cho ta đƣợc làm cây chông miệng hố Đâm chết bầy giặc bố chiến khu (Có thể nào yên) 22 Bà bủ (d)(B) Bà cụ 6 Bà bủ nằm ổ chuối khô Bà bủ không ngủ nằm lo bời bời (Bà bủ) 23 Bu (đ)(T,N) Bâu 1 Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê Ghèn nhầy nhựa ruồi bu trên môi tím (Hai đứa bé) 24 Bữa ni (d)(T) Hôm nay 1 Hai đứa con phiêu bạt Bữa ni thành tƣơng tri (Tƣơng tri) 25 Búi (t)(T) Rối 1 Đôi hàng tóc xoã tung không búi Ôm lấy anh mà khoác giận yêu (Ngƣời về) 26 Bữa nay (d)(T) Hôm nay 1 Bữa nay ta lại tới cắm thuyền ta Giữa những tiếng reo hò dân nƣớc Pháp (14 thàng 7) 27 Bữa mô (d)(T) Bữa nào 1 Bữa mô mời bạn vô chơi Huế Cồn Huế, buồm giong ngƣợc bến tuần (Hoa tím) 28 Bữa (d)(T) Hôm 1 Đêm nay tháng chạp mồng mƣời Vài mƣơi bữa nữa tết rồi hết năm (Bà bủ) 29 Bƣng biền (d)(N) Vùng đất trũng 3 Lặn lội bưng biền (Đồng Tháp mƣời, Nhớ về anh) 30 Ca (đ)(N) Hát 8 Đàn ca đú đởn xa hoa Túi đầy chẳng chụi nhả ra một hào (Vơ Bờ) 31 Các dì (d)(T,N) Các chị 1 Thƣơng các cậu các dì chụi khảo tra không nói Đào hầm nuôi cán bộ tháng năm trƣờng (Bài ca quê hƣơng) 32 Cách mệnh (d) Cách mạng 3 Không gian xanh dội tiếng hát vang lừng Hồn cách mệnh đã châm ngòi thuốc nổ (14 tháng 7) 33 Cập kê (đ) Cận kề 1 Xích xát lại cập kề nhau vững chắc Dẫu sóng tung hay gió quật thân ngƣời (Giờ quyết định) 34 Chao (d)(T) Thêm 1 Chao ôi thƣơng nhớ chao thƣơng nhớ Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi (Nhớ Đồng) 35 Chan (t)(T) Nhiều 1 Giữa đống tro tàn, tay ta nhóm lửa Bão dập mƣa chan gan sắt dạ vàng (Trên đƣờng thiên lý) 36 Chầu (tr)(T) Lần, dịp 1 Nghị ôtô, nghị cô đầu chầu hát Nghị “uẩy xừ” không biết cái chi chi (Thƣa các ông nghị) 37 Chặt chỗ (t) Chặi chội 1 Đây con tàu im lặng vƣợt thời gian Toa lớn nhỏ quanh năm vừa chặt chỗ (Quanh quẩn) 38 Chi (đt)(T) Gì 34 Nhớ làm sao biết bao nhiêu đèo suối Kể làm chi mấy tuổi đƣờng đời (Một nhành xuân) Nghị ôtô, nghị cô đầu chầu hát Nghị “uẩy xừ” không biết cái chi chi (Thƣa các ông nghị) 39 Chí (d)(T) Chấy 1 Mà muỗi rệt cũng hè nhau đốt cắn Mà đến loài chí rận cũng không tha (Quanh quẩn) 40 Chút (nv)(T) bé 3 Lại đây chút nghe anh Lại đây với bạn tâm tình một đêm (Cảm thông) 41 Chi rứa (nv)(T) Gì thế 1 Nỗi niềm chi rứa, Huế ơi Mà mƣa xối xả trắng trời Thừa Thiên (Nƣớc non ngàn dặm) 42 Chim cà lơi (d) 1 Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi Nhẹ nhàng nhƣ con chim cà lơi 43 Chừ (d)(N,T) Giờ 8 Hiểu nhau rồi hiểu lắm bạn ơi Chừ đây không đợi nói lên lời (Tƣơng thân) Nhà tan cửa nát, cuãng ừ Đánh xong giặc Mỹ, cực chừ sƣớng sau 44 Chửa Chƣa 4 Mẹ không còn nữa con còn Đảng Dui dắt khi con chửa biết gì (Quê mẹ) 45 Chúng bay (đt) (T,N) Chúng mày 11 Chúng bay không thể có ngày mai Chết dƣới chân bay vạn mũi gài (Quê mẹ) 46 Chui cha (ct)(N) ôi chao 1 Anh nhìn tôi, đau đớn, thầm thì Tôi nhớ lắm, chui cha, tôi nhớ lắm (Châu Ro) 47 Cây đào (d)(T) Cây roi 1 Cây đào chín mọng quả tƣơi Ngày chim rúc rích đêm rơi lƣợn vòng (Vƣờn nhà) 48 Cây chuối mật (d)(T) Chuối tây 1 Đơn sơ nhà nhỏ hai gian Đôi cây chuối mật một giàn mƣớt hƣơng (Nhớ Chế Lan Viên) 49 Chuồng tiêu (d)(T) Nhà vệ sinh 1 Những tƣờng cao và những chắn song dài Chuồng tiêu giữ hai ô phòng nhỏ nhỏ 50 heo (d)(T) lợn 1 Ngoài ngoại ô rác bẩn nhƣ chuồng heo Nằm soi lƣng lở lói dƣới ao bèo (Đời thợ) 51 Chóng (t) Nhanh 1 Ngày đi chóng bởi không chờ tháng chậm Khác dài lâu ngao ngán rủa bâng khuâng 52 Choa (đt) Chúng tôi 3 Chém cha ba đứa đánh phu Choa đói choa rét bây chờ gì choa 53 Chuồi Luồn 1 Tôi chẳng nói chuồi tay qua cửa sắt (đt) Và ngậm ngùi: “bác cầm lấy tay choa” 54 Chẳng hề chi (T,N) Chẳng ca gì 1 Chẳng hề chi. Cách mạng đâu cần Lòng sẵn mở. Và chân sẵn bƣớc (Mừng bạn, mừng ta) 55 Coi (đ)(T,N) Xem 4 Đó anh coi… giống bò này giống Hà Lan, Thuỵ sỹ Trại mới xây, hiện đại nhất đời (Gặp anh Hồ Giáo) 56 Chốc (tr) Lát sau 1 Đầu tôi cháy bùng lên nhƣ cục lửa Chốc nữa sẽ thành than (Bắn chết) 57 Con chuồn (d) Cá chuồn 1 Về với Tam Giang nhƣ con chuồn con trích (Bài ca quê hƣơng) 58 Con trích (d) Cá trích 1 59 Cội (d)(T) Gốc 1 Đảng cùng ta nhƣ cội liền cành (Một nhành xuân) 60 Cồn (d)(T) Bui rậm 1 Chị thì hái củ trên non Em thì mƣa nắng bãi cồn chăn trâu (Chuyện em) 61 Cồn (d)(T) Cát 1 Chim kêu cành cụt chang chang nắng cồn (Nƣớc non ngàn dặm) 62 Cổi (đ)(T) Cởi 1 Rồi một hôm nào cổi áo xanh Hết cùm hết xích hết roi canh 63 Cơ chi (ct)(T,N) Làm sao 3 Ôi! cơ chi anh đƣợc về với Huế Không đợi trƣa nay, phƣợng nở với cờ 64 Con nhồng (d)(N) Con yểng 1 Ngoài song giăng, đêm đã biến từ nào Có con nhồng đâu đó hót trên cao (Đời thợ) 65 Chột nƣa (d)(T) Khoai nƣa 1 Ăn đi vài con cá Năm bảy cái chột nưa (Con cá, chột nƣa) 66 Cớ răng (nv)(T) Vì sao Làm sao 1 Ghé tai mẹ hỏi tò mò Cớ răng ông cũng ƣng cho mẹ chèo (Mẹ Suốt) 67 Cƣơi (d)(T) Sân 1 Có lẽ con anh lớn lắm rồi Chúng đƣơng đùa nghịch hét vàn cươi (Ngƣời về) 68 Dạ (T) Vâng 1 Huế đã cƣời vui đủ ấm no Ngọt ngào tiếng “dạ” cứ nhƣ cho (Hếu lại huy hoàng) 69 Dầu Dù 1 Biển trời dầu có giới hạn (Tình thƣơng với chiến tranh) 70 Dầy (t)(T) Dày 1 Ai hai bàn tay Dầy hai lấm mỡ (Tiếng chuông nhà thờ) 71 Dòm (đ)(T) Nhìn 1 Dòm qua lỗ cửa âm thầm Bóng anh với một tình trăm năm! (Cảm thông) 72 Dụi huyền Dụi hiền 1 Ôi những sắc dụi huyền gây phấn khởi (14 tháng 7) 73 Dợi Vơi 1 Tôi chỉ dợi cơn buồn anh dụi lại (Đôi bạn) 74 Dơ (t)(N) Bẩn 4 Từ đổ nát ta lại xây dựng mới Rũ bùn dơ mặt đất sẽ thanh tân (Chân lỹ vẫn xanh tƣơi) 75 Dữ (t)(N) Dữ ở mức độ cao 1 Hay ghê gớm nổi côn cao sóng dữ (Những ngƣời không chết) 76 Đanh (T,N) đinh 1 Dẫu còn sƣơng gió đanh thêm mạ Cho múa xuân thêm sắc mƣợt mà (Xuân đấy) 77 Đặng (N) Đƣợc 3 Mà hầm lò im ắng Lòng sao yên đặng (Biển mơ) 78 Đi rỏn (đ) Đi tuần 1 Ngoài hiên nghe tiếng giày đi rỏn Mẹ bấm con im: chúng nó lùng (Quê mẹ) 79 Đoạ đầy (t)(B) Đọa đày 1 Chính đời tôi đã giết chết tình thƣơng Mà khốn khổ vẫn đoạ đầy xác héo (Hai cái chết) 80 Đỏ chạch (t)(T) Cực đỏ 1 Chao hui quạnh! Trên vùng khô đỏ chạch Không vết chân không mọt dấu đƣờng cày (Lao Bảo) 81 Đói lả (t)(T,N) đói kiệt sức 1 Cháu thơ đói lả ôm bà Con đeo chân bố khóc la đêm ngày (Đói! Đói) 82 đú đởn (t)(T) đùa giỡn 1 Đàn ca đú đởn xa hoa Túi đầy chẳng chịu nhả ra một hào (Vỡ đê) 83 đôi kẻ (d) Vài ngƣời 1 Khách đôi kẻ trông ra ngoài tính nhẩm 84 đôi hôm Vài hôm 1 Ăn cá kho mặn chát Đôi hôm đƣợc trái dừa (Mƣời tám thôn vƣờn trầu) 85 Đờn (d)(N) đàn 3 Ngón tay mền mại phìm đờn Bấm từng ngọn lá dâu non, nhẹ nhàng (Tằm tơ Bảo Lộc) 86 Đƣơng (ph.vt) đang 10 Anh đƣơng sống với bao sinh lực Của thân cây đƣơng buổi nhựa nổi cành (Những ngƣời không chết) 87 Gianh (d)(B) Tranh 3 Ta còn nghèo phố chật nhà gianh Nhƣng cũng đủ vài tranh treo tết (Bài ca xuân 1961) 88 Gài (đ)(T) Cài 4 Chúng bay không thể có ngày mai Chết dƣới chân bay vạn mũi gài (Quê mẹ) 89 Găng Gắng 1 Da rét, mặc! Tả tơi quần áo, mặc! Phải găng lên mỗi đứa chúng mình ơi (Giờ quyết định) 90 Giày (t)(T) Dày 1 Chƣơng trình mi giày đạp cả Trung Hoa Mi lại tính đến bao giờ song nhỉ (Song thất) 91 Giăng (d)(B) Trăng 1 Ngoài sông giăng, trăng sáng biêtbao nhiêu Mà ânh thấy trời đen nhƣ vực thẳm (Đời thợ) 92 Giầu(t)(B) Giàu 1 Nửa Tây và nửa Đông Mạnh giầu riêng một cõi (Lão đầy tớ) 93 Giữ Giữa 1 Những tƣờng cao và những chắn song dài Chuồng tiêu gĩư hai ô phòng nhỏ 94 Giong (đ)(B) Chong 1 Bữa mô mời bạn vô chơi Huế Cồn Huế buồm giong ngƣợc bến Tuần (Hoa Tím) 95 Ghe (d)(T,N) Thuyền 6 Nhớ buổi chiều về thăm quê Đồng Khởi Sồn rạch Mỏ Cày, xúm xít thuyền ghe 96 Ghèn (d)(T) gỉ mắt 1 Đứa ngoài sân trong cát bẩn bò lê Ghèn nhầy nhụa ruồi bu trên môi tím (Hai đứa bé) 97 Gởi (đ) (T,N) Gửi 4 Nằm ghe mình chuyện với mình Mênh mông nhớ bạn gởi tình trăm phƣơng (Đông) 98 Gợn (t)(T) Cợn 1 Ôi kiếp trăm năm đƣợc mấy ngày Trời xanh không gợn bóng mây bay (Một tiếng đờn) 99 Ham (t)(T) thích 3 Trƣờng tôi kiểu cách gì đâu Không ham mái ngói chẳng cầu tƣờng vôi (Trƣờng tôi) 100 hè (đ)(T) Hợp sức 1 Mà muỗi rệp cũng hè nhau đốt cắn Mà đến loại chí rận cũng không tha (Quanh quẩn) 101 Hề (N) Thiệt hại 1 Sự sống phát sinh từ cái chết Thì gian nguy hiểm nạn có hề chi (Nhƣ những con tàu) 102 Hĩm Từ gọi ngƣời con gái đầu lòng 1 Nhƣ thể khách đƣờng xa ghé lại Bố đi đâu, hĩm, mẹ đâu nào 103 Hết thảy Tất cả 1 Chỉ biết quên mình cho hết thảy Nhƣ dòng sông chảy nặng phù xa (Theo chân Bác) 104 Hời Hoài 1 Vắng nghe tiếng mẹ ru hời Ấm hơi mẹ ẵm, nhƣ thời còn thơ (Nghe cu cƣờm gáy) 105 Hộc (d)(T,N) Ngăn 1 Và dƣới bóng mày đen trong hộc tối Nhƣ hang đá chiều hôm dày khí núi (Châu ro) 106 Hừng (t)(N) Bùng 2 Nhân dân ta là sức mạnh thần kỳ Mùa xuân mới đã hừng lên phía trƣớc (Anh cùng em) 107 Hƣờng (t)(N) Hồng 2 Những buổi mai hường nắng mới tinh Bên đƣờng sƣơng mát lá rung rinh (Tình khoai sắn) 108 Ngƣời hàng xứ (d) Ngƣời tù nói chung 1 Ngưòi háng xứ đi về lao lải rải Áo quần lam rách rƣới dáng bơ phờ (Trƣa tù) 109 Kêu (đ)(T,N) Gọi 13 Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu 110 Kiếm (đ)(T,N) Tìm 1 Đâu nhớ ngày xƣa tôi nhớ tôi Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu thƣơng (Nhớ đồng) 111 Kiểng (d)(N) Kẻng 3 Chuông đạo hát vô tƣ Kiểng tù khua gắt gỏng 112 Kiểng (d)(N) Cảnh 1 Nét xƣa, quê kiểng bao đời Nay sao duyên dáng rạng ngời thanh tân (Chợ Đồng xuân) 113 Khét (t)(T) Cháy xém 3 Múc gió vàng trong những non vàng khô Và uể oải hắt vào lƣng khét cháy (Trƣa tù) 114 Kể chi (t) Kể gì 1 Kể chi mua bán lỗ lời Bạn vui mời bạn lại chơi vƣờn nhà (Vƣờn nhà) 115 Khỏi lo (N) Thôi, dừng 1 Tui già rồi, có chết có chết khỏi lo Bọn trẻ sống, còn tay bắn giỏ (Một khúc ca) 116 Không nhẽ (B) Không lẽ 1 Tôi bảo thầm: “khôn nhẽ chết chùm hai ” Và vui mộ về mồ cho cháu sống (Hai cái chết) 117 Khơi (đ)(N) Khêu 1 Dẫu có hơi sức khơi dòng thẳng Còn chút phù xa cũng gắng bồi (Chào xuân 99) 118 Khua (d)(T) Một loại dòi mới nở 1 Nhắm mí mắt chờn vờn trong hộc tối Nhánh xƣơng khô khua rợn cả lòng tôi (Lao Bảo) 119 La (đ)(T,N) Gọi 1 Anh về chắc chúng ngừng vui lại Bỡ ngỡ rồi la: “Cha! Cha ơi” (Ngƣời về) 120 Lá buông Một loại lá cỏ phơi khô ngả màu trắng 1 Lá buông trắng vách lều tre Bài ca hi vọng hát nghe ấm lòng (Nƣớc non ngàn dặm) 121 Lá trung quân Lá dùng để lợp nha, đốt 1 Nà anh lợp lá trung quân Quanh thềm mƣa nắng đêm xuân ngày hè không cháy thành lửa (Nƣớc non ngàn dặm) 122 Lạc (d)(T,N) Nhạc 1 Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dƣới đƣờng xa nghe tiếng guốc đi về (Tâm từ trong tù) 123 Lái (d) (t,N) Lƣới 2 Thuyền bơi có lái qua mƣa gió Không lái thuyền trôi, lạc bến bờ (Chuyện thơ) 124 Lánh (đ) Tránh 1 Mẹ ơi bom đạn bất ngờ Sao không tạm lánh xa bờ ít lâu? (Mẹ Diệm) 125 Làm răng (nv)(T) Làm sao 1 Vì dù đèn tắt, đã có trăng Khổ em thì em chịu, biết làm răng đặng chừ (Tiếng hát quê hƣơng) 126 Lải rải (t) Lai rai 1 Ngƣời hàng xứ về lao đi lai rải áo quần lam rách rƣới dáng bơ phờ (Trƣa tù) 127 Lãnh (đ)(N) lĩnh 1 Mỗi ngƣời đi khi lãnh vẽ vào toa Là cảm thấy mình xa vào địa ngục (Quanh quẩn) 128 Lạnh lạt (t)(T,N) Lạnh nhạt 1 129 Lạt (t)(T,N) Nhạt 2 Đời lạt mùi và đau đớn bất công Là để việc cho thời xuân sức khoẻ (Ý Xuân) 130 Lạt lẽo Nhạt nhẽo 1 Ôi lạt lẽo là những ngày lạnh lẽo Mùa đông sang băng giá cả lòng tôi (Hai cái chết) 131 Lao (d) Nhà tù 1 Ngƣời hàng xứ về lao đi lải rải áo quần lam lải rải dáng bơ phờ (Trƣa tù) 132 Lầm (t) (T) Nhầm 1 Tôi kể ngày xƣa chuyện Mỵ Châu Trái tim lầm lỡ để trên đầu (Tâm sự) 133 Lầu Chỉ nhà cao tầng 8 Giữa rộn ràng đô thành Lầu cao nghễu nghện (Chị và em) 134 Lầy sình Bùn lầy 2 Đồng chua ruộng trũng lầy sình Mà lòng ngƣời lại ơn tình ngọt thơm (Làng Thƣợng) 135 Len (đ) Chen 1 Trăng khuya len xuống rừng già Đƣờngnon thăm thẳng, đá gài lô nhô (Tiếng sáo ly quê) 136 Lối xóm (d)(N) Hàng xóm 1 Các má già Bến Tre cức cầm tay hờn dỗi Tƣởng tụi bay quên lối xóm không về (Một khúc ca) 137 Lộng lãy Lộng lẫy 1 Trong lầu son lộng lẫy, phe phẩy quạt ngà xinh 138 Lùa (đ)(T) Dồn 2 Suốt ngày em lội dƣới lầy Lùa bùn đắp đấtđắp dày đƣờng cao (Tiếng hát trên đê) 139 Liếp (d)(T) Luống 1 Những nhà ngày xƣa đã tới đây Cột sơn đã đuổi liếp tre gầy 140 Lƣng lẻo (t)(N) Vơi, chƣa đầy 1 Có bao nhiêu đem khởi cuộc hành trình Tôi chất cả vào rƣơng còn lưng lẻo (Hy vọng) 141 Loài bay (d)(T,N) Bọn mày 1 Đã giết ta, sẽ giết lại loài bay Bão ngày mai là gió nổi hôm nay (Thù muôn đời muôn kiếp không tan) 142 Lon (d)(N) ống bơ 1 Một quan gạo sáu lon thôi Không tiền mua cám mà nuôi mẹ già (Đói! đói) 143 Lơi chèo (d)(N) Bơi chèo 1 Không thể nữa lơi chèo hay quay lái Đằng sau kia còn bãi cát nào đâu (Giờ quyết định) 144 Lu (t)(n) Mờ 1 Trăng lu 145 Lũ (đ)(T) Lụt 2 Chiều nay heo hút rừng sâu Mƣa nguồn suối lũ biết đâu mà tìm (Mƣa rơi) 146 Luồn Tuột, trôi tuột 1 Tự cƣờng, mới biết ai gan góc Luồn lọt hay chi phận yếu hèn (Đêm cuối năm) 147 Má (đt)(N) mẹ 31 Hay má lẫn quên vì tuổi tác Hay má liều một thác cho yên (Bà má Hậu Giang) 148 Mả (d)(N) Mộ 2 Đã đào sâu ngăn cản bƣớc chân mi đi Một huyệt mả chôn loại mi tất cả (Song thất) 149 Mạnh (t)(N) khoẻ 3 Anh ở ngoài kia có mạnh không? Nhớ anh em vẫn để trong lòng (Lá thƣ bến tre) 150 Mau giỏi (t))T,N) Chóng giỏi 1 Súng em càng đánh càng hăng Chỉ mong mau giỏi, mau bằng các anh (Chuyện em) 151 Mày (d) Vỏ ốc 1 ở dƣới bóng mày đen trong hộc tối Nhƣ hang đá chiều hôm dày kín núi (Châu ro) 152 Mầu (d) Màu 1 Anh thƣơng binh áo bạc mầu rách nát Trên vỉa hè chống nạn đỡ chân đau (Cho xuân hạnh phúc đến muôn đời) 153 Me (đt)(T) mẹ 1 Ồ lạ chửa? đứa xinh tròn mũn mĩm Cƣời trong chăn và nũng nụi me (Hai đứa bé) 154 mé (d)(N) phía bên 1 Ngày xƣa khoai săn sống lang bang Bãi cát nghèo khô, mé núi hoang (Tình khoai sắn) 155 mé (d)(B) mẹ 5 Mé kể nguồn cơn Chuyện nhà chuyện cửa (Bà mẹ Việt Bắc) 156 Mê (T) Mơ 3 Pờ-ra-ha vàng tím chiều hè Hỡi nàng công chúa nằm mê mộng gỡ (Nhật ký đƣờng về) 157 Mền (d) (T,N) Chăn 1 Mền không mà chiếu cũng không Một mỡnh trơ trọi giữa phũng xà lim (Đông) 158 Mi (đt)(T) Mày 15 Thấy chƣa mi tất cả nguồn huyết khí Khối tinh thần sắt đá của Trung Hoa (Song thất) 159 Mí (d)(T) Mi 2 Ta nhắm mắt để thời gian trên mí Chở thuyền hồn lên những bến bờ qua (14 tháng 7) 160 Mo (d)(B) Gàu 2 Yên ngựa buông cƣơng buồn thế sự Xe bũ, mo đậy thơ ngông (Kính chào cụ Nguyễn Công Trứ) 161 Mô (nv)(T) Đâu 3 Cách ngăn mƣời tám năm trƣờng Khi mô mới đƣợc nối đƣờng vô ra? (Nƣớc non ngàn dăm) 162 Mối (d)(T) Nối 1 Bóo cố xộ cho đoàn ta tan ró Thỡ mau lờn riết chặt mối ngàn dây (Giờ quyết định) 163 Khoai môn (d)(T) Khoai sọ 2 Mừng quá bây giờ cơm bớt độn môn khoai Nhà ngói mới, đỏ áo màu chiến thắng (Anh cùng em) 164 Ná (d)(T) Nứa 1 Nhƣ Thạch Sanh của thế kỷ hai mƣơi Một cây ná, một cây trông cũng tiến công giặc Mỹ (Bài ca xuân 68) 165 Nám (đ)(N) Rám 1 Sƣơng gội phôi phai vầng trán nám Rêu in thấp thoáng bóng mây trôi (Qua cổ tháp) 166 Nằn nỡ (đ) Năn nỉ 2 Cái bụng cứ nằn nỉ (Con cá, chột nƣa) 167 Nầy (đt)(N) Này 1 Tiến lên hăng nữa đừng tha Cầm dao cầm súng xông pha phen nầy (Đói!đói) 168 nén tơ (d)(N) đơn vị của tơ 1 Một nong kén là mấy là mấy nén tơ (Tằm tơ Bảo Lộc) 169 nín (đ)(N) nhịn 1 Một bƣớc nhịn bƣớc sau cố nhịn Giặc càng hung cũn nín đƣợc sao (Ba mƣơi năm đời ta có Đảng) 170 Nhả (đ) Thả 1 Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi Đâu ruồng tre mát thở yên vui (Nhớ đồng) 172 Nhám (t)(T,N) Ráp 1 Ờ cũng bàn tay đó nắm qua Ngón dày gân guốc nhám chai da 173 Nhành (d)(T,N) Cành 4 Xuân bƣớc nhẹ trên nhành non lá mới Bạn đời ơi vui lắm cả trời hồng (í xuõn) 174 Nhảy (đ)(T) nghịch ngợm 1 Đêm Hạ Long, trời sao nhấp nhánh Sóng vờn quanh đảo nhảy (Biển mơ) 175 Nhăn (đ)(N) Nhăn nhó 1 Không một bóng lờ mờ Không một nhăn ám muội (Con cá, chột nƣa) 176 Nhặng (d)(T) Ruồi 1 Hè thoáng đƣờng thông sạch nhặng ruồi Sạch lũng ta nữa hết tanh hụi (Mùa xuâm mới) 177 Nhậu (đ)(N) Uống rƣợu 1 Hàng quán lai rai nhậu rƣợu tây 178 Nhẩy (đ)(B) Nhảy 1 Cùng trỗi dạy oai nghi nhƣ vừ tƣớng Giật thanh đao khẩu súng nhẩy ra ngoài (14 tháng 7) 179 Nhấp nhánh (t)(N) Lấp lánh 1 Ai tƣởng thiên đƣờng sao nhấp nhánh Tài hoa tinh kết ngọc long lanh (Dửng dƣng) 180 Nhọc (đ)(T,N) Mệt 6 Những đêm tối anh viết bài em học Cho em quên bớt nỗi nhọc ban ngày (Đi đi em) 181 Nhủ (đ)(T) Bảo 1 Mỗi đêm mỡnh lại nhủ mỡnh Gắng làm sao đƣợc hoà bỡnh ấm no (Ngày và đêm) 182 Nhún nhẩy(t)(B) Nhún nhảy 1 Nhà anh có một cây hồng Quả con nhún nhẩy đèn lồng cành (Cây hồng) 183 Ngàn Nghỡn 18 Nƣớc mắt trào dâng nhƣ tƣới Nức nở ôm ngàn thây (Tỡnh thƣơng với chiến tranh) 184 Ngái (t)(T) Xa 1 Đi mô cho ngái cho xa Ở nhà với mẹ đặng mà nuôi quân (Chuyện em) 185 Ngầm (d) Đƣờng qua ruồng 1 Nóng nung vạt áo ƣớt đâm Thƣơng con bƣớm trắng quạt ngầm suối khô (Nƣớc non ngàn dặm) 186 Ngó (đ)(T,N) Nhỡn 14 Sức đâu nhƣ ngọn sóng trào Má già đứng dạy ngó vào thằng tây (Bà má Hậu Giang) 187 Ngừ (d)(T) đƣờng nhỏ 1 Những ngừ nhà xƣa đó tới đây Cột sơn đó đuổi liếp tre gầy (Ngƣời về) 188 Ngoắt (đ)(T,N) Vẫy 1 Đây nẻo làng quen tự bé thơ Tre thân ngoắt ngọn ý mong chờ (Ngƣời về) 189 Ngột (đ)(T) Ngạt 1 Ngột làm sao chết uất thôi, Con chim Tu hú ngoài trời cứ kêu (Khi con chim tu hú) 190 Nói giùm (đ)(N) Nói giúp hộ 1 Và con sẽ nói giùm với mẹ Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn (Emili, con…) 191 Nón (d)(N) Mũ nón nói chung 2 Manh áo mỏng che em không kín ngực Đầu không nón, bụi sƣơng thầm chấm ƣớt (một tiếng rao đêm) 192 Nở (đ)(N) Sinh ra 1 Liên Xô nở trƣớc đời tôi ba tuổi Hai mƣơi xuân gội nhựa ƣớt đầu xanh (Hy vọng) 193 Nọ (đt)(T,B) đó, ấy 1 Âm ti một cừi đó mà Nọ lầu năm góc kia nhà Trắng… tang (Nhật ký đƣờng về) 194 O (đ)(T) chị hoặc em gái bố 1 O du kích nhỏ giƣơng cao súng Thằng Mỹ lênh khênh bƣớc cúi đầu (Tấn ảnh) 195 Oà(đt)(T) ùa 1 Quả tơ nấp dƣới lá già Để sang thu bỗng oà ra ngọt ngào (Vƣờn nhà) 196 Oai (nghi) (t) Nghiêm 1 Cũng trỗi dậy oai nghi nhƣ vừ tƣớng Giật thanh đao, khẩu súng nhảy ra ngoài (14 tháng 7) 197 ổ (d)(T,N) Tổ 2 Bà bủ nằm ổ chuối khô Bà bủ không ngủ bà lo bời bời (Bà bủ) 198 ổ lều con (d)(T,N) Tổ lều con 1 Cũn chơ vơ một ổ lều con (Bà má Hậu Giang) 199 ổ rơm Tổ rơm 1 Dàm cho tấm chiếu ổ rơm ấm cùng (Làng thƣợng) 200 ối (t)(N) Nhiều 1 Văn chƣơng bút bẩn bao hàng rởm Lý luận đầu trơn ối tập dày (Quảng cáo) 201 ống dũm (d)(N) ống nhũm 1 Rút ống dũm và ngƣớc mắt nheo (Bà má Hậu Giang) 202 ơn ngói (d)(N) ơn nghĩa 1 Nặng biết bao ơn ngói Quý hơn bao vàng đầy (Bài ca lái xe đêm) 203 Phƣớc (đ)(N) Phúc 1 Chết để phước cho đời Con chỏu cũn nhớ mói (Chuyện vui xí nghiệp) 204 Ráo (t)(T,N) Khô, sạch 1 Sỳng hóy gầm lờn, nộn xút đau Hóy lau ráo lệ, ngẩng cao đầu (Theo chân Bác) 205 Rành (đ)(T,N) Rừ 1 Có anh bộ đội sắm đồng hồ Thật giả không rành bụng cứ lo (Thật giả) 206 Ráng (đ)(N) Gắng, cố 1 Thụi thỡ thụi, cứ vật Nhƣng phải ráng cầm hơi (Con cá, chột nƣa) 207 Rảo (đ)(T) đi tuần tra 1 Ngƣời đi qua Rảo gót lặng thinh (Lạnh lạt) 208 Rày (đt)(T) Này 5 Suốt mấy hôm rày đau tiễn đƣa Đời tuôn nƣớc mắt trời tuôn mƣa (Bác ơi) 209 Rạp (đ) Cúi 1 Dƣới gót sắt nghiêng mỡnh khuất phục Phải rạp đầu trong máu bụi tro than (Song thất) 210 Rắc (đ)(T) Rải, gieo 1 Bạc xuân trong rắc trắng mái hành lang (Ly rƣợu thọ) 211 Rắn (t) khoẻ 1 Nhớ bạn đời trai trẻ dậy xuân tƣơi Trong nét rắn của thõn hỡnh vạm vỡ (Nhớ ngƣời) 212 Râm (d)(t) Lùm cây rậm rạp 1 Vƣờn râm dạy tiếmg ve ngâm Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào (Khi con tu hú) 213 Râm bụt (b) Cây râm bụt 1 Thăm lại vƣờn xƣa mái cỏ ranh Thƣơng hàng râm bụt luống rau xanh (Theo chân Bác) 214 Rần rần (t)(N) Rầm rập 4 Vui nhộn nhất là các toa tuổi trẻ Rất “vô tƣ” hát nhảy rần rần (Chào thế kỷ 21) 215 Rật (đ)(N) Rập 1 Những con chim lƣời cũn ngủ dƣới hàng me Vừa tỉnh dậy, rật lên đầu rúi rít (Trên đƣờng thiên lý) 216 Rền (t)(N) Vang 2 Voi đi lững thững, bỡnh yờn Bỗng ngơ ngác đứng. Bom rền xa xa 217 Riết (đ)(T,N) Xiết 4 Trong một trời sợ hói Riết chặt những bầu tim (Tỡnh thƣơng với chiến tranh) 218 Rỗ (t)(T) Rộp 1 Trên đƣờng theo dấu chân muôn bạn Gót rỗ hằng quen dẫm bƣớc gai (Năm xƣa) 219 Rú (d)(T) Rừng 1 Quê hƣơng anh đó gió sƣơng mù Và rú rừng đây của chiến khu (Lên Tây Bắc) 220 Rục (đ) Mục 1 Đẩy nhanh lên hƣớng thành cao của ngục Nơi muôn ngƣời vô tội rục nhừ xƣơng (14 tháng 7) 221 Ruồng (đ)(N) Càn quét 1 Anh ạ từ hôm tết đến nay Giặc đi ruồng bố khắp ngày đêm (Lá thƣ Bến Tre) 222 Ruồng (d)(T) Luỹ tre 1 Thôi kể làm chi nỗi đoạn trƣờng Sau ruồng tre ấy chốn quê hƣơng (Tƣơng thân) 223 Ruổi ruổi (đ)(N) đuổi 1 Hỡi đồng chí dọc ngang sông rạch Hóy cho hồn ta ruổi ruổi theo (Có hiện thựcể nào yên) 224 Rứa (T) Thế 1 Rứa là hết! Chiều nay em đi mói Cũn mong chi ngày trở lại Phƣớc ơi (Đi đi em) 225 Sa (đ)(T) Sẩy 1 Lấy chồng cũng khổ con ra Tám lần đẻ, mấy lần sa, tội tỡnh (Mẹ Suốt) 226 Sá chi (T,N) Sỏ gỡ 1 Tuốt gƣơm không chịu sống quỡ Tuổi xanh chảng tiếc sá chi bạc đầu (Tiếng hát sang xuân) 227 Sập (d)(T) đồ dùng bằng gỗ 1 Khách chen chúc trên hai hàng sập gỗ Một lối đi vừa rộng giữa bờ sai (Quanh quẩn) 228 Sây (t)(T) Sai 1 Đang hút mật của đời sây hoa trái Hƣơng tự do thơm mát cả ngàn ngày (Tâm tƣ trong tù) 229 Se (t)(N) Khô 1 Gió se man mác sƣơng mù (Đƣờng vào) 230 Se sẽ (t)(T) Khe khẽ 1 Tôi nhổm dậy tới gần se sẽ đáp (Đôi bạn) 231 Sƣơng (d)(T,N) Gánh 1 Mẹ con một bữa về đƣờng Gạo ngon một gánh em sương nặng đầy (Chuyện em) 232 Tha (đ)(T) kéo 2 Rồi tha ông già Cũn con nú giữ (Bà mẹ Việt Bắc) 233 Thày (đt)(B) Bố 1 Mai sau con lớn hơn thày Các con ôm cả hai tay đất trời (Tiếng ru) 234 Thăng (d)(T) Xoong 1 Lúa mà mất sạch mọi nơi Giặc cũn vơ vét hết nồi đến thăng (Đói! đói) 235 Thắt (đ)(T) Cột, buôc 1 Mà lũng anh ngổn ngang ruột thắt Nhƣ chính anh nửa mỡnh chia cắt (Nhớ về anh) 236 Thây (d) Thân xác 4 Đánh cho gặc Nhật tan thây Vằm cho nát mặt cả bầy Việt gian (Đói! đói!) 237 Thiệt (t)(N) Thật 5 Gặp anh mừng thiệt là mừng Chào anh Núp của núi rừng tự do (Nƣớc non ngàn dặm) 238 Trái (d)(N) Quả 21 Múa trái chín cũng là mùa lá rụng Trong giá sƣơng, đông ủ nụ mầm xuân 239 Trăng trối (đ)(T) Trăn trối 1 Đây là lời trăn trối để chia ly Hóy đón nó bạn đời ơi đón nó (Trăng trối) 240 Triển (đ)(B) Lên 1 Triển gân lên, rung chuyển cả dây xiềng Đồng đứng dậy đạp đầu quân khốn nạn (Tranh đấu) 241 Trông (đ)(T,N) Mong 10 Trà Mi đây hỡi Trà Bồng Có hay cây quế đợi trông tháng ngày (Nƣớc non ngàn dặm) 242 Trơn (t)(T,N) Nhẵn 3 Văn chƣơng bút bẩn bao hàng rởm Lí luận đầu trơn ối tập dày (Quảng cáo) 243 Trụi (t)(T) Trọc 3 Vƣờn ai cháy trụi ngọn dừa Mỏi chựa cong, góy nột xƣa diệu huyền (Nƣớc non ngàn dặm) 244 Truông (d)(T) Bói 1 Truông dài bái rộng đồng khuya Ngƣời đi nhƣ chẳng nhớ gỡ Tết xuõn (Đêm giao thừa) 245 Trƣơng (d)(T) Giƣơng 1 Lóo trương hai bàn tay Nhỡn tụi và trắng trợn (Lóo đầy tớ) 246 Tỏ (t)(T) Rừ 1 Động tỏ mờ, nghe gió hú hồn quanh Nhƣ sáo tự trời xanh thổi linh hồn cho đá (Động Phong Nha) 247 Toả (d)(N) Biết 1 Của nhõn nghĩa bốn nghỡn năm toả rộng (Một mùa xuân) 248 Tô (d)(T) Bát 1 Bà quán cƣời: ai bán nƣớc đâu ông? Và rót ruột một tô đầy ngọt chát (Hƣng Đạo Vƣơng và bà hàng nƣớc) 249 Tơi (d)(N) Một loại áo 3 Rồi không đợi tôi phân trần anh hiểu Ngƣời bạn già lại nức nở trong tơi (Đôi bạn) 250 Tụi bay (N) Bọn mày 1 Các má già Bến Tre cứ cầm tay hờn dỗi Tƣởng tụi bay quên lối xóm không về (Một khúc ca) 251 Tụi tôi (T) Bọn tôi 1 Tụi tôi thiệt mừng lũng Đƣợc mấy anh biết đến (Ngƣời mẹ nuôi) 252 Tui (đt)(T,N) Tôi 1 Tui giài rồi chết khỏi lo Bọn trẻ sống cũn tay bắn giỏi (Một khúc ca) 253 Tuốt (N) Tận 1 Mới khi mai, cụ sứ tuốt lên đây Hắn núi rứa: chết thỡ cho mảnh chiếu (Đôi bạn) 254 Từng Tầng 1 Đôi con diều sáo lộn nhào từng không (Khi cin thu hú) 255 Tƣơm (t)(N) Bƣơm 1 Và anh hàng ngày quần áo rách tươm (14 tháng 7) 256 Ui chui cha (ct)(N) ôi chao 3 “Đau cái bụng, ui chui cha, tức lắm!” (Châu ro) 257 ƣng (đ)(T,N) Bằng lũng 1 Ghộ tai mẹ hỏi tũ mũ Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo (Mẹ Suốt) 258 Van (đ)(T) Kêu xin, đũi 2 Hắn nằm im đỡ mệt Rồi tha thiết van lơn (Con cá chột nƣa) 259 Vần công (N) đổi công 1 Ruộng vƣờn chia lại trái hoa Xóm thôn lập hội, trẻ già vần công (Chuyện em) 260 Vô (đt)(T,N) Vào 14 Chân muốn vô song lại ngập ngừng Chó nhà đâu đó sủa ngƣời dƣng (Ngƣời về) Em đi với chiếc thuyền không Khi mô vô bến rời dũng dõm ụ (Tiếng hát Sông Hƣơng) 261 Vồng (đt)(T) Luống 2 Cú gỡ hớn hở ở bàn tay Vun xới vồng khoai, khóm lúa này (Bài thơ đang viết) 262 Xa xanh (t) Xa xăm 1 Ngƣời thƣợng già đƣơng mải ngó xa xanh (Châu ro) 263 Xà linh (dt) Xà lim 1 Chừ đây một mỡnh ta sau cỏnh cửa Đi vẩn vơ theo bốn vách xà linh (Nhớ ngƣời) 264 Xai (d)(T) Thành tàu 2 Khách chen chúc trên hai hàng sập gỗ Một lối đi vữa rộng giữa bời xai (Quanh quẩn) 265 Xanh loè (t)(T) Xanh ngắt 1 Mắt sáng quắc tay xanh lèo mó tấu Vụt ào lên quyết ky sinh chiến đấu (Hồ Chí Minh) 266 Xoài cát (d)(N) Qủa xoài to, thơm ngon 1 Tíu tít trẻ mời mua áo mới Vàng thơm xoài cát, mát cam dừa (Anh sáo mù) 267 Xốc Xóc 1 Lớp con cháu trên đƣờng Gƣơm tuốt vỏ, súng cầm tay xốc tới (Hồ Chí Minh)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKhảo sát việc sử dụng từ ngữ địa phương trong thơ Tố Hữu.doc