Khóa luận Giải pháp mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – phòng giao dịch Kim Liên

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đang không ngừng phát triển. Trước sự lớn mạnh của lực lượng DNVVN Việt Nam hiện nay, mở rộng tín dụng đối với các DNVVN là hoạt động tiềm năng và là xu thế tất yếu của các NHTM. Việc nghiên cứu giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại Phòng giao dịch Kim Liên trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa quan trọng, giúp cho hoạt động tín dụng của Phòng giao dịch phát triển ổn định và bền vững.Sau khi nghiên cứu vấn đề này. Khóa luận đã hoàn thành một số nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đềlý luận cơ bản về tín dụng và sự cần thiết mở rộng tín dụng đối với DNVVN của NHTM. Cùng với việc xây dựng sáu chỉ tiêu để đánh giá, chuyên đề cũng đã đưa ra và phân tích các nhân tố chủ quan. Thứ hai: Phân tích đánh giá một cách sâu sắc về thực trạng mở rộng tín dụng tại Phòng giao dịch Kim Liên từ đó rút ra những điểm mạnh, những hạn chế và chỉ ra nguyên nhân. Trên cơ sở những chỉ tiêu đưa ra, về cơ bản chi nhánh đáp ứng được chỉ tiêu dư nợ tín dụng, doanh số tín dụng, thu lãi từ DNVVN theo kế hoạch đề ra nhưng thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của chi nhánh. Chi nhánh còn hạn chế về đối tượng khách hàng chưa đa dạng, hình thức tín dụng chưa phong phú đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Thứ ba: Dựa trên những hạn chế trong vấn đề mở rộng tín dụng đối với DNVVN của Phòng giao dịch Kim liên, Khóa luận đã đề xuất một số giải pháp cho Phòng giao dịch Kim Liên. Đồng thời, cũng đưa ra một số kiến nghị cụ thể đối với Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng, với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ để việc tổ chức thực hiện các giải pháp được nhanh chóng, thuận lợi, tạo điều kiện cho việc mở rộng hoạt động tín dụng của NHTM nói chung và của Phòng giao dịch Kim Liên nói riêng. Trên cơ sở đó, đòi hỏi toàn thể đội ngũ cán bộ nhân viên và Ban lãnh đạo Phòng giao dịch phải chủ động khắc phục khó khăn, không ngừng trau dồi nghiệp vụ và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp.

pdf64 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 31/07/2018 | Lượt xem: 340 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Giải pháp mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – phòng giao dịch Kim Liên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ợ xấu/Tổng dư nợ (trong trường hợp không xử lý nợ xấu ra ngoại bảng ) 2,51% 2,09% 2,02% (Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp) Nhìn vào bảng trên ta thấy: Tỷ lệ nợ xấu được khống chế ở mức thấp (dưới 3%). Năm 2011 tỷ lệ nợ xấu là 2,03%, năm 2012 tổng dư nợ của Phòng giao dịch tăng thêm hơn 83,99 tỷ đồng, song tỷ lệ nợ xấu tại phòng giao dịch theo kiểm toán ở mức 1,59%, giảm so với năm 2011. Năm 2012 tỷ lệ nợ xấu lại giảm chỉ còn 1,4% trên tổng dư nợ. Đây là mức thấp so với mặt bằng chung ngành ngân hàng trong bối cảnh kinh tế không có nhiều thuận lợi. Biện pháp mà phòng giao dịch xử lý đến dư nợ xấu của ngân hàng đó là ngân hàng đã sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý một lượng lớn nợ xấu ra ngoại bảng nhằm làm trong sạch bảng cân đối tài sản. Nếu tính cả số nợ xấu đã xử lý ra ngoại bảng thì dư nợ xấu cuối năm 2012 khoảng là 13,46 tỷ đồng, và tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cuối năm 2012 sẽ ở mức 2,09%. Dư nợ xấu cuối năm 2013 là 15,43 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cuối năm 2013 là 2,02%. Như vậy tình hình nợ xấu của Phòng giao dịch Kim Liên vẫn luôn trong tầm kiểm soát, thể hiện được chất lượng và sự an toàn. 2.2.3.3 Tỷ trọng mở rộng đối tượng khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, đồng thời để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp Việt Nam, những năm qua các NHTM nói chung và Phòng giao dịch Kim Liên nói riêng đã triển khai mạnh mẽ các hoạt động kinh doanh hướng tới khách hàng doanh nghiệp với mong muốn phục vụ doanh nghiệp ngày một tốt hơn, chuyên nghiệp hơn, trở thành ngân hàng hàng đầu cung cấp các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp chuyên biệt và đa dạng. Từ cuối năm 2012 Phòng giao 31 dịch VPBank kim liên đã khởi động quá trình chuyển đổi mảng kinh doanh phục vụ khách hàng vừa và nhỏ (SME).Trong năm 2013 mảng kinh doanh SME của Phòng giao dịch Kim Liên đã đạt kết quả tích cực với mức tăng trưởng tín dụng đạt 40% và số lượng khách hàng tăng 20% so với năm 2012. Bảng 2.5: Số lƣợng khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 So sánh 2011/2012 So sánh 2012/2013 STĐ (%) STĐ (%) SL DNVVN đƣợc vay mới 212 303 713 91 13,49% 410 20% Tổng số DNVVN đƣợc vay 423 489 823 66 7,2% 334 25,4% ( Nguồn: Báo cáo tổng kết khối khách hàng DNVVN ) Biểu Đồ 2.3: Số lƣợng DNVVN vay vốn qua các năm Đơn vị: tỷ đồng ( Nguồn: Báo cáo tổng kết khối khách hàng DNVVN ) Qua bảng số liệu và biểu đồ có thể thấy số lượng DNVVN vay vốn tại Phòng giao dịch Kim Liên liên tục tăng qua các năm. Nếu năm 2011 số lượng DNVVN được chấp nhận vay mới tại Phòng giao dịch Kim Liên là 212 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp loại này lên 423 doanh nghiệp thì đến năm 2012 con số này là 303 và 489 doanh nghiệp, tốc độ tăng đạt từ 20-25%. Thang Long University Library 32 Năm 2013 được coi là năm bán lẻ của toàn hệ thống ngân hàng .Do đó biện pháp mà Phòng giao dịch Kim Liên trong việc thu hút các khách hàng doanh nghiệp là xây dựng các sản phẩm chủ đạo hướng tới khách hàng SME tạo đà thúc đẩy kinh doanh mạnh mẽ, tăng nhiều lợi ích từ các chương trình hỗ trợ khách hàng,.. Với tổng số doanh nghiệp được vay vốn tại Phòng giao dịch Kim Liên là 823 doanh nghiệp tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2012. Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng DNVVN luôn ổn định, quy mô cho vay đối với khối DNVVN của ngân hàng ngày càng được mở rộng. 2.2.3.4 Doanh số cho vay và thu nợ đối với khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ Bảng 2.6: Doanh số cho vay Dƣ nợ trong giai đoạn 2011 - 2013 Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Số tiền (tỷ đồng) Số tiền (tỷ đồng) 2012/11 (%) Số tiền (tỷ đồng) 2013/12 (%) Tổng doanh số cho vay 556,075 639,491 6,97% 752,400 8,11% DN-DNVVN 211,30 236,61 5,65% 376,2 22,7% Tỷ trọng 38% 37% 50% Tổng thu từ lãi từ hoạt động tín dụng 20,52 23,003 5,70% 29,542 12,4% DNVVN 8,2 14,03 26,2% 20,08 17,7% Tỷ trọng 40% 61% 68% (Nguồn: Phòng kế hoach tổng hợp phòng giao dịch Kim Liên) Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng nói chung và Phòng giao dịch Kim Liên nói riêng đều đã thực hiện được đúng tiến độ các dự án chiến lược, khối khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ đã khai thác được những cơ hội ở những dự án của khối kinh doanh trọng tâm do đó mà hoạt động cho vay và huy động đều các kết quả đáng khích lệ so với thời buổi nền kinh tế hiện nay. Trong năm 2011-2013 doanh số cho vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn đạt tỷ trọng cao hơn so với trung bình ngành, từ năm 2012 là 236,61 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 37%), tăng lên 376,2 tỷ đồng (tương ứng tăng 22,7% và tỷ trọng chiếm 50% ), trung bình của nghành đạt 17,4%. Tỷ trọng năm 2013 đạt 50% cao hơn tỷ trọng năm 2012 là 37% điều đó cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng đóng vai trò quan trọng cho việc cho vay tín dụng. Tổng thu lãi từ hoạt động tín dụng trung bình nghành luôn tăng, năm 2011 đạt con số là 20,52 tỷ đồng , từ năm 2012 là 23,003 tỷ đồng đến 2013 là 29,542 tỷ đồng tăng 17,7% so với năm 2012, thu lãi tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn cao hơn trung bình nghành, năm 2011 đạt 8,2tỷ đồng thì năm 2012 đạt 14,03 tỷ đồng, tương ứng mức tăng là 26,2%. Năm 2013 đạt con số 20,08 tỷ đồng tương đương 33 mức tăng 17,7%, so với năm 2012 có giảm nhưng về tỷ trọng vẫn luôn tăng qua các năm, năm 2011 tỷ trọng thu lãi từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN đạt 40% thì đến năm 2013 đạt 68%. Qua đó cho thấy số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu vay vốn ngày càng cao và lợi ích mà ngân hàng nhận được từ cho vay tín dụng đối với DNVVN là rất lớn. Biểu Đồ 2.4: Thu lãi từ tún dụng DNVVN Đơn vị: tỷ đồng (Nguồn: Phòng kế hoach - tổng hợp phòng giao dịch Kim Liên) Qua biểu đồ ta thấy nhìn chung tỷ trọng thu lãi từ tín dụng ngân hàng vẫn tăng trưởng theo hàng năm, năm 2011 tỷ trọng thu lãi từ DNVVN đạt 40% so với tổng thu lãi từ tín dụng, đến năm 2013 tỷ trọng thu lãi tín dụng từ DNVVN đã tăng 26% để đạt mức 68% vào năm 2013, tỷ trọng thu lãi từ tín dụng DNVVN luôn giữ ở mức khá cao chứng tỏ hoạt động của ngân hàng về cấp tín dụng và quản lý tín dụng với DNVVN trong thời gian qua được thực hiện khá tốt, để có được những kết quả trên trong bối cảnh hiện nay thì Phòng giao dịch Kim Liên đã hết sức cố gắng nỗ lực vượt qua những chỉ tiêu do ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng đặt ra. 2.2.3.5 Tình hình dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Phòng giao dịch Kim Liên Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng dư nợ là chỉ tiêu mà bất cứ một ngân hàng nào muốn tồn tại và phát triển cũng phải quan tâm, bởi nó cho thấy quy mô và chất lượng tín dụng của ngân hàng đó. Tình hình dư nợ của Phòng giao dịch Kim Liên những năm qua được thể hiện qua bảng phân tích số liệu sau: Thang Long University Library 34 Bảng 2.7: Dƣ nợ đối với DNVVN theo kỳ hạn vay Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 So sánh 2011/2012 So sánh 2012/2013 ST TT (%) ST TT (%) ST TT (%) STĐ (%) STĐ (%) Tổng dƣ nợ DNVVN 211,30 100 236,61 100 376,2 100 25,31 5,65 139,6 22,78 Ngắn hạn 42,6 20,16 46,13 19,5 65,08 17,3 3,53 3,9 18,95 17,03 Trung và Dài hạn 167,7 79,4 190,47 80,5 311,11 82,7 22,77 6,3 120,6 24,05 ( Nguồn: Phòng kế toán - tổng hợp ) Biểu Đồ 2.5: Tổng dƣ nợ đối với DNVVN Đơn vị: tỷ đồng ( Nguồn:phòng kế toán - tổng hợp) Từ bảng cho thấy dư nợ đối với DNVVN tại phòng giao dịch đang dần chuyển dịch cơ cấu sang chủ yếu là cho vay trung và dài hạn. Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn lớn, chiếm khoảng 80% - 83% tổng dư nợ của DNVVN. Nguyên nhân: là do ngân hàng đang phát triển cung cấp các gói giải pháp tài chính tổng thể cho khách hàng . Đây đều là những sản phẩm có thời gian cho vay tương đối dài. Chẳng hạn như hoạt động tài trợ thương mại trong nước, tài trợ nhà phân phối và đây thường là những khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 3 năm, thời hạn thu hồi kéo dài cho nên dư nợ của hoạt động này cũng tăng lên. Tuy nhiên các 35 khoản vay với thời hạn trung và dài hạn thường đòi hỏi ngân hàng phải có một cơ cấu nguồn vốn hợp lý, với nguồn trung và dài hạn đủ lớn đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Các khoản cho vay ngắn hạn thường là các khoản cho vay bổ sung vốn cho nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ, nhu cầu vốn ít, ngân hàng có thể quay vòng được vốn nhanh hơn và nó phù hợp với nguồn vốn mà ngân hàng huy động được, do vậy mà dư nợ ngắn hạn thường thấp và chiếm tỷ trọng không cao (chỉ chiếm từ 17%- 21% tổng dư nợ DNVVN), đang có xu hướng giảm. Năm 2011, tỷ trọng dư nợ ngắn hạn chiếm 21,6% nhưng đến năm 2013 chỉ còn 17,3% trong tổng dư nợ của DNVVN. Như vậy, với cơ cấu cho vay như trên, ngân hàng sẽ có khoản thu lâu dài. Tuy nhiên vì nguồn VHĐ của ngân hàng chủ yếu là từ nguồn ngắn hạn nên khi ngân hàng lấy nguồn vốn huy động ngắn hạn cho vay trung, dài hạn đồng nghĩa với việc ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất và rủi ro thanh khoản. Khi doanh nghiệp được cho vay dài hạn thì sau 24 tháng mới phải hoàn trả hết số tiền vay ngân hàng, trong khi tiền gửi lại chỉ có kỳ hạn 3 tháng, nếu lãi suất huy động tăng lên rồi mà thanh khoản của ngân hàng có vấn đề thì ngân hàng còn phải huy động lãi suất cao hơn nữa. 2.2.3.6 Dư nợ theo loại hình doanh nghiệp tại phòng giao dịch Kim Liên Để thấy rõ hơn ta xem xét tốc độ tăng trưởng dư nợ đối với DNVVN qua các năm theo loại hình doanh nghiệp qua bảng số liệu sau: Biểu Đồ 2.6: Dƣ nợ theo loại hình doanh nghiệp Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 ST TT (%) ST TT (%) ST TT (%) Dƣ nợ DNVVN 211,30 100 236,61 100 376,2 100 Doanh nghiệp nhà nước 7,92 3,75% 8,61 3,64% 8,5 2,27% Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 6,76 3,2% 8,28 3,5% 16,18 4,3% DN tư nhân 2,15 1,02% 3,78 1,60% 3,53 0,94% Công ty cổ phần 145,16 68,7% 157,34 66,5% 243,4 64,7% Công ty TNHH 49,31 23,34% 58,53 24,74% 104,62 27,81 % ( Nguồn: Phòng kế toán - tổng hợp) Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, Dư nợ đối với các công ty cổ phần luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng dư nợ DNVVN. Quy mô dư nợ của công ty Cổ phần luôn tăng nhưng tỷ trọng lại có chút biến động . Năm 2011 dư nợ đối với doanh nghiệp cổ Thang Long University Library 36 phần là 145,16 tỷ đồng ,chiếm tỷ trọng 68,7% trên tổng dư nợ trung bình nghành, đến năm 2013 con số dư nợ đã đạt là 243,4 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 64,7% giảm nhẹ 4%. DN tư nhân và công ty TNHH chiếm tỷ trọng ít hơn nhưng đều tăng trưởng về quy mô trong các năm qua, năm 2011 dư nợ đối với công ty TNHH là 49,31 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 23,34% , đến năm 2013 đã tăng lên 104,62 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 27,81%. Nguyên nhân: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn nhỏ, thường kinh doanh sản xuất các mặt hàng thiết yếu, và thông thường, việc thành lập các công ty cổ phần hay TNHH cũng không phải là vấn đề khó khăn đối với các nhà đầu tư, do đó dư nợ của DNVVN tập trung chủ yếu vào công ty cổ phần và TNHH. Ta có thể thấy rõ hơn qua biểu đồ sau: Biểu Đồ 2.7: Dƣ nợ theo loại hình DNVVN Đơn vị: tỷ đồng (Nguồn: Phòng Kế hoạch – Tổng hợp) Rõ ràng quy mô dư nợ đối với công ty cổ phần tại ngân hàng là rất lớn so với tổng số. Xét về tốc độ tăng, tốc độ tăng dư nợ của các DN tư nhân là chậm nhất vì đối tượng khách hàng này tại ngân hàng hầu hết là những DN tư nhân có quy mô kinh doanh nhỏ. Tốc độ tăng dư nợ của các công ty cổ phần và công ty TNHH luôn ổn định trong các năm. Năm 2013 tổng dư nợ của Công ty Cổ phần đối với DNVVN chiếm gần 70% tổng dư nợ trung bình nghành đạt 243,4 tỷ đồng tăng 29% so với cùng kỳ năm 2012. Điều này được lý giải là do từ đầu năm 2013 Phòng giao dịch Kim Liên với chủ trương chuyển hướng các lĩnh vực tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro sang các mảng có độ an toàn cao hơn với các nhóm khách hàng tốt hơn. Theo đó, Phòng giao dịch Kim Liên 37 đã điều chỉnh mức lãi suất cho vay linh hoạt từ 9% dưới 15% nên đã thu hút được nhiều khác hàng doanh nghiệp mới và các nhóm khách hàng tiềm năng. 2.2.3.7 Nợ quá hạn và nợ xấu Nợ quá hạn và nợ xấu trong tín dụng phản ánh chất lượng tín dụng đối với DNVVN của ngân hàng. Nợ quá hạn nhỏ, nợ xấu ít cho thấy chất lượng tín dụng rất tốt, ngược lại nợ quá hạn lớn, nợ xấu cao sẽ cho thấy chất lượng tín dụng không được đảm bảo, rủi ro hoạt động cao. Ta hãy cùng phân tích từng chỉ tiêu để thấy rõ hơn về chất lượng tín dụng tại Phòng giao dịch Kim Liên thời gian qua. Bảng 2.8: Nợ quá hạn , nợ xấu đối với DNVVN Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tổng dƣ nợ DNVVN 211,30 236,61 376,2 Nợ quá hạn 2,21 2,79 4,66 Tỷ lệ nợ quá hạn 1,05% 1,18% 1,24% Nợ xấu 1,03 2,55 2,59 Tỷ lệ nợ xấu 0,49% 1,08% 0,69% (Nguồn: Phòng Tín dụng) Với chỉ tiêu nợ quá hạn như trên, so với tỷ lệ nợ quá hạn chung của tổng dư nợ thì nợ quá hạn đối với DNVVN ở mức thấp: năm 2011 là 1,05%, năm 2012 là 1,18%, năm 2013 là 1,24% đồng thời tỷ lệ nợ xấu cũng chiếm tỷ lệ thấp ( năm 2011 dưới 0,5%). Điều này là do nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) của dư nợ cho vay DNVVN chiếm tỷ trọng chủ yếu. Tỷ lệ nợ xấu năm 2011 là 0,49%, năm 2012 tăng lên 1,08% và năm 2013 kiểm soát về mức 0,69%. Do hầu hết các món vay tiêu dùng đều được đảm bảo 100% bằng tải sản đảm bảo hay đối với vay tín chấp cũng có nguồn trả nợ vững chắc nên dư nợ xấu ở mức tương đối thấp, tỷ lệ nợ xấu không cao chứng tỏ các khoản vay được đảm bảo an toàn. Điều này chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN ngày càng phát triển, tài sản đảm bảo của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầy đủ, cho vay tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tình hình kinh doanh tốt, lợi nhuận ổn định nên hoạt động cho DNVVN vay đã và đang phát huy được vai trò tích cực trong sự ổn định và phát triển hoạt động cho vay tại phòng giao dịch. Việc phòng giao dịch hạn chế được tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tín dụng đối với các DNNVN giúp nâng cao được hiệu quả của khoản vay, tăng lợi nhuận đồng thời chia sẻ rủi ro với các hoạt động tín dụng khác. Thang Long University Library 38 Biểu Đồ 2.8: Vòng quay vốn tín dụng đối với DNVVN Đơn vị: vòng (Nguồn: Phòng tín dụng ) Vòng quay vốn tín dụng thể hiện việc luôn chuyển vốn cho vay nhanh hay chậm , chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng càng cao và ngược lại . Nhưng qua biểu đồ ta thấy vòng quay vốn của Phòng giao dịch Kim Liên có xu hướng giảm những năm gần đây. Năm 2011 số vòng quay vốn là 2,18 vòng đã giảm 0,32 vòng xuống còn 1,86 vòng vào năm 2012, năm 2013 chỉ còn là 1,42 vòng. Nguyên nhân: Năm 2013 nợ quá hạn đối với DNVVN tăng cao hơn năm 2012 là 1,87 tỷ đồng, không những vậy những năm gần đây ngân hàng lại mở rộng tín dụng cho vay vốn trung và dài hạn nên cũng đã ảnh hưởng đến độ lớn của vòng quay tín dụng. Để vòng quay vốn tín dụng tăng vòng quay Phòng giao dịch sẽ áp dụng một số biện pháp như : đối với những DNVVN mà có mức nợ quá hạn cao sẽ áp dụng mức phí phạt tương ứng thời gian nợ quá hạn, hay các khoản cho vay trung và dài hạn sẽ áp dụng mức lãi suất phù hợp nhất. Như vậy, thông qua các chỉ tiêu về doanh số và chất lượng tín dụng có thể thấy bên cạnh những gì đã đạt được, Phòng giao dịch Kim Liên cũng còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc mở rộng tín dụng đối với các DNVVN, cần có giải pháp khắc phục hiệu quả những hạn chế đó. 2.2.3.8 Khả năng bù đắp rủi ro 39 Biểu Đồ 2.9: Khả năng bù đắp rủi ro giai đoạn 2011 - 2013 (Đơn vị: tỷ đồng (cột trái), % (cột phải) (Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp) Nhìn vào biểu đồ ta thấy: khả năng bù đắp rủi ro của Phòng giao dịch Kim liên luôn ở mức cao, năm 2011 khả năng bù đắp rủi ro là 214,85 tỷ đồng, đến năm 2012 là 92,788 tỷ đồng giảm 122,07 tỷ đồng. Nhưng đến năm 2013 lại tăng lên mức 145,25 tỷ đồng, điều đó cho thấy Phòng giao dịch Kim liên luôn giành một khoản tiền để bù đắp nếu có xảy rủi ro xảy ro, điều đó cho thấy hoạt động của Phòng giao dịch luôn trong tầm kiểm soát và ổn định. 2.2.3.9 Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay DNVVN Bảng 2.9: Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay DNVVN (Đơn vị: tỷ đồng) Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tổng dƣ nợ DNVVN 211,30 236,61 376,2 Tỷ lệ trích lập dự phòng (0,015) (0,016) (0,0011) (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh - Phòng giao dịch Kim Liên) Qua số liệu bảng trên ta thấy : Trích lập dự phòng rủi ro cho vay DNVVN đều là số âm, điều này cho thấy tình trạng rủi ro tín dụng của phòng giao dịch hầu như là rất ít, điều này cho thấy việc sử dụng nguồn vốn hiệu quả của Phòng giao dịch . Để có được điều đó Phòng giao dịch Kim Liên đã thực hiện tốt công tác trích lập dự phòng, để giúp Phòng giao dịch không rơi vào tình trạng khó khăn trong trường hợp rủi ro xảy ra. Thang Long University Library 40 2.3. Đánh giá về hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại Phòng giao dịch Kim Liên 2.3.1. Kết quả đạt đƣợc Với sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ các bộ nhân viên toàn ngân hàng, bằng nguồn vốn tín dụng hiện có Phòng giao dịch Kim Liên đã luôn cố gắng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các DNVVN ở mức cao nhất có thể. Bởi vậy, dù còn nhiều khó khăn trong việc mở rộng tín dụng với đối tượng khách hàng là DNVVN nhưng những kết quả đạt được của ngân hàng là rất đáng khích lệ. Số lượng khách hàng tăng trưởng liên tục qua các năm, vị thế và uy tín của ngân hàng được nâng cao. Doanh số cho vay và thu nợ có xu hướng tăng mạnh qua các năm về quy mô, cho thấy khả năng mở rộng hoạt động tín dụng, chất lượng các khoản tín dụng của Phòng giao dịch Kim Liên cũng như hoạt động hiệu quả của các DNVVN. Dư nợ tín dụng cũng liên tục tăng qua các năm và chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng dư nợ toàn ngân hàng. Phòng giao dịch Kim Liên đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty cổ phần và công ty TNHH – những đối tượng khách hàng đầy tiềm năng trên thị trường, thể hiện hướng đi đúng đắn của ngân hàng trong việc chú trọng mở rộng tín dụng với DNVVN. Hoạt động tín dụng đối với DNVVN phát triển không chỉ giúp ngân hàng tăng trưởng dư nợ, gia tăng lợi nhuận, mở rộng cơ hội phát triển các dịch vụ kinh doanh ngân hàng mà còn góp phần khẳng định vị thế và thương hiệu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng 2.3.2. Hạn chế Hoạt động tín dụng của phòng giao dịch Kim Liên tồn tại một số hạn chế sau: Quy trình tín dụng tập trung, để giải quyết một khoản vay cần thông qua rất nhiều phòng ban. Đặc biệt, các chi nhánh của ngân hàng chỉ có thể tự phê duyệt khoản vay nếu trị giá của nó nằm trong giới hạn cho phép (2 tỷ đồng), còn lại đều phải có ý kiến của Hội sở chính. Điều đó đã làm tốn rất nhiều thời gian khi phê duyệt một khoản tín dụng, nhất là khi có nhiều khoản vay phát sinh cùng một thời điểm dẫn đến tính linh hoạt và chủ động trong hoạt động tín dụng của ngân hàng giảm. Các phòng ban còn ôm đồm nhiều mảng hoạt động, không phân trách, nên một số nghiệp vụ còn chưa hoàn thiện, đồng bộ gây khó khăn cho khách hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Số lượng cán bộ nhân viên có năng lực chuyên môn cao còn hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết về nguồn nhân lực đang đòi hỏi ngày càng cao của ngân hàng. Số lượng khách hàng các năm tuy tăng nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp có nhu cầu vốn ngắn hạn. Cơ cấu cho vay giữa các loại hình DNVVN thiếu sự đồng đều 41 khi dư nợ của loại hình công ty cổ phần chiếm tỷ trọng chủ yếu, các công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn (40%). Công tác thu thập và xử lý thông tin tín dụng còn chậm, chưa linh loạt, thiếu sự gắn kết. Phòng giao dịch Kim Liên vẫn chú trọng phát triển trên những sản phẩm cũ truyền thống, chưa chủ động khai thác phát triển sản phẩm và dịch vụ mới đặc biệt là mảng cho vay dự án. Vì vậy dù dư nợ các hoạt động tăng lên một cách đáng kể nhưng thị phần tín dụng phục vụ dự án vẫn rất hạn hẹp,chưa được mở rộng. 2.3.3. Nguyên nhân 2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan Nguồn nhân lực: Trình độ chuyên môn của các bộ tín dụng chưa theo kịp với công nghệ ngân hàng hiện đại, khă năng phân tích, thẩm định của cán bộ thẩm định còn nhiều hạn chế, trong khi đó việc đánh giá khả năng cạnh tranh, khả năng hoạt động hiệu quả của dự án liên quan đến nhiều khía cạnh, đòi hỏi phải có một khả năng phân tích, tổng hợp, dự đoán nhạy bén của cán bộ tín dụng. Đây là một yêu cầu khó thực hiện vì phần lớn cán bộ tín dụng chưa được đào tạo chuyên sâu và toàn diện về lĩnh vực này. Chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập như quy định về lãi suất, quy định về bảo đảm tiền vay đối với DNVVN khi muốn vay dài hạn ngân hàng phải có tài sản thế chấp đủ lớn để đảm bảo cho khoản vay Mặt khác, quy trình, thủ tục cho vay mặc dù đã cố gắng thu gọn song vẫn còn khá phức tạp, chưa phù hợp với nhu cầu của DNVVN. Quyền phán quyết tín dụng hầu như tập trung tại hội sở khiến các chi nhánh trực thuộc ngân hàng mất đi sự chủ động trong cho vay, bỏ lỡ nhiều dự án khả thi. Công tác thu thập và xử lý thông tin: Thông tin là yếu tố sống còn để một tổ chức tín dụng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên các kênh thông tin về thị trường, về khách hàng của Phòng giao dịch Kim Liên rất hạn chế, hầu hết được lấy từ các tổ chức có liên quan và chính những gì khách hàng cung cấp nên có phần không xác thực, thiếu tính thời sự. Bộ phận cán bộ thu thập và xử lý thông tin còn thiếu sự linh hoạt và chủ động trong việc tìm kiếm nguồn thông tin đáng tin cậy, do chưa đủ kinh nghiệm và năng lực chuyên môn. Phân tích và thẩm định khách hàng: công tác phân tích thẩm định khách hàng vay vốn được thực hiện theo mẫu biểu quy định và chủ yếu dựa vào kết quả phân tích đánh giá hiệu quả kinh doanh những năm qua của đơn vị vay vốn cũng như hiệu quả của dự án, nhưng do nguồn số liệu, cơ sở để phân tích chủ yếu được lấy từ các báo cáo tài chính của đơn vị vay vốn gửi tới nên độ tin cậy không cao. Bởi vậy, phân tích và thẩm định khách hàng tại Phòng giao dịch Kim Liên vẫn chưa đi vào được chiều sâu của vấn đề, chỉ là kết quả bề nổi trên phương diện tài chính. Hoạt động marketing: ngân hàng chưa có nhiều chiến lược marketing xúc tiến tới các DNVVN, chưa đi sâu vào nghiên cứu, phân loại thị trường, phân loại khách Thang Long University Library 42 hàng để có cơ sở cho việc ra định ra kế hoạch kinh doanh dài hạn trong tương lai. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì thế vẫn mang tính thụ động cao khi hầu hết các khách hàng đều tự tìm đến ngân hàng chứ không phải ngân hàng chủ động tìm kiếm khách hàng mới và mở rộng thị phần. 2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan Về phía Nhà nước: Hệ thống văn bản pháp lý, các thủ tục liên quan đến hoạt động tín dụng tuy đã được cải thiện nhiều nhưng chưa đồng bộ, đầy đủ, rõ ràng và phù hợp với môi trường cạnh tranh của cơ chế thị trường. Thủ tục và điều kiện cho vay còn rườm rà, phức tạp khiến khách hàng đôi khi phải đi lại nhiều lần, có khi còn không vay được do thiếu giấy tờ cần thiết theo quy định. Các cơ quan chịu trách nhiệm cấp chứng thư sở hữu tài sản và quản lý Nhà nước đối với thị trường bất động sản còn chậm chễ trong việc cấp giấy tờ sở hữu cho chủ sở hữu khiến cho việc thế chấp của doanh nghiệp cũng như công tác xử lý tài sản thế chấp của ngân hàng gặp khó khăn. Chính sách vĩ mô nền kinh tế dù đang được từng bước điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và các thành phần kinh tế, nhưng do các doanh nghiệp đặc biệt là DNVVN luôn chuyển hướng và điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh, nên các chính sách của chính phủ chưa thực sự hiệu quả, khung pháp lý cũng như chính sách hỗ trợ cho hoạt động của các DNVVN thiếu tính rõ ràng, sự ủng hộ của các cơ quan chức năng là chưa kịp thời, đúng lúc. - Về phía DNVVN Doanh nghiệp không đủ tài sản thế chấp hợp pháp: doanh nghiệp muốn vay ngân hàng cần có tài sản thế chấp nhằm đảm bảo vốn vay, phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng khi dự án gặp khó khăn ngoài dự kiến. Hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu thế chấp bằng tài sản cố định hoặc bất động sản nhưng việc định giá tài sản trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn, độ chính xác không cao do các văn bản quy định liên quan còn một số quy định chồng chéo và mâu thuẫn. Dự án thiếu tính khả thi: Doanh nghiệp không xây dựng được một dự án khả thi nhằm thuyết phục ngân hàng cho vay vốn. Có những dự án có ý tưởng rất hay, quy mô hoạt động lớn nhưng do không biết cách mô hình hóa kế hoạch của mình dưới dạng bảng biểu theo yêu cầu của ngân hàng, cán bộ tín dụng có khi phải giúp đỡ cả việc tính toán cũng như lập phương án vay vốn, trả nợ ngân hàng thậm chí là cả các báo cáo tài chính. Vì thế, nếu trình độ của cán bộ tín dụng yếu kém thì chất lượng tín dụng cũng sẽ không tốt. 43 CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƢỢNG – PHÒNG GIAO DỊCH KIM LIÊN 3.1. Định hƣớng và mục tiêu hoạt động của Phòng giao dịch Kim Liên trong thời gian tới 3.1.1. Định hƣớng chung của Phòng giao dịch Kim Liên Năm 2013, kinh tế thế giới dự báo có nhiều khó khăn, các yếu tố bất ổn và tác động xấu đến đà hồi phục của nền kinh tế. Trên cơ sở kết quả kinh doanh năm 2013 và dự báo tình hình kinh tế thế giới năm 2014 Phòng giao dịch Kim Liên đã đặt ra một số chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh trong năm 2014 như sau: Bảng 3.1: Kế hoạch kinh doanh năm 2014 (Đơn vị: tỷ đồng ; %) STT Chỉ tiêu Kế hoạch năm 2014 Thực hiện năm 2013 % Tăng 1 Tổng tài sản 884.827 785.887 7,5 % 2 Tổng vốn huy động 942.68 757.369 24,47 % 3 Tổng dƣ nợ 814.39 752.400 8,24 % 4 Vốn điều lệ 4.500 3.250 16,21 % 5 Lợi nhuận trƣớc dự phòng 2.750 1.822 20,29 % 6 Lợi nhuận trƣớc thuế 20.046 14.326 39,95 % 8 Đầu tƣ mua sắm tài sản 254 191 14,1 % ( Nguồn báo cáo thường niên Phòng giao dịch Kim Liên) 3.1.2. Định hƣớng chính cho kế hoạch kinh doanh 2014 Triển khai dịch vụ khách hàng vượt trội: thông qua việc tiếp tục xây dựng và duy trì văn hóa bán hàng và dịch vụ tại VPBank Kim Liên và khởi động những dự án chiến lược để chuẩn bị tiền đề cho việc thực hiện hóa các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Hiệp ước vốn Basel II. Phát triển con người: thông qua việc triển khai hệ thống quản trị nhân sự, nhân tài, đào tạo và tăng năng suất lao động. Tăng cường doanh thu và huy động vốn thông qua việc tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng doanh thu để hấp thụ vốn của cổ đông, chú trọng sản phẩm phi tín dụng và tập trung chuẩn hóa sản phẩm theo các phân khúc khách hàng đã được lựa chọn. Tối ưu hóa chi phí hoạt động thông qua việc giảm tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng doanh thu thuần theo định hướng tăng trưởng chi phí chậm hơn tăng trưởng doanh thu và chuẩn hóa quy trình mua sắm. Quản lý rủi ro thông qua việc triển khai dự án cải tổ tín dụng, tăng cường chức năng kiểm tra, kiểm soát nội bộ và xây dựng hệ thống công cụ quản lý rủi ro. Thang Long University Library 44 Phát triển mạng lưới hoạt động kể cả hệ thống chi nhánh và kênh phân phối phi vật lý. Phát triển thương hiệu. Phát triển hệ thống qua các chương trình chuyển đổi, xây dựng hệ thống công cụ quản lý và tự động hóa quy trình kinh doanh. 3.1.3. Định hƣớng mở rộng tín dụng với DNVVN Trên cơ sở những mục tiêu phấn đấu chung của ngân hàng, VPBank Kim Liên cũng có những định hướng cụ thể tập trung vào đối tượng khách hàng chủ yếu của ngân hàng các DNVVN. Phấn đấu hoàn thành mục tiêu đối với DNVVN “phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏ, là dịch vụ tài chính ngân hàng toàn diện cho doanh nghiệp lớn”, tăng trưởng dư nợ đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, chất lượng thẩm định dự án. Phối hợp chặt chẽ giữa kế hoạch và kinh doanh để giữ được khách hàng truyền thống, tăng thị phần các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng trên thị trường. Đặc biệt ở hai phòng giao dịch trực thuộc, phải đẩy mạnh mở rộng cung cấp sản phẩm, dịch vụ hơn nữa, linh hoạt và nhạy bén trong kinh doanh. Tăng cường kiểm tra, giảm sát các khoản vay, cho vay và hoạt động sản suất kinh doanh của khách hàng, phân loại khách hàng thường xuyên nhằm nắm bắt kịp thời thông tin, kiểm soát chặt chẽ tình hình kinh doanh và sử dụng vốn vay của khách hàng để có hướng xử lý cần thiết khi rủi ro chẳng may xảy ra, đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng. Chỉ đạo thực hiện phân tích rõ thực trạng nợ quá hạn cũng như việc nhanh chóng thu hồi nợ tồn đọng từ các năm trước, nhằm giảm thiểu tối đa nợ xấu, thu hồi vốn để tái đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Với những định hướng hoạt động của mình VPBank Kim Liên mong rằng hoạt động tín dụng đối với DNVVN trong thời gian tới sẽ được mở rộng cả về số lượng và chất lượng. Để làm được điều đó không những Phòng giao dịch Kim Liên cần có định hướng cụ thể mà còn cần cả những biện pháp thực hiện rõ ràng. 3.2. Một số giải pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại Phòng giao dịch Kim Liên 3.2.1. Chính sách mở rộng quy mô và giới hạn cho vay Để hạn chế, phân tán rủi ro cần thiết phải có một chính sách về quy mô, giới hạn cho vay đối với một khách hàng và một nhóm khách hàng hay một lĩnh vực, ngành nghề nhất định. Quy mô này đảm bảo kết hợp được tính sinh lời và mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của mỗi khoản cho vay, phù hợp với quy mô và tính chất nguồn vốn của ngân hàng. Hiện nay chính sách này của ngân hàng được quy đã được 45 quy định trong chính sách tín dụng bản mới nhất tháng 6/2011, tuy nhiên, cần phải cụ thể và chi tiết hơn sao cho phù hợp với tích chất khách hàng hiện tại. 3.2.2. Chính sách về lãi suất cho vay Lãi suất cho vay DNVVN được xác định bằng chi phí vốn huy động, cộng với chi phí dự phòng, cộng với các chi phí khác, cộng với lợi nhuận dự tính,trừ đi các khoản thu được do khách hàng vay mang lại như lãi tiền gửi, phí dịch vụ phi tín dụng. Với cách xác định lãi suất trên, chi nhánhcần xây dựng một chính sách lãi suất linh hoạt, báo cáo ngân hàng cấp trên để chủ động thực hiện. Tuỳ theo kỳ hạn, loại tiền, loại hình cho vay, đối tượng khách hàng, mà ngân hàng áp dụng mức lãi suất và phí khác nhau. Mức lãi suất có thể thay đổi một cách linh hoạt theo thị trường, phù hợp từng khách hàng, nhóm khách hàng khác nhau, đặc biệt là đối với nhóm khách hàng là DNVVN, phù hợp với mức độ rủi ro của từng khoản vay, áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận theo thị trường nhưng nằm trong khung lãi suất quy định của ngân hàng Hàng Hải và ngân hàng nhà nước, dựa trên nguyên tắc bù đắp được chi phí, rủi ro và có lãi. 3.2.3. Chính sách về thời hạn cho vay và kỳ hạn nợ Thời hạn cho vay liên quan đến rủi ro tín dụng và tính thanh khoản của ngân hàng, vì vậy chính sách này luôn cần được quan tâm. Về nguyên tắc ngân hàng sẽ xem xét khả năng trả nợ của từng khoản tín dụng, khả năng tài chính của khách hàng vay vốn cũng như khả năng thành công của dự án vay vốn và nguồn vốn của ngân hàng để quyết định kỳ hạn cho vay. Chính sách về thời hạn cho vay sẽ cho biết ngân hàng có khả năng đáp ứng được loại kỳ hạn cho vay nào, đồng thời cũng cho biết kỳ hạn nợ, số lần trả nợ cũng như cách quản lý nợ của các khoản vay. 3.2.4. Chính sách chặt chẽ trong quá trình thẩm định Các khoản cho vay có vấn đề là các khoản nợ như nợ cơ cấu, nợ khó đòi, nợ quá hạn, nợ xấu và các khoản cho vay có dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro. Chính sách này sẽ quy định về cách thức, biện pháp phối hợp xử lý và trách nhiệm giải quyết nợ có vấn đề, chính sách này cần được xây dựng đối với từng ngành nghề, từng nhóm khách hàng . 3.2.4.1 Đưa ra mức xử lý đối với những món nợ quá hạn Đối với các khoản nợ quá hạn trên 30 ngày sẽ phạt mức phí là 10% trên tổng khoản vay, hay những món nợ có thời gian vay quá lâu từ 6 tháng - 2 năm sẽ có mức phạt từ 15% - 30%. 3.2.4.2 Kiểm định khắt khe quá trình thẩm định đánh giá chính xác tình hình hoạt động kinh doanh cũng như năng lực tài chính của khách hàng, đảm bảo khả năng thu hồi nợ và hiệu quả của món vay. Đây là vấn đề Thang Long University Library 46 Ngân hàng hết sức coi trọng vì nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của món vay mà Ngân hàng thực hiện. 3.2.5. Nâng cao tỷ trọng cho vay không phải bảo đảm bằng tài sản và cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay đối với các DNVVN Hiện nay, vấn đề khó khăn lớn nhất trong việc vay vốn ngân hàng để phát triển sản xuất của doanh nghiệp chính là tài sản thế chấp và số lượng khách hàng không đáp ứng được giá trị tài sản đảm bảo cho khoản vay là không hề nhỏ. Việc mở rộng cho vay không phải bảo đảm bằng tài sản một phần hoặc toàn bộ, cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay sẽ làm tăng số lượng khách hàng cho ngân hàng do đó sẽ tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng và giải quyết được khó khăn lớn nhất về vốn và tài sản thế chấp của DNVVN. Tuy nhiên việc mở rộng cho vay không phải bảo đảm bằng tài sản, cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay phải nằm trong cơ cấu dư nợ hợp lý để đảm bảo tính an toàn cho nguồn vốn của ngân hàng. Do vậy, không áp dụng với mọi DNVVN vay vốn, mà phải lựa chọn những DNVVN truyền thống, tín nhiệm và đáp ứng các điều kiện sau: Có tình hình tài chính lành mạnh, ổn định, sổ sách và báo cáo tài chính minh bạch, quản lý tài chính theo quy định của pháp luật. Có dự án sản xuất kinh doanh khả thi và hiệu quả, đảm bảo trả nợ đúng hạn theo cam kết. Ban lãnh đạo doanh nghiệp phải có năng lực, trình độ quản lý giỏi, đội ngũ nhân viên phải có chuyên môn vững, tay nghề tốt. Thời gian hoạt động của DNVVN phải ít nhất là 2 năm hoặc chủ doanh nghiệp có ít nhất từ 3 -5 năm trực tiếp kinh doanh ngành nghề đó. Kinh doanh có lãi trong 2 năm liền kề, ngành nghề kinh doanh ổn định, không thuộc diện ngành nghề hạn chế của pháp luật và chính sách tín dụng của Hàng Hải, ít rủi ro, có chiều hướng phát triển tốt trong tương lai. Đối với tài sản hình thành từ vốn vay phải có đủ các điều kiện theo quy định của ngành và pháp luật. 3.2.6. Đa dạng hoá các hình thức cung ứng vốn và nâng cao chất lƣợng các sản phẩm cho vay đối với các DNVVN Duy trì các sản phẩm cho vay truyền thống như: cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn hoặc cho vay theo món, cho vay theo dự án, hay theo hạn mức tín dụngTrong thời gian tới cần tiến tới phát triểnmạnh các sản phẩm như: cho vay phát hành thẻ tín dụng, thấu chi qua tài khoản, bao thanh toán,cho vay trả góp để DNVVN mua máy móc thiết bị, dây truyền sản xuất... Cùng với việc mở rộng sản phẩm cho vay là việc nâng cao chất lượng sản 47 phẩm. Nâng cao chất lượng sản phẩm được hiểu là nâng cao quy trình công nghệ cung ứng sản phẩm cho khách hàng, cải tiến quy trình cấp tín dụng đối với từng sản phẩm, tạo thuận lợi cho việc vay vốn của khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng quy định của ngân hàng. Nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên giao dịch trực tiếp với khách hàng thông qua việc cải tiến tác phong làm việc, nâng cao kỹ năng giao tiếp, chăm sóc khách hàng. 3.2.7. Đẩy mạnh công tác huy động nguồn vốn với lãi suất hợp lý để mở rộng tín dụng đối với DNVVN Nguồn vốn là cơ sở để ngân hàng thực hiện mục tiêu mở rộng hoạt động tín dụng của mình. Do đó, chi nhánh phảitích cực và chủ động hơn nữa trong việc thu hút nguồn vốn với những kỳ hạn và lãi suất hợp lý. Để gia tăng nguồn vốn trong thời gian tới chi nhánh cần nghiên cứu các biện pháp sau: Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo dưới nhiều hình thức như quảng cáo trên đài phát thanh, truyền hình, băng rôn, tờ rơi Đào tạo kỹ năng cho nhân viên quan hệ khách hàng đi tiếp thị trực tiếp đến khách hàng Phát triển đa dạng các sản phẩm huy động vốn như: tiết kiệm đảm bảo bằng vàng, tiết kiệm tra lãi linh hoạt, tiết kiệm dự thưởng kết hợp mở rộng mạng lưới huy động dưới cơ sở nâng cao chất lượng hoạt động của các quỹ tiết kiệm. Để giữ chân khách hàng truyền thống và khuyến khích họ giao dịch với ngân hàng cần có chính sách khuyến mại hấp dẫn, chế độ ưu đãi riêng như ưu đãi lãi suất, khuyến mại, thưởng đối với khách hàng gửi lớn và thường xuyên của ngân hàng. Không ngừng mở rộng phạm vi khách hàng như tiếp cận trực tiếp các tổ chức tài chính trong và ngoài khu vực để vay vốn, nhận tiền gửi hoặc nhận vốn uỷ thác... 3.2.8. Nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động marketing ngân hàng. Hoạt động marketing có vai trò ngày càng quan trọng, góp phần tích cực cho thành công của doanh nghiệp nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Hiện nay, marketing ngân hàng của Việt Nam được đánh giá là còn yếu kém và chưa thực sự được quan tâm ở mức độ cần thiết. Trong thời gian tới chú ý đến một số hoạt động sau: 3.2.8.1 Tăng cường công tác tiếp thị, tiếp cận trực tiếp đến các DNVVN Trong giai đoạn hiện nay nếu ngân hàng không chủ động tìm kiếm khách hàng mới thì thị phần của ngân hàng sẽ thu hẹp do các đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh. Có thể nói, từ trước đến nay, công tác tiếp thị giới thiệu sản phẩm của ngân hàng trực tiếp tới khách hàng ít được quan tâm và thực hiện không được thường xuyên. Hầu hết các DNVVN đều tự tìm đến ngân hàng xin thủ tục được cấp tín dụng và thường là các doanh nghiệp đóng tàu do tính chất lịch sử của ngân hàng. Do vậy mà nhân viên quan hệ khách hàng cần chú ý tới vấn đề mở rộng loại hình doanh nghiệp giao dịch với chi Thang Long University Library 48 nhánh. Trong thời gian tới chi nhánh cần khảo sát, lập danh sách, liệt kê tất cả các DNVVN đang hoạt động trên địa bàn, kể cả các doanh nghiệp đã có hoặc chưa có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Xây dựng kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ thực hiện tiếp thị, tìm hiểu và chăm sóc khách hàng là các DNVVN. Yêu cầu cán bộ quan hệ khách hàng cần thiết phải nắm thông tin của doanh nghiệp. Công việc này đòi hỏi phải được thực hiện thường xuyên, liên tục tạo nên mối quan hệ khăng khít, hiểu biết lần nhau giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Ngoài ra cần có số điện thoại nóng để trả lời đầy đủ, hướng dẫn chi tiết về sản phẩm dịch vụ mà khách hàng đặc biệt là các DNVVN quan tâm. 3.2.8.2 Công tác tuyên truyền, quảng bá thương hiệu, văn hoá doanh nghiệp, sản phẩm của ngành và chi nhánh. Chi nhánh cần thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền,quảng bá thương hiệu, văn hoá và sản phẩm của mình đến với công chúng để giữ gìn và nâng cao vị thế cũng như hình ảnh của ngân hàng. Công việc này phải được thực hiện một cách chuyên nghiệp trên tất cả các phương diện: phương tiện thông tín đại chúng, các hoạt động cộng đồng tại khu vực, qua tiếp xúc trực tiếp của cán bộ, nhân viên ngân hàng, thiết kế và lựa chọn những pa no, áp phich, tờ rơi, dễ nhìn, dễ thấy và dễ hiểu hay thiết kế sổ tay về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng để cung cấp cho khách hàng cũng như những người quan tâm, 3.2.8.3 Nâng cao kỹ năng giao tiếp và chăm sóc khách hàng. Nhân viên là hình ảnh của ngân hàng. Thái độ cư xử và giao tiếp của nhân viên để lai rất nhiều về ấn tượng ban đầu trong mắt của khách hàng. Bởi vậy, kỹ năng giao tiếp và chăm sóc khách hàng luôn cần được quan tâm và chú trọng. Trong nền kinh tế thị trường, kỹ năng giao tiếp và chăm sóc khách hàng có tác dụng rất lớn trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao vị thế và thương hiệu của doanh. Hiện nay, chi nhánh cần thiết phải mở thêm nhiều lớp tập huấn về những kỹ năng này đồng thời cũng cần có những phương pháp đào tạo phù hợp để nâng cao kỹ năng cho nhân viên quan hệ khách hàng nói riêng và nhân viên của ngân hàng nói chung. 3.2.9. Thực hiện tốt và có hiệu quả về quản trị nhân sự; nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Đội ngũ cán bộ là người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, duy trì và mở rộng được khách hàng hay không, khách hàng hài lòng đến mức độ nào đều phải nhờ vào chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên. Từ đó tạo nền tảng phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng nói riêng, hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung. 49 Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng của đội ngũ chuyên. Nâng cao chất lượng phục vụ đi kèm với hiện đại hoá công nghệ ngân hàng được xem là nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển của VPBank. Tin học hóa các quy trình kinh doanh và quản lý ngân hàng, đào tạo cho cán bộ, nhân viên ngân hàng có khả năng làm chủ công nghệ đó là một yêu cầu cấp thiết. Mặt khác, trong xu thế hội nhập hiện nay yêu cầu đặt lên vai đội ngũ cán bộ, nhân viên là rất lớn. Ngày càng nhiều Ngân hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt mà để có thể thắng được trong cạnh tranh này không phải quy mô, tiềm lực ngân hàng mà là chất lượng dịch vụ ngân hàng. Cùng với đó, tỷ lệ khách hàng nước ngoài khi đó sẽ cao hơn so với hiện nay, để đáp ứng được nhu cầu của những đối tượng này đòi hỏi chất lượng dịch vụ phải rất cao. Để làm được điều này thì yếu tố quan trọng nhất của Ngân hàng là nguồn nhân lực. Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản và mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, để giữ vững được hoạt động của Ngân hàng trong thời buổi cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả và chất lượng trong hoạt động tín dụng là điều cốt yếu. Vì vậy người cán bộ tín dụng phải có được những phẩm chất và năng lực để thực hiện công việc, cụ thể một số phẩm chất như: Tính trung thực và có đạo đức trong công việc. Luôn hướng tới việc đảm bảo tối đa lợi ích của ngân hàng, không vụ lợi, tuân thủ đúng quy trình quy định một cách nghiêm ngặt. Có năng lực để giải quyết những vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ. Muốn vậy họ phải có kiến thức chuyên môn về Ngân hàng, được đào tạo các kỹ năng để xử lý các thông tin liên quan tới công việc của mình. Có năng lực dự đoán các vấn đề kinh tế về sự phát triển cũng như triển vọng của hoạt động tín dụng. Đây chính là tầm nhìn của mỗi cá nhân, nhưng nó lại ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng. Từ kinh nghiệm mà họ có được những dự đoán chính xác thì đó là sự sáng tạo của cán bộ tín dụng. Có uy tín trong quan hệ xã hội. Điều này thể hiện phẩm chất đạo đức và khả năng giao tiếp, nó có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc mở rộng và giữ chân những khách hàng truyền thống của Ngân hàng. Có năng lực học hỏi, tự nghiên cứu, có khả năng làm việc độc lập. Hàng năm ngân hàng đều tổ chức cuộc thi công khai tuyển nhân viên với nhiều vòng thi về kiến thức chuyên môn, về trình độ ngoại ngữ khả năng giao tiếp đã tuyển chọn được những cán bộ có năng lực thực sự, có trách nhiệm và nhiệt tình với công việc. Ngân hàng thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại cán bộ thông qua các Hội nghị chuyên đề, các lớp tập huấn trong nước, các khóa học ngắn hạn cũng như dài hạn ở nước ngoài. Đặc biệt ngân hàng còn thường xuyên tổ chức kiểm tra, sát hạch Thang Long University Library 50 đánh giá trình độ của cán bộ trẻ để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài để đưa vào quy hoạch đào tạo đội ngũ nhân viên kế cận. 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 3.3.1. Kiến nghị với Hội sở ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng Thứ nhất, tăng cường hoàn thiện về vấn đề công nghệ tới mọi nhân viên của ngân hàng. Giúp đỡ về nghiệp vụ như mở các khoá đào tạo kiến thức mới, nhất là về kiến thức về tin học, thị trường. nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân viên. Tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiệm hoạt động giữa các chi nhánh và với hội sở, qua đó tiếp thu các ý kiến, kinh nghiệm, điều này rất có lợi cho việc hoạch định chiến lược hoạt động ngân hàng sát thực tế hơn. Thứ hai, tăng cường mở thêm các lớp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ hai tuần một buổi thay vì một tháng chỉ có một buổi như hiện nay. Đồng thời, thay đổi nội dung giảng dạy sao cho phù hợp với thực tiễn. 3.3.2. Kiến nghịvới ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với DNVVN của NHTM, các cơ quan nhà nước cũng cần có những biện pháp cụ thể để tạo ra những điều kiện đầy đủ và thuận lợi cho hoạt động này phát triển. Thứ nhất, ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần đưa ra được chính sách tiền tệ ổn định và mang tính mục tiêu cả trong ngắn hạn và dài hạn, giúp cho các NHTM hoạch định được phương hướng cho mọi hoạt động, tạo ra tính chủ động cho các NHTM. Chính sách tiền tệ cần có sự thống nhất và hợp với xu hướng phát triển của đất nước, ổn định nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy hoạt động của các NHTM. Thứ hai, hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên quan đến các hoạt động của NHTM. Hiện nay, hệ thống thông tin này chưa thực sự đầy đủ, thiếu chính xác và chưa mang tính thời sự. Thông tin tín dụng là một vấn đề thiết yếu không thể thiếu đối với mọi NHTM. Do đó,cần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) nhằm trợ giúp đắc lực cho các NHTM trong việc thu thập và xử lý thông tin, đưa ra quyết định chính xác, phù hợp, tránh tình trạng nhiều ngân hàng cùng cho vay vào một sự án hoặc doanh nghiệp vay để đảo nợ, để kịp thời ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro tín dụng. Thứ ba, nâng cao vai trò giám sát của thanh tra ngân hàng. Công tác thanh tra phải có cơ chế giám sát chặt chẽ và khoa học đảm bảo các NHTM thực hiện nghiêm túc các quy định trong hoạt động tín dụng. 3.3.3. Kiến nghị với Chính Phủ Thứ nhất xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh đối với mọi thành phần kinh tế. Để làm được điều đó, các cơ quan ban ngành phải từng bước tiến tới một hệ thống luật pháp đồng bộ, điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp theo một cơ chế chính sách thống 51 nhất trên cơ sở nhà nước tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mỗi công dân, mỗi doanh nghiệp. Chính phủ cần nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý đảm bảo sự ổn định và rõ ràng về môi trường đầu tư và tính công khai, minh bạch về chế độ, chính sách khuyến khích đầu tư. Thứ hai, tăng cường hỗ trợ thông tin cho DNVVN. Thông tin là một trong những vấn đề rất quan trọng đối với DNVVN hiện nay. Vì thế, nhà nước cần có những biện pháp để tăng cường cung cấp thông tin cho bộ phận doanh nghiệp này như lập các trang web chuyên về tin tức, sự kiện, thị trường cho các ngành nghề DNVVN; cập nhật các văn bản Luật và văn bản dưới Luật sẽ giúp doanh nghiệp có hiểu biết tổng quan nhất. Đồng thời các cơ quan chức năng có thể tiến hành đào tạo các khóa về thủ tục đăng kí kinh doanh, hoạt động xuất nhập khẩu, đào tạo công tác quản lí, các quy chế của NHTMnhằm nâng cao hiểu biết cũng như năng lực của DNVVN. Thang Long University Library 52 KẾT LUẬN Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đang không ngừng phát triển. Trước sự lớn mạnh của lực lượng DNVVN Việt Nam hiện nay, mở rộng tín dụng đối với các DNVVN là hoạt động tiềm năng và là xu thế tất yếu của các NHTM. Việc nghiên cứu giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại Phòng giao dịch Kim Liên trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa quan trọng, giúp cho hoạt động tín dụng của Phòng giao dịch phát triển ổn định và bền vững.Sau khi nghiên cứu vấn đề này. Khóa luận đã hoàn thành một số nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đềlý luận cơ bản về tín dụng và sự cần thiết mở rộng tín dụng đối với DNVVN của NHTM. Cùng với việc xây dựng sáu chỉ tiêu để đánh giá, chuyên đề cũng đã đưa ra và phân tích các nhân tố chủ quan. Thứ hai: Phân tích đánh giá một cách sâu sắc về thực trạng mở rộng tín dụng tại Phòng giao dịch Kim Liên từ đó rút ra những điểm mạnh, những hạn chế và chỉ ra nguyên nhân. Trên cơ sở những chỉ tiêu đưa ra, về cơ bản chi nhánh đáp ứng được chỉ tiêu dư nợ tín dụng, doanh số tín dụng, thu lãi từ DNVVN theo kế hoạch đề ra nhưng thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của chi nhánh. Chi nhánh còn hạn chế về đối tượng khách hàng chưa đa dạng, hình thức tín dụng chưa phong phú đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Thứ ba: Dựa trên những hạn chế trong vấn đề mở rộng tín dụng đối với DNVVN của Phòng giao dịch Kim liên, Khóa luận đã đề xuất một số giải pháp cho Phòng giao dịch Kim Liên. Đồng thời, cũng đưa ra một số kiến nghị cụ thể đối với Ngân hàng TMCP Việt nam Thịnh Vượng, với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ để việc tổ chức thực hiện các giải pháp được nhanh chóng, thuận lợi, tạo điều kiện cho việc mở rộng hoạt động tín dụng của NHTM nói chung và của Phòng giao dịch Kim Liên nói riêng. Trên cơ sở đó, đòi hỏi toàn thể đội ngũ cán bộ nhân viên và Ban lãnh đạo Phòng giao dịch phải chủ động khắc phục khó khăn, không ngừng trau dồi nghiệp vụ và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp. Em hy vọng các nhận định, đánh giá, giải pháp đưa ra trong khuôn khổ luận văn sẽ phần nào đóng góp và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động mở rộng tín dụng tại phòng giao dịch Kim Liên. Em xin chân thành cảm ơn! 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bảng cân đối kế toán 2011 – 2013 của phòng giao dịch Kim Liên 2. Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011 – 2013 của phòng giao dịch Kim Liên. 3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng . Quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp tín dụng, Quy định số 3999/2009/QĐ-QLTD1. 4. Nguyễn Hoài (2010), Khổ vì....nguồn vốn dồi dào, www.vneconomy.com 5. PGS. Mai Siêu, TS. Đào Minh Phúc và Nguyễn Quang Tuấn (2009), Cẩm nang quản lý tín dụng ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê. 6. Phan Thị Thu Hà (2009), Giáo trình Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội. 7. PGS.TS Lê Văn Tề, giáo trình “Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại”- NXB Thống kê năm 2004. 8. Quốc hội (2010), Luật các tổ chức tín dụng. 9. Tổng cục thống kê (2011), Thông cáo báo chí về số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2011. 10. Tổng cục thống kê (2012), Thông cáo báo chí về số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2012. 11. Tổng cục thống kê (2013), Thông cáo báo chí về số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2013. 12. Website tham khảo: Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftoan_van_a16098_6369_7729.pdf
Luận văn liên quan