Luận án Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng và một số bất thường điện sinh lý thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Trên điện cơ kim ghi nhận điện thế đâm kim tăng chiếm 60,82%, sóng nhọn dương 53,61%, rung giật sợi cơ 47,42% và đơn vị vận động bất thường 59,28% các bệnh nhân khảo sát. Như vậy những hình ảnh bất thường trên chẩn đoán điện là những tổn thương phối hợp gồm hiện tượng tổn thương sợi trục và hủy myelin qua khảo sát dẫn truyền thần kinh và ghi điện cơ kim. Bệnh thần kinh tự chủ tim mạch do đái tháo đường là 50,51%, trong đó tổn thương thần kinh đối giao cảm xuất hiện nhiều hơn thần kinh giao cảm, như nghiệm pháp biến thiên nhịp tim lúc nghỉ và biến thiên nhịp tim theo hô hấp sâu chiếm tỉ lệ cao nhất, biến thiên huyết áp theo tư thế đứng chiếm tỉ lệ thấp nhất.

pdf165 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 02/08/2018 | Lượt xem: 589 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng và một số bất thường điện sinh lý thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
. Ngoài sự khác biệt về quần thể nghiên cứu, phương pháp thực hiện cũng như tiêu chuẩn đánh giá, bên cạnh yếu tố quan trọng là tình trạng tổn thương thần kinh ngoại biên còn có tính chất đặc thù của từng nơi làm điện cơ. Do tính chất đa dạng của các yếu tố cấu thành điện cơ kim, nên để chẩn đoán có bất thường hay không, người ta có nhiều cách đánh giá dựa vào các bất thường của từng yếu tố đó nên tạo ra sự khác biệt giữa các công trình nghiên cứu khác nhau. Bởi vậy nên các công trình nghiên cứu của các tác giả chỉ mô tả số liệu mà họ tập trung vào đó để chẩn đoán cho được có bất thường trên điện cơ kim, nên chúng ta thấy có sự chênh lệch số liệu giữa các công trình nghiên cứu. Tóm lại: Điện cơ kim đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định các bệnh thần kinh ngoại biên cùng với phương pháp đo dẫn truyền thần kinh. Những dấu chứng về hiện tượng mất phân bố và tái phân bố thần kinh được ghi nhận qua các biểu hiện cụ thể trên điện cơ kim cung cấp cho ta những bằng chứng cụ thể để chẩn đoán chính xác về bệnh thần kinh. Tuy có sự khác 126 nhau về kỹ thuật cụ thể được áp dụng và quá trình mô tả không hoàn toàn đồng nhất nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là xác định có tổn thương thần kinh, cách thức và cũng như mức độ tổn thương là điều quan trọng và đó chính là tính ưu việc của phương pháp điện cơ kim. 4.3.3. Các đặc điểm về rối loạn thần kinh tự chủ Qua khảo sát 194 bệnh nhân đái tháo đường với một số nghiệm pháp đánh giá thần kinh tự chủ, kết quả ghi nhận được bệnh thần kinh tự chủ tim mạch chiếm tỉ lệ 50,51%, trong đó các nghiệm pháp phát hiện tổn thương hệ thần kinh đối giao cảm xuất hiện nhiều hơn hệ thần kinh giao cảm, đặc biệt các nghiệm pháp biến thiên nhịp tim lúc nghỉ và biến thiên nhịp tim theo hô hấp sâu chiếm tỉ lệ cao nhất, biến thiên nhịp tim và huyết áp theo tư thế đứng chiếm tỉ lệ thấp nhất. Nghiệm pháp đáp ứng nhịp tim với tư thế đứng (30:15 Ratio) có 40,72% bất thường, nghiệm pháp đáp ứng huyết áp với tư thế đứng 43,29%. Các đề tài trong nước Theo Nguyễn Thế Thành [16], tác giả nghiên cứu 75 bệnh nhân, gồm 53 bệnh nhân nữ và 22 bệnh nhân nam. Tuổi trung bình 51,78±3,07 tuổi. Kết quả ghi nhận số bệnh nhân có tổn thương thần kinh tự chủ là 52%. Trong đó loại tổn thương nhẹ là 21,33%, tổn thương nặng 29,33%. Hệ phó giao cảm gồm nghiệm pháp Valsalva, nghiệm pháp biến thiên nhịp tim với thở sâu, nghiệm pháp biến thiên nhịp tim với tư thế đứng. Hệ giao cảm gồm nghiệm pháp biến thiên huyết áp với tư thế đứng, nghiệm pháp tăng huyết áp bàn tay co. Lê Văn Bổn [1] nghiên cứu 107 bệnh nhân, gồm 65 bệnh nhân nữ và 35 bệnh nhân nam. Tuổi trung bình 59±11 tuổi. Nghiên cứu bao gồm các chỉ số đánh giá thần kinh tự chủ là nghiệm pháp đánh giá nhịp tim lúc nghỉ, thiên nhịp tim với thở sâu, biến thiên nhịp tim với tư thế đứng, 127 biến thiên huyết áp với tư thế đứng và nghiệm pháp Valsalva. Kết quả ghi nhận số bệnh nhân có tổn thương thần kinh tự chủ là 51%. Trong đó loại tổn thương nhẹ là 42%( có từ 2-3 nghiệm pháp bất thường), tổn thương nặng 9%(có từ 4-5 nghiệm pháp bất thường). So sánh với số liệu của tác giả Nguyễn Thế Thành và Lê Văn Bổn cho thấy tỉ lệ bệnh thần kinh tự chủ không có sự khác biệt so với số liệu của chúng tôi. Sự tương đồng này có thể do các phương pháp đánh giá tương đối đồng nhất với nhau, đặc biệt là nhóm bệnh nhân nghiên cứu tương đồng như của Lê Văn Bổn gồm bệnh nhân ngoại trú và độ tuổi trung bình giống nhau, còn nhóm bệnh nhân của Nguyễn Thế Thành tuy có độ tuổi trung bình thấp hơn của chúng tôi, nhưng do đối tượng bệnh nhân nội trú, nên bệnh cảnh nặng hơn cuối cùng làm cho số liệu tương đương nhau. Số liệu cũng nói lên một lần nữa tổn thương thần kinh tự chủ chiếm tỉ lệ khá cao và nó sẽ ảnh hưởng nguy hiểm cho sự sống còn của người bệnh. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên đối tượng ngoại trú nên tình trạng bệnh có thể sẽ nhẹ hơn đối tượng bệnh nhân của hai nghiên cứu trên đây. Bởi lẽ theo thói quen truyền thống, người Việt Nam chỉ vào viện khi có nhiều vấn đề và khi quá khả năng chịu đựng hay phát sinh thêm vấn đề mới thì mới nhập viện điều trị. Còn số bệnh nhân của nhóm chúng tôi có thể có ý thức về bệnh khá hơn nên họ đã khám sức khỏe định kỳ tốt, từ đó được tư vấn điều trị tốt nên biến chứng sẽ chậm hơn. Các đề tài ngoài nước Biến chứng thần kinh tự chủ do đái tháo đường theo các tác giả khác như Sharpey-Schafer and Taylor [117] là 21%, theo Morley et al [86] là 24%, theo Ewing et al [49],[50] là 18% và theo Ziegler et al 128 [149], có 34,3% bệnh nhân có biến chứng thần kinh tự chủ. Kết quả nghiên cứu này thấp hơn của chúng tôi do đối tượng nghiên cứu và phương thức đánh giá cũng khác nhau; có nghiên cứu chỉ dự vào một nghiệm pháp mà thôi. So sánh với số liệu của tác giả Manjula [78], cho thấy có 48% bất thường về tỉ số 30:15 và có 63% số bệnh nhân có bất thường về nghiệm pháp thở sâu, như vậy đã có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,01. Điều này có thể do thời gian mắc đái tháo đường kéo dài hơn so với số liệu của chúng tôi, vì trong mẫu nghiên cứu có tới 61% số bệnh nhân có thời gian đái tháo đường trên 5 năm. Basu A.K và cộng sự [36] nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường, kết quả nghiên cứu cho thấy tần suất bệnh thần kinh tự chủ 54%. Nghiệm pháp biến thiên nhịp tim với thở sâu có đáp ứng nhiều nhất, chiếm 48% số bệnh nhân, có 38% bệnh nhân có bất thường nghiệm pháp biến thiên nhịp tim với tư thế đứng, 40% bệnh nhân có bất thường nghiệm pháp với bàn tay co, 36% bệnh nhân có bất thường nghiệm pháp hạ huyết áp theo tư thế, 52% bệnh nhân có bất thường nghiệm pháp thay đổi đối giao cảm, 20% bệnh nhân có bất thường nghiệm pháp thay đổi giao cảm. Prasad H.B và cộng sự [100] nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bằng các nghiệm pháp đánh giá thần kinh tự chủ, tuổi trung bình là 57±6,5 tuổi, thời gian mắc bệnh đái tháo đường 11,28±4,64 năm, nhóm không có bệnh thần kinh tự chủ là 5,86±2,06 năm, tỉ lệ bất thường thần kinh tự chủ tim mạch là 58% và 42% bình thường. Tác giả còn chỉ ra: biến thiên nhịp thở sâu 40% bình thường, bất thường 38%, 22% giáp biên; theo tư thế đứng là 62% bình thường, bất thường 32%, 6% giáp biên; nghiệm pháp Valsalva là 38% bình thường, bất thường 28%, 34% giáp biên; hạ huyết áp theo tư thế 60% bình thường, bất thường 20%, 20% giáp biên. 129 Ramavat M.R và cộng sự [105] nghiên cứu 74 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tuổi trung bình 54,6 tuổi, từ 40-75 tuổi, thời gian đái tháo đường 7,25±6,42 năm, kết quả nghiên cứu cho thấy tần suất bệnh thần kinh tự chủ là 51,9%, thần kinh giao cảm là 28,9%, đối giao cảm là 44%, giao cảm ít nhất là một nghiệm pháp, đối giao cảm là hai nghiệm pháp. Arif Z.A và cộng sự [29] nghiên cứu 207 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tuổi trung bình 54,6±7,8 năm, HbA1C 7,9±4,2%, đường huyết 170,1± 62,5mg/dl, kết quả có 36,7% bệnh nhân có bệnh thần kinh tự chủ tim mạch, dựa vào nhịp tim lúc nghỉ, hạ huyết áp tư thế, biến thiên huyết áp bàn tay co và QT kéo dài. Anca M và cộng sự (2012) nghiên cứu 57 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tuổi trung bình 59,1 tuổi. Thiết kế có hai nghiệm pháp đánh giá tổn thương hệ thần kinh đối giao cảm, ít nhất một nghiệm pháp đánh giá tổn thương hệ thần kinh giao cảm, kết quả có 43,8% bệnh nhân có bệnh thần kinh tự chủ tim mạch, có sự liên quan thời gian mắc bệnh và kiểm soát đường huyết với sự xuất hiện bệnh thần kinh tự chủ, không có bệnh nhân nào phát hiện riêng lẽ bệnh thần kinh tự chủ mà không có bệnh thần kinh ngoại biên [27]. Khảo sát những rối loạn thần kinh tự chủ nói chung và rối loạn thần kinh tự chủ do đái tháo đường là công việc hết sức phức tạp do tính chất phức tạp của hệ thần kinh tự chủ. Hệ thần kinh tự chủ chi phối hầu hết các cơ quan nội tạng thông qua hai hệ thống hoạt động đối lập nhau gồm hệ giao cảm và đối giao cảm. Hệ thần kinh tự chủ đối giao cảm có chiều dài nhiều hơn hệ giao cảm nên trong bệnh lý đái tháo đường thì phần đối giao cảm sẽ bắt đầu thương tổn trước. Do tính chất đa dạng và phạm vi chi phối rộng nên để đánh giá thần kinh tự chủ người ta chọn phương cách nào thuận tiện cho việc khảo sát. Chính vì vậy khảo sát thần kinh tự chủ tim mạch được ưu tiên chọn lựa để đánh giá vì nó xuất hiện sớm và tương đối dể đánh giá thông qua biến thiên 130 nhịp tim và huyết áp. Tùy theo mục tiêu và điều kiện nghiên cứu nên các tác giả chỉ chọn những thiết kế và phương thức đánh giá cho phù hợp với điều kiện mình. Từng tổ hợp lựa chọn đánh giá có độ nhạy và độ đặc hiệu khác nhau. Nghiên cứu càng đưa ra nhiều chỉ số đánh giá thì phát hiện được nhiều bệnh nhân có rối loạn thần kinh tự chủ hơn. Như vậy có sự khác biệt về tần suất bệnh thần kinh tự chủ hay bệnh thần kinh tự chủ tim mạch giữa các công trình nghiên cứu khác nhau. Ngoài sự khác nhau về quần thể bệnh nhân khảo sát, phương pháp cũng như tiêu chuẩn đánh giá thì yếu tố quan trọng khác đó là người ta dựa vào những chỉ số bất thường nào, tất cả những yếu tố đó tạo ra sự khác biệt giữa các công trình nghiên cứu khác nhau. Chính vì trong các công trình nghiên cứu, tác giả chỉ mô tả số liệu mà họ tập trung vào đó để chẩn đoán cho được có bất thường trên thần kinh tự chủ khảo sát, nên sự khác biệt số liệu giữa các công trình nghiên cứu là điều khó tránh khỏi. Tóm lại: Bệnh thần kinh tự chủ do đái tháo đường có tính chất phức tạp vì tính chất đa dạng và phạm vi chi phối rộng nên để đánh giá thần kinh tự chủ ta chọn phương cách thuận tiện cho việc khảo sát. Vì vậy khảo sát thần kinh tự chủ tim mạch được ưu tiên chọn lựa để đánh giá vì nó xuất hiện sớm và dễ đánh giá thông qua sự thay đổi của hệ giao cảm và đối giao cảm. Với những mục tiêu và điều kiện nghiên cứu hết sức cụ thể theo các tác giả nên mỗi người chỉ chọn những thiết kế và phương thức đánh giá cho phù hợp với điều kiện của họ, gây ra sự khác biệt về tần suất bệnh thần kinh tự chủ hay bệnh thần kinh tự chủ tim mạch giữa các công trình nghiên cứu khác nhau. 4.4 XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH THẦN KINH DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 4.4.1 Tuổi bệnh nhân đái tháo đường và biến chứng thần kinh Bệnh thần kinh do đái tháo đường có liên quan đến tuổi của người bệnh đái tháo đường, điều này từ lâu đã được y văn ghi nhận và có nhiều 131 báo cáo chi tiết. Trong khảo sát này, ta thấy số bệnh nhân bất thường thần kinh ngoại biên và thần kinh tự chủ tăng theo độ tuổi của người mắc bệnh đái tháo đường. Tuổi càng cao thì biến chứng thần kinh càng nhiều. Số liệu nghiên cứu cho thấy, ở độ tuổi 30-40 tuổi, chỉ có 14,28% biến chứng thần kinh ngoại biên và 7,14% biến chứng thần kinh tự chủ, nhưng đến độ tuổi 51-60 tuổi, đã có 56,81% biến chứng thần kinh ngoại biên và 47,72% biến chứng thần kinh tự chủ, đặc biệt ở độ tuổi cao nhất là trên 80 tuổi, biến chứng thần kinh ngoại biên là 80% và biến chứng thần kinh tự chủ là 73,33%. Các đề tài trong nước Theo Vũ Anh Nhị có sự tương quan giữa bệnh thần kinh ngoại biên trên lâm sàng và điện sinh lý với tuổi đời của bệnh nhân đái tháo đường. Theo Nguyễn Thế Thành tỉ lệ rối loạn thần kinh tự chủ tim mạch ở những bệnh nhân có nhóm tuổi 28-39 tuổi là 25-30%, nhóm tuổi 40-51 tuổi là 40-43%, nhóm tuổi 52-69 tuổi là 60-65% và nhóm tuổi trên 70 tuổi là 100%. Các đề tài ngoài nước Shareef A.A [115] nghiên cứu 122 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tuổi trung bình 60,4±12,94, kết quả nghiên cứu có 53,84% số bệnh nhân có độ tuổi nhỏ hơn 50 tuổi có biến chứng thần kinh ngoại biên, và 70,83% số bệnh nhân có độ tuổi trên 50 tuổi có biến chứng thần kinh. Adgaonkar A.A và cộng sự nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 [18], kết quả nghiên cứu cho thấy có 20% số bệnh nhân có độ tuổi từ 31-40 tuổi có biến chứng thần kinh, có 44,4% số bệnh nhân có độ tuổi từ 41-50 tuổi có biến chứng thần kinh, và 90,9% số bệnh nhân có độ tuổi từ 51-60 tuổi có biến chứng thần kinh. 132 Năm 2015, Nawazi M.M và cộng sự nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 [90], kết quả có 33,3% bệnh nhân có biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân có nhóm tuổi từ 35-44 tuổi, có 58,3% biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân có nhóm tuổi từ 45-54 tuổi, có 73,3% biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân có nhóm tuổi từ 55-64 tuổi và 83,3% có biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân có nhóm tuổi trên 65 tuổi. Prasad H.B và cộng sự [100] nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bằng các nghiệm pháp đánh giá thần kinh tự chủ, tỉ lệ bất thường bệnh thần kinh tự chủ tim mạch của nghiên cứu này là 58% trong đó có 50% bệnh nhân có biến chứng thần kinh tự chủ trên số bệnh nhân có nhóm tuổi từ 41-50 tuổi, có 58,33% biến chứng thần kinh tự chủ trên số bệnh nhân có có nhóm tuổi từ 51-60 tuổi, có 70% biến chứng thần kinh tự chủ trên số bệnh nhân có có nhóm tuổi từ 61-70 tuổi. Tỉ lệ bất thường bệnh thần kinh tự chủ tim mạch của nghiên cứu này cao hơn số liệu của chúng tôi, mặc dù độ tuổi trung bình của nghiên cứu này và nghiên cứu của chúng tôi gần giống nhau, tức là tuổi trung bình 57±6,5 tuổi so với 58,15±16,04 , nhưng do thời gian mắc bệnh đái tháo đường trung bình của nghiên cứu này là 11,28±4,64 năm (nhóm có biến chứng thần kinh tự chủ tim mạch) và 5,86±2,06 năm (nhóm không có bệnh thần kinh tự chủ) cao hơn nghiên cứu của chúng tôi là 5,32±2,3 năm. Các nghiên cứu trên cho thấy biến chứng thần kinh liên quan mật thiết với độ tuổi bệnh nhân đái tháo đường, những bệnh nhân có độ tuổi càng lớn thì biến chứng thần kinh có nguy cơ xảy càng nhiều, điều này phù hợp với y văn và các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. 4.4.2 Thời gian mắc bệnh đái tháo đường và biến chứng thần kinh Bệnh thần kinh ngoại biên và thần kinh tự chủ có liên quan đến thời gian mắc bệnh đái tháo đường, điều này từ lâu đã được y văn ghi nhận và có nhiều báo cáo chi tiết. Trong khảo sát này, ta thấy số bệnh nhân 133 bất thường thần kinh ngoại biên và thần kinh tự chủ tăng theo thời gian mắc bệnh đái tháo đường. Thời gian mắc bệnh đái tháo đường càng lâu thì biến chứng thần kinh càng nhiều. Với các đề tài trong nước Theo Nguyễn Thế Thành tỉ lệ rối loạn thần kinh tự chủ tim mạch ở những bệnh nhân có tuổi bệnh đái tháo đường trên 5 năm là gần 100%, trong khi tỉ lệ chung các tuổi bệnh chỉ là 40,98%. Theo Vũ Anh Nhị số bệnh nhân rối loạn thần kinh ngoại biên chiếm tỉ lệ cao những bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường từ 5-10 năm. Các đề tài ngoài nước Adgaonkar A.A và cộng sự nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 [18], độ tuổi từ 20-70 tuổi, kết quả nghiên cứu cho thấy nếu số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh đái tháo đường dưới 5 năm có 20% bệnh nhân có biến chứng thần kinh, thì số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh đái tháo đường trên 5 năm chiếm 93,3% bệnh nhân có biến chứng thần kinh, số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường trên 6 năm có 100% bệnh nhân có biến chứng thần kinh. Năm 2015, Nawazi M.M và cộng sự nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 [90], kết quả có 33,3% bệnh nhân có biến chứng thần kinh ngoại biên trên số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh đái tháo đường từ 5-10 năm; có 63,6% biến chứng thần kinh trên số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh đái tháo đường từ 10-15 năm; có 77,8% biến chứng thần kinh trên số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh đái tháo đường từ 15-20 năm và 83,3% biến chứng thần kinh trên số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh đái tháo đường từ trên 20 năm. Các nghiên cứu trên cho thấy biến chứng thần kinh liên quan mật thiết với thời gian mắc bệnh đái tháo đường, những bệnh nhân bị mắc bệnh đái tháo đường càng lâu thì biến chứng thần kinh càng nhiều điều này phù hợp với y văn và các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. 134 4.4.3 Sự kiểm soát đường huyết và biến chứng thần kinh Bệnh thần kinh ngoại biên và thần kinh tự chủ, theo nghiên cứu, có liên quan sự kiểm soát đường huyết. Trong khảo sát này, ta thấy số bệnh nhân có biến chứng thần kinh tăng theo sự kiểm soát đường huyết, sự kiểm soát tốt thì hạn chế được nhiều biến chứng thần kinh. So sánh với các đề tài trong nước Theo Nguyễn Thế Thành gần như 100% bệnh nhân có biến chứng thần kinh tự chủ tim mạch với tình trạng kiểm soát đường huyết kém, trong khi tỉ lệ chung chỉ là 41,66% [16]. Theo Lê Văn Bổn cho thấy mức đường huyết ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng thần kinh tự chủ cao hơn nhóm bệnh nhân chưa có biến chứng thần kinh tự chủ, giữa 163±57 mg/dl so với 140±50 mg/dl. Như vậy kiểm soát đường huyết kém cũng làm tăng tỉ lệ biến chứng thần kinh tự chủ nói chung và tim mạch nói riêng [1]. So với các đề tài ngoài nước Năm 2014, Feng Xu và cộng sự nghiên cứu 45 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 [52], kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh thần kinh ngoại biên giảm ở nhóm kiểm soát đường huyết tốt và mức HbA1C thấp. Adgaonkar AA và cộng sự [18] khảo sát 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tác giả đưa ra nhận xét trong số bệnh nhân có đường huyết trung bình <180mg% không thấy bệnh nhân nào có biến chứng thần kinh, trong số bệnh nhân có đường huyết trung bình 200-230mg%, có 33,3% bệnh nhân có biến chứng thần kinh, số bệnh nhân có đường huyết trung bình 230-260mg%, có 50% bệnh nhân có biến chứng thần kinh và số bệnh nhân có đường huyết trung bình 260- 300mg%, có 66,6% bệnh nhân có biến chứng thần kinh. Năm 2015, Nawazi M.M và cộng sự nghiên cứu 50 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 [90], tác giả đánh giá bệnh thần kinh ngoại biên dựa vào các triệu 135 chứng lâm sàng bằng thang điểm lâm sàng thần kinh và bằng khảo sát chẩn đoán điện, kết quả cho thấy có 36% bệnh nhân có biến chứng thần kinh ngoại biên trên nhóm bệnh nhân có nồng độ HbA1C trung bình 6-8%, có 71,4% bệnh nhân có biến chứng thần kinh ngoại biên trên nhóm bệnh nhân có nồng độ HbA1C trung bình 8-10%, có 75% bệnh nhân có biến chứng thần kinh ngoại biên trên nhóm bệnh nhân có nồng độ HbA1C trung bình >10%. Theo một nghiên cứu 110 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 (2015), June JE kết luận bệnh thần kinh tự chủ có liên quan chặt chẽ với mức đường huyết và sự kiểm soát tốt đường huyết qua chỉ số HbA1C [63]. Như vậy các biến chứng thần kinh liên quan mật thiết với tình trạng đường huyết và kiểm soát đường huyết bằng trị số HbA1C trung bình ở nhóm nghiên cứu đái tháo đường điều này cũng phù hợp với y văn và các công trình nghiên cứu trước đó. Tóm lại: Tuổi bệnh nhân đái tháo đường càng lớn, thời gian mắc bệnh đái tháo đường càng lâu, sự kiểm soát đường huyết càng kém chính là các yếu tố nguy cơ của bệnh thần kinh do đái tháo đường. 136 KẾT LUẬN Qua khảo sát bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bằng phương pháp khám lâm sàng và chẩn đoán điện, chúng tôi có các kết luận như sau: 1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng của bệnh thần kinh do đái tháo đường týp 2 Đặc điểm lâm sàng bệnh thần kinh do đái tháo đường gồm các triệu chứng rối loạn cảm giác chủ quan, rối loạn cảm giác khách quan, rối loạn vận động và giảm phản xạ gân xương. Tỉ lệ các triệu chứng lâm sàng cơ năng và thực thể của bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường lần lượt là 54,64% và 52,58%. Rối loạn cảm giác chủ quan chiếm 56,18%, rối loạn cảm giác khách quan chiếm 52,58%, giảm cảm giác rung chiếm 18,55%, giảm phản xạ gân xương chiếm 22,10%, yếu cơ, teo cơ chiếm 6,18%. Tỉ lệ tổn thương thần kinh ở mức độ nặng theo thang điểm đánh giá DNE cơ năng là 27,83% và thực thể là 27,32%, nhóm bệnh nhân này có tổn thương thần kinh nặng nề và có nguy cơ cao đưa đến biến chứng bàn chân. Tỉ lệ bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường chiếm tỉ lệ 60,82%. Bệnh thần kinh tự chủ trên bệnh nhân đái tháo đường chiếm tỉ lệ 50,51%. Bệnh thần kinh ngoại biên xuất hiện với tần suất cao hơn và sớm hơn và có liên quan với bệnh thần kinh tự chủ. 2. Nhận xét các bất thường trên điện sinh lý thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Những bất thường trên dẫn truyền thần kinh là thời gian tiềm ngoại vi kéo dài, vận tốc dẫn truyền thần kinh giảm, biên độ điện thế hoạt động dây thần kinh giảm và thay đổi sóng F. Những bất thường trên điện cơ kim gồm điện thế đâm kim tăng, xuất hiện các điện thế tự phát và bất thường về các đơn vị vận động. 137 Chẩn đoán điện phát hiện bệnh thần kinh trên những bệnh nhân chưa có biểu hiện lâm sàng. Thời gian tiềm ngoại vi kéo dài chiếm 50,51%, trong đó dây thần kinh giữa chiếm tỉ lệ cao nhất và thấp nhất là của thần kinh trụ 22,68%.Vận tốc dẫn truyền thần kinh giảm trên 27,84% số bệnh nhân, trong đó giảm vận tốc dẫn truyền dây thần kinh chày sau chiếm tỉ lệ cao nhất. Biên độ điện thế hoạt động dây thần kinh giảm chiếm 49,48% bệnh nhân, dây thần kinh thần kinh chày sau giảm nhiều nhất, thần kinh giữa là 26,80%, thần kinh mác nông là 46,39%. Những thay đổi về sóng F được ghi nhận ở 35,05% bệnh nhân đái tháo đường. Trên điện cơ kim ghi nhận điện thế đâm kim tăng chiếm 60,82%, sóng nhọn dương 53,61%, rung giật sợi cơ 47,42% và đơn vị vận động bất thường 59,28% các bệnh nhân khảo sát. Như vậy những hình ảnh bất thường trên chẩn đoán điện là những tổn thương phối hợp gồm hiện tượng tổn thương sợi trục và hủy myelin qua khảo sát dẫn truyền thần kinh và ghi điện cơ kim. Bệnh thần kinh tự chủ tim mạch do đái tháo đường là 50,51%, trong đó tổn thương thần kinh đối giao cảm xuất hiện nhiều hơn thần kinh giao cảm, như nghiệm pháp biến thiên nhịp tim lúc nghỉ và biến thiên nhịp tim theo hô hấp sâu chiếm tỉ lệ cao nhất, biến thiên huyết áp theo tư thế đứng chiếm tỉ lệ thấp nhất. 3. Các yếu tố nguy cơ của bệnh thần kinh do đái tháo đường týp 2 Những yếu tố nguy cơ của bệnh thần kinh do đái tháo đường theo nghiên cứu bao gồm tuổi người bệnh, thời gian mắc bệnh đái tháo đường và sự kiểm soát đường huyết. 138 KIẾN NGHỊ Nên đưa chẩn đoán điện sinh lý như một kiểm tra thường qui đối với những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đã có hay chưa có triệu chứng lâm sàng tổn thương thần kinh ngoại biên vì chẩn đoán điện phát hiện được những trường hợp bệnh thần kinh ngoại biên ở giai đoạn chưa có biểu hiện lâm sàng. Cần kiểm soát tốt đường huyết của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 vì các biến chứng thần kinh gia tăng theo sự kiểm soát đường huyết. Biến chứng thần kinh tự chủ đái tháo đường đặc biệt là thần kinh tự chủ tim mạch cần được đặc biệt quan tâm vì tần suất xuất hiện khá cao, nguy cơ cao cho người bệnh và có mối liên hệ với biến chứng thần kinh ngoại biên. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN LUẬN ÁN 1. Lương Thanh Điền (2015). “Đặc điểm bệnh lý thần kinh ngoại biên do đái tháo đường trên chẩn đoán điện sinh lý thần kinh”, Y học thực hành, số 986, tr.10-16. 2. Lương Thanh Điền (2015). “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh lý thần kinh ngoại biên trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2”, Y học thực hành, số 986, tr.36-42. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Lê Văn Bổn, Nguyễn Thy Khuê (2008). “Biến chứng thần kinh tự chủ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2”, Tạp chí y học thực hành, tr.616-617. 2. Nguyễn Hữu Công (2010). Chẩn đoán điện và ứng dụng trong thần kinh học, Bệnh học thần kinh cơ (sau đại học), Nhà xuất Bản Đại học Quốc Gia. Tp.HCM, tr.197-211. 3. Lê Quang Cường (1999). Nghiên cứu biểu hiện thần kinh ngoại vi ở người trưởng thành đái tháo đường bằng ghi điện cơ đo tốc độ dẫn truyền thần kinh, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, tr.1-147. 4. Nguyễn Huy Cường (2003). Bệnh đái tháo đường, Nhà xuất bản Y Học. Hà Nội, tr.13-74. 5. Nguyễn Thị Bích Đào (2012). “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có nhiễm trùng bàn chân”, Tạp chí Y học thực hành, 817, tr.127-131. 6. Ngô Thị Giang (2005). Đặc điểm bệnh lý thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Thống Nhất, Tạp chí y học thực hành, tr. 6-17. 7. Nguyễn Mai Hòa (2008). “Khảo sát điện cơ trên bệnh nhân đái tháo đường mãn tính”, Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập 12 (1), tr. 352-358. 8. Nguyễn Thy Khuê (2005). Bệnh thần kinh đái tháo đường, Nhà xuất bản Y Học Chi Nhánh Tp.HCM. TP.HCM, tr.1-7. 9. Nguyễn Duy Mạnh (2009). Nghiên cứu biểu hiện tổn thương đa dây thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, tr.1-66. 10. Lê Minh (2010). Bệnh Thần kinh ngoại biên mất myelin, Bệnh học thần kinh cơ (sau đại học), Nhà xuất Bản Đại học Quốc Gia, TP.HCM, tr.26-38. 11. Nguyễn Đỗ Nguyên (2002). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong y khoa, Khoa Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược Tp.HCM, tr.22-40. 12. Nguyễn Thị Nhạn (2003). Nghiên cứu biến chứng thần kinh tự động tim mạch bằng các trắc nghiệm của Ewing ở bệnh nhân đái tháo đường, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Huế, tr.1-90. 13. Nguyễn Thị Nhạn (2005). “Nghiên cứu biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường”, Tạp chí y học thực hành, 521, tr.369-376. 14. Vũ Anh Nhị (1996). Nghiên cứu bệnh lý thần kinh ngoại biên do đái tháo đường bằng phương pháp chẩn đoán điện, Luận án phó TS khoa học y dược. Đại học Y Dược TP.HCM, tr.1-104. 15. Đỗ Trung Quân (2006). Biến chứng đái tháo đường và điều trị, Nhà xuất bản Y Học, TP.HCM, tr 30-45. 16. Nguyễn Thế Thành (1995). Góp phần nghiên cứu phát hiện biến chứng thần kinh tự chủ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường trong điều kiện Việt Nam, Đại Học Y Dược TP.HCM. Tp.HCM, tr.1-149. TIẾNG ANH 17. Abdulsalam A.A., Ismail H.M., Al-Sultan A.I. (1997). “Electrophysiological Findings in newly diagnosed non insulin-dependent diabetics: a prospective study”, Annals of Saudi Medicine, 17(4), pp.399-401. 18. Adgaonkar A.A., Dawange A.A., Adgaonkar S.A.A., Kale V.G., Shekokar P.P. (2014). “Clinical Profile of peripheral neuropathy in Diabetes Mellitus by Nerve conduction study”, SJAMS, 2(6A), pp. 1973-1977. 19. Adler A.I., Boyko E.J., Ahroni J.H., Stensel V., Forsberg R.C. and Smith D.G. (1997). “Risk factors for diabetic peripheral sensory neuropathy: Results of the Seattle Prospective Diabetic Foot Study”, Diabetes Care, 20(7), pp.1150-1157. 20. Aggarwal S., Tonpay P.S., Trikha S., Bansal A. (2011). “Prevalence of Autonomic Neuropathy in Diabetes Mellitus”, Current Neurobiology, 2(2), pp.101-105. 21. AI-Shamma Y.M.H., Ali-Khudhair S., Ai-Aridie M.A.K. (2011). “ Prevalence of Peripheral Neuropathy in Type 2 Diabetic Patients”, Kufa Med.Journal, 14(2), pp.51-64. 22. Ali Z., Hakim M., Islam M., Bhowmik N. B., Nahar S., Ullah A.A., Haque A. (2008). “Role of Electro-Diagnostic Test in Early Detection of diabetic neuropathy”, Bangladesh Journal of Neuroscience, 24(1), pp.34-44. 23. Amanda I.A., Adward J.B., Jessie H.A. (2003). “Risk factors for Diabetic sensory peripheral neuropathy”, Diabetes care, 20(7), pp.25-35. 24. American Association of Neuromuscular & Electrodiagnostic Medicine (2003). Recommended policy for Electrodiagnostic Medicine, AMA, 13(4), pp.1-16. 25. American Diabetes Association (1999). American Academy of Neurology. Consensus statement: Report and recommendations of the San Antonio conference on diabetic neuropathy, Diabetes Care, 11 (7), pp. 590-595. 26. Aminoff M.J. (2005). Evaluation of the autonomic nervous system, In Michael J Aminoff Editor Electrodiagnosis in Clinical Neurology, 5th edition, Elservier-Churchil Livingstone, pp. 410-420. 27. Anca M., Bajko Z., Adina S., Rodica B.(2012).“Cardiovascular Autonomic Neuropathy and Sensorimotor Polyneuropathy in Type 2 Diabetes Mellitus”, Acta Medica Marisiensis, 58(4), pp.:243-247 28. Anthony A.A., Dumitru D. (2001). Acquired Neuropathies, Clinical Aplications, pp. 937-971. 29. Arif Z.A., Shaikh I.A., Masood N.(2014).“Cardiovascular autonomic neuropathy (CAN) in patients of type 2 diabetes mellitus: A tertiary care hospital based study”, India Heart Journal, 66, pp.751-754 30. Ashok S., Ramu M., Deepa R., Mohan V. (2002). “Prevalence of neuropathy in type 2 diabetic patients attending a diabetes centre in South India”, Japi, 50(2), pp.546-550. 31. Ayyar D.R., Sharma K.R. (2004). Chronic demyelinating polyradiculo- neuropathy in diabetes, Current Diabetes Reports, 4(6), pp.409-412. 32. Bacon C.G., Hu F.B., Giovannucci E., Glasser D.B., Mittleman M.A., Rimm E.B. (2002). “Association of type and duration of diabetes with erectile dysfunction in a large cohort of men”, Diabetes Care, 25, pp.1456-1464. 33. Bahou Y.G. (2007). “A clinical and electrodiagnostic study of diabetic neuropathy at Jordan University Hospital”, Neurosciences,12(3), pp. 215- 220. 34. Balcioglu A.S., Muderisoglu H. (2015). “Diabetes and Cardiac Autonomic Neuropathy: Clinical manifestation, cardiovascular consequences, diagnosis and treatment”, World J Diabetes, 6(1), pp.80-90. 35. Banach M.(2015). “The Utility of Nerve conduction studies in Patients with Diabetic Polyneuropathy”, Family Medicine & Primary Care Review, 17(3), pp. 171-174. 36. Basu A.K., Bandyopadhyay R., Chackrabarti S. (2010). “A Study on The Prevalence of Cardiac Autonomic Neuropathy in Type 2 Diabetes in Eastern India”, JIACM, 11(3), pp.190-194. 37. Bhadata S.K., Sahay R.K., Jyotsna V.P., Agrawal J.K. (2001). “Diabetic Neuropathy: Current Concepts”, Journal, Indian Academy of Clinical Medicine. 2(4), pp.306-316. 38. Brambilla P., Valle E.L., Falbo R., Limonta G. (2011). “ Normal Fasting Plasma Glucose and Risk of type 2 diabetes”, Diabetes care, 34, pp.1372- 1374. 39. Bytzer P., Talley N.J., Leemon M., Young L.J., Jones M.P., Horowitz M. (2001). “Prevalence of gastrointestinal symptoms associated with diabetes mellitus: a population-based survey of 15,000 adults”, Arch Intern Med, 161(2), pp.1990-1995. 40. Cabezas J. (1998). “The Prevalence of Clinical Diabetic Polyneuropathy In Spain: a Study in Primary Care and Hospital Clinic Groups”, Diabetologia, 41, pp.1263-1269. 41. Coppini D.V., Wellmer A., Weng C., Young P.J., Anand P., Sonksen P.H. (2001). “The natural history of diabetic peripheral neuropathy determined by a 12 year prospective study using vibration perception thresholds”, J Clin Neurosci, 8(6), pp. 520-524. 42. Cornblath D.R.(2004). Diabetic Neuropathy: Diagnostic Methods.Advanced Studies in Medicine, 4(8A), pp. S650-S658. 43. Dutta A., Naorem S., Singh T.P., Wangjam K. (2005). “Prevalence of peripheral neuropathy in newly diagnosed type 2 diabetics mellitus”, International Journal of Diabetes in Developing Countries, 25(2), pp.30-33. 44. Dyck P.J. (2003). Severity and staging of diabetic polyneuropathy, In Textbook of Diabetic Neuropathy, pp.170-175. 45. Dyck P.J., Kratz K.M. et al (1993). “The prevalence by staged severity of various of diabetic polyneuropathy, retinopathy and nephropathy in a population-based cohort: The Rochester Diabetic Neuropathy Study”, Neurology , 43(2), pp.820-824. 46. Elbert S.H. et al (2014). “ Rates of Complications and Mortality in Older Diabetes Patients: The Diabetes and Aging Study”, Jama Inter Med, 174(2), pp. 251-258. 47. Elbert S.H., Jennifer Y.L., Howard H.M., Priya M.J., Andrew J.K. (2011). “Glycemic control, complications and Death in Older Diabetic Patients”, 34(2), pp.1329-1335. 48. European Diabetes Policy Group (1999). “A desktop guide to Type 2 diabetes mellitus”, European Diabetes Policy Group, 16, (9), pp.716 -30. 49. Ewing DJ, Campbell IW, Clarke BF(1980). “The natural history of diabetic autonomic neuropathy”, Q J Med, 49,(193), pp.95-105. 50. Ewing DJ, Irving JB, Kerr F, et al (1974). “Cardiovascular responses to sustained handgrip in normal subjects and in patients with diabetes mellitus: a test of autonomic function”, Clin Sci Mol Med, 46(3), pp. 295–306. 51. Fatimah A.B., Aziz N.A., Amaramalar S.N., Azinda F.A.A., Hamid M.Z.A., Norlaila M. (2010). “Risk determinants of Peripheral Neuropathy in Patients with Type 2 Diabetes Attending Follow-Up Clinics at Universiti Kebangsaan Malaysia Medical”, Med & Health, 5(1), pp.34-40. 52. Feng X. et al (2014). “The relationship between Glycemic Variability and Diabetic Peripheral Neuropathy in Type 2 Diabetes with well-controlled HbA1C”, Diabetology & Metabolic Syndrome, 6(139), pp.1-7. 53. Frank B.H. (2011). Globalization of diabetes, the role of diet, lifestyle and genes, Diabetes Care, 34(2), pp.1249-1255 54. Franklin G., Carter G.T. (2009). “Evaluation of distal symmetric polyneuropathy : role of laboratory and genetic testing”, Neurology, 72(3), pp.185-191. 55. Franklin G.M., Kahn L.B., Baxter J., Marshall J.A., Hamman R.F. (1990). “Sensory neuro pathy in non-insulin dependent diabetes mellitus”, The San Luis Valley Diabetes Study. Am J Epidemiol, 131(3), pp.633-643. 56. Franklin G.M., Shetterly S.M., Cohen J.A., Baxter J., Hamman R.F. (1994). “Risk factors for distal symmetric neuropathy in NIDDM”, Diabetes care, 17(10), pp.1172-1177. 57. Gerawarapong C. (2012). “Usefulness of Additional Electrodiagnostic Techniques for Median Neuropathy at Wrist in Patients with Diabetic Polyneuropathy”, Srinagarind Med J , 27(1), pp.58-65. 58. Gill H.K., Yadav V., Ramesh E., Bhatia E. (2014). A prospective study of prevalence and association of peripheral neuropathy in Indian patients with newly diagnosed type 2 diabetes mellitus, 60(3), pp.270-275. 59. Iftikhar M., Hussan A., Rizvi A. (2014). “Frequency of Peripheral Neyropathy in Patients with Diabetes Mellitus”, J Ayub Med Coll Abbottabad, 26(4), pp.584-586. 60. Imada M. et al (2007). “Median-Radial sensory nerve comparative suties in the detection of median neuropathy at the wrist in diabetic patients”, Clinical neurophysiology, 118(6), pp.1406-1409. 61. Janahi N.M., Sci D.H., Bakhiet M. (2015). Diabetic Peripheral Neuropathy: A Common Complication in Diabetic Patients”, Bahrain Medical Bulletin, 37(1), pp.1-9. 62. Jennifer A.T, Dyck P.J.B. (2009). “The spectrum of Diabetic neuropathies”, Phys Med Rehabit Clin N Am, 19(1), pp.1-26. 63. Jun J.E., Jin S.M. et al (2015). “The association between Glycemic Variability and Diabetic Cardivascular Autonomic Neuropathy in Patients with Type 2 Diabetes”, Cardiovascular Diabetology, 14(70), pp.1-9. 64. Kamenov Z., Parapunov R., Georgieva R. (2009). “Incidence of diabetic neuropathy”, J Clin Med , 2, (3), pp.39-48. 65. Kathleen A.H. (2006). “Peripheral neuropathy: pathogenic mechanisms and alternative therapies”, Alternative Medicine Review, 11(4), pp.294-321. 66. Katulada P., Ranasinghe P., Jawardena R., Constantin G. R. (2012). “The prevalence, patterns and predictors of diabetic peripheral neuropathy in a developing country”, Diabetology & metabolic syndrome, 2(4), pp. 2-12 67. Kelkar P. (2005). Diabetic Neuropathy, Semin Neurol, 25(2), pp.168-172. 68. Khatoon N., Kumar B.S., Hazari M.A.H. (2010). “Cardiovascular Autonomic Neuropathy in Patients with Diabetes Mellitus”, International Journal of Pharma and Bio Sciences, 1(3), pp. 1-7. 69. Kimura J(2001). Electrodiagnosis in disease of Nerve and Muscular: principles and practice, Oxford University Press, New York, 3th Edition, pp.70-85, 91-117, 320-335, 339-362, 439-449. 70. Kong X., Lesser E.A., Potts F.A., Gozani S.N. (2008). “Utilization of Nerve Conduction Studies for the Diagnosis of Polyneuropathy in Patients with Diabetes: A Retrospective Analysis of a Large Patients Series”, Journal of Dia, 2(2), pp.268-272. 71. Klein R., Klein B.E.K., Moss S.E. (1996). “Relation of glycemic control to diabetic microvascular complications in diabetes mellitus”, Ann Intern Med, 124(3), pp.90-96. 72. Ladegaard J.(2002). Story of Electromyography Equipment, Muscle NerveSuppl, 11, pp.128-132. 73. Lamontagne A., Buchthal F. (1970). “Electrophysiological studies in diabetic neuropathy”, J. Neurol.Neurosurg, 33(2), pp. 442-452. 74. Liu F., Bao Y., Hu R., Zhang X., Li H., Zhu D., et al (2010). “Screening and prevalence of peripheral neuropathy in type 2 diabetic outpatients : a randomized multicentre survey in 12 city hospitals of China”, Diabetes Metab Rev, 26(6), pp.481-489. 75. Loseth S. (2016). “Small and large neuropathy in those with type 1 and type 2 diabetes: a 5-year follow up study”, Journal of the peripheral nervous system, 21(1), pp.15-21. 76. Lozeron P. et al (2002). “Symptomatic diabetic and non-diabetic neuropathies in a series of 100 diabetic patients”, J Neurol, 249(4), pp.569-575. 77. Maji D.K (2012). Diabetic neuropathy, Medicine Update, 22, pp.294-297. 78. Manjula S.R., Viswabharathi N., Siddhartha K., Neeraja D., Sudhakar D.K. (2015). “Study of Clinical Evaluation of Autonomic Dysfunction in Type 2 DM”, IOSR Journal of Pharmacy and Biological Sciences, 10(1), pp.55-61. 79. Martin C.L et al ( 2006). “Neuropathy among the Diabetes Control and Complications Trial Cohort 8 years after trial completion”, Diabetes Care, 29(2), pp.340-344. 80. Maruthi W., Rao C.R.(2015). “The role of electrodiagnosis in The Evaluation of Subclinical Diabetic Neuropathy”, India J of Apllied research, 8(5), pp. 451-453. 81. Meijer J.W.G., Smit A.J., Sondersen E.V., Groothoff F.W. (2002). “Symptom scoring systems to diagnose distal polyneuropathy in diabetes: the Diabetic Neuropathy Symptom Score”, Diabet Med, 19, pp. 962-965. 82. Mimi O., Teng C.L., Chia Y.C. (2003). “The prevalence of Diabetic Peripheral Neuropathy in an Outpatients Setting”, The Medical Journal of Malaysia, 58(4), pp.2-13. 83. Miralles-Darcia J.M., Pablos-Velasco P., Cabrerizo L., Perez M., Lopez- Gomez V. (2010). “Prevalence of distal diabetic polyneuropathy using quantitative sensory methods in a population with diabetes of more than 10 years’ disease duration”, Elsevier, 57(9), pp.414-419. 84. Mondelli M., Aretini A., Badasseroni A. (2012). “Distal Symmetric Polyneuropathy in Diabetes. Differences between patients with and without neuropathic pain”, Clin endocrinol diatetes, 120(3), pp.45-50. 85. Morkrid K., Ali L., Hussain A. (2010). “Risk factors and prevalence of diabetic peripheral neuropathy: a study of type 2 diabetic outpatients in Bangladesh”, In J Diabetic Dev Ctries, 30 (1), pp.11-17. 86. Morley JE., Asvat MS., Klein C., Lowenthal MN..(1977). “Autonomic neuropathy in black diabetic patients”, S Afr Med J, 52(3), pp. 115–116. 87. Muflih I.W., Abdul-Kareen A.M., Al-Sharify G.A. (2001). “Electrophysiological Assessments of Time-course Effects on Diabetic peripheral Neuropathy and their Correlation to the Current Hypothese”, An Najah Univ, J.Res,15(2), pp.63-79. 88. Muthuselvi., Shanthi M., Ethiya N. (2015). “Comparision of Nerve Conduction Studies in Geriatric Normal and Diabetic Subjects”, IJSR, 4(4), pp. 1084-1086. 89. Mythri S., Rajeev H. (2015). “Left Ventricular Diastolic Dysfunction & Cardiovascular Autonomic Neuropathy (CAN) in Type 2 Diabetes Mellitus (DM): A Cross-Sectional Clinical Study”, Journal of Clinical and Diagnostic Research, 9(1), pp.18-22. 90. Nawazi M.M., Ramesh B., Kumar S.(2015). “Evaluation of symptomatic peripheral neuropathy in Type 2 diabetes mellitus and its correlation with other microvascular complications”, J of Evidence Based Med & Healthcare, 32(2), pp. 4807-4821. 91. Nikolaos P., Paschos P. (2011). “Accuracy of the neuropad test for the diagnosis of diatal symmetric polyneuropathy in type 2 diabetes”, Diabetes Care, 34(4), pp.1378-1382. 92. Oates P.J. (2002). Polyol pathway and diabetic peripheral neuropathy, Int Rev Neurobiol, 50, pp.325-392. 93. Onde M.E, Ozge A. (2008). “The sensitivity of clinical diagnostic methods in the diagnosis of diabetic neuropathy”, 36, pp.63-70. 94. Palumbo P.J, Elveback L.R., Whisman J.P. (1978). “Neurologic complications of diabetes mellitus:transient ischemic attack, stroke and peripheral neuropathy”, Advances in Neurology, 19, pp.593–601. 95. Partanen J., Niskanen L, Lehtien J., et al (1995). “Natural history of peripheral neuropathy in patients with non-insulin-dependent diabetes mellitus”, Nejm ,333,(2) pp. 89-94. 96. Pease W.S., Lew H.L, et al (2007). Johnson’s Pratical Electromyography, Lippincott Williams & Wilkins, Philadenphia, USA, 4th Edition, pp.150-252. 97. Pickup, J.C., G. Williams (1997). The history of diabetes mellitus in Textbook of Diabetes, Blackwell Science, Oxford, pp.23-30. 98. Pirart J. (1977). “Diabetes mellitus and its degenerative complications: a prospective study of 4,400 patients observed between 1947 and 1973”, Diabetes Care, 3, pp.168-188, 253-263. 99. Pop-Busui R., Lu J., Lopes N. (2009). “Prevalence of diabetic peripheral neuropathy and relation to glycemic control therapies at baseline in the BARI 2D cohort”, J Peripher Nerv Syst, 14(1), pp. 1-13. 100. Prasad H.B., Pawar V.B., Kadam D.B.(2014).“Study of Cardiac Autonomic Neuropathy(CAN) and its Correlation with Retinopathy in type 2 Diabetes Mellitus”, IJSR, 11(3), pp.395-399. 101. Prasad N., Pisharody I.K., Karandikar M.S., Diwanji S.A., Raghav P.R.(2015). “Comparative Analysis of Electrophysiological Parameters of Medican Nerve in Normal and Diabetics Subjects”, Indian Medical Gazette, 6, pp. 261-263. 102. Preston D.C., Shapiro B.(2005). Electromyography and Neuromuscular Disorders, Elsevier Saunders, Philadelphia, 2th Edition, pp.161-215,233- 243,389-420. 103. Rahimdel A., Afkhami-Ardekani M., Souzani A., Modaresi M., Mashahiri M.R. (2009). “Prevalence of Sensory Neuropathy in Type 2 Diabetic Patients in Iranian Population (Yazd Province)”, Iranian Journal of Diabetes and Obesity, 1(1):30-35. 104. Rajbhandati S.M. (2005). “A brief review on the pathogenesis of human diabetic neuropathy: observations and postulations”, Int J Diabetes & Metabolism, 13, pp.135-138. 105. Ramavat M.R., Ghugare B.W., Dinka M.R., Krishna N.M.(2012). “Prevalence of Cardiac Autonomic Neuropathy in Patients with Diabetes”, NJIRM, 3(3), pp.15-19. 106. Rathur H.M., Boulton A.J.M. (2005). “Recent advances in the diagnosis and management of diabetic neuropathy”, The Bone & Joint Journal, 12, pp.1605-1609. 107. Rahman S., Zia I.(2004). "Prevalence of microvascular complications among diabetic patients”, Pakistan J Med Res, 43(4), pp. 1-5. 108. Rinku G., Avnish K., Usha D. (2013). “A study of Median Nerve Conduction Velocity in Diabetes Mellitus Type 2 in Neurologically Asymptomatic Patients”, International J, 3(5), pp.42-49. 109. Rodica B., Bajko Z., Smaranda M., Anca M.(2015). “Influence of Risk factors and Complication on Peripheral Nerve Function in Type 2 Diabetes Mellitus”, Acta Medica Marisiensis, 61(1), pp. 40-46. 110. Rota E. et al (2005). “Electrophysiological findings of peripheral neuropathy in newly diagnosed type 2 diabetes mellitus”, J peripher Nerv syst,10, pp.348-350. 111. Sachin G.J., Vawani R., Shilpa B. (2013). “Study of Clinical Electrophysiological Profile of Diabetic Neuropathy”, JEMDS, 2(2), pp. 55- 59. 112. Saha D., Saha K., Basu G. (2014). “ Comparison of Virbratory Quantitative Sensory Testing and Nerve Conduction Studies in Diabetic Peripheral Neuropathic Patinets”, Journal of Medical Sciences, 13 (4), pp.10-13. 113. Said G. (2001). Different patterns of neuropathies in diabetic patients. In Diabetic Neuropathy, Boulton AJM, Ed, Cologne, Aventis, Academy Press, pp.16-21. 114. Said G. (2013). Proximal diabeticneuropathy, In DiabeticNeuropathy, Handb Clin Neurol, 115(1), pp.579-589. 115. Shareef A.A.(2015). “Risk factors that are associated with development and severity of large fiber polyneuropathy in type 2 Diabetics in Saudi Population: A retrospective Case Control Study”, American Journal of Advanced Medical & Surgical Research, 1(1), pp. 44-49. 116. Sharma K.R., Cross J., Farronay O., Ayyar D.R., Shebert R.T., Bradley W.G. (2002). Demyelinating neuropathy in diabetes mellitus, Arch Neurol, 59, pp.758-765. 117. Sharpey-Schafer EP, Taylor PJ(1960). “Absent circulatory reflexes in diabetic neuritis”, Lancet 1(7124), pp.559-562. 118. Singh J. (2014). Pathogenesis of painful diabetic Neuropathy, Pain Res Treat, volume 2014, ID 412041, p1-7, pp.1-7. 119. Skljarevski V. (2007). Historical Aspects of Diabetic Neuropathies:Diabetic Neuropathy, Clinical Diabetes, 1, pp.2-15. 120. Sobhani S., Asayesh H., Sharifi F., Djalalina S., Baradaran H.R. et al (2014). “ The Prevalence of Diabetic Periphearl Neuropathy In Iran: a Systematic Review and Meta-analysis”, Journal of Diabetes & Metabolic Disorders, 13(97), pp.1-7. 121. Soheiykhal S., Rashidi M. et al (2013). “ Prevalence of Peripheral Neuropathy in Diabetic Patients”, Iranian Journal of Diabetes and Obesity, 5(3), p.107-112. 122. Sternberg T.L. (2005). “Diabetic peripheral neuropathy:current concepts and Treatment”, Northeast Florida Medicine, pp.23-25. 123. Sumner C.J., Sheth S., Griffin J.W., Cornblath D.R., Polydefkis M. (2003). “The spectrum of glucose of neuropathy in diabetes and impaired glucose tolerance”, Neurology, 60(1), pp.108-111. 124. Swash M, Schwartz MS(1981). Neuromuscular disease, Springer Verlaq, New York, pp.125-136. 125. Tabatabaei-Malazy O., Mohajeri-Tehrani M.R., Madani S.P., Heshman R., Larjiani B. (2011). “The prevalence of diabetic peripheral neuropathy and related Factors”, Iran J Public Health, 40(3), pp.55-60. 126. Taksande B., Ansari S., Jaikishan A., Karwasara V. (2011). “The Diagnostic sensitivity, specificity and reproducibility of the clinical physical examination signs in patients of Diabetes mellitus for making Diagnosis of Peripheral neuropathy”, Endocrinol Metab, 1(1), pp. 21-26. 127. Tesfaye S. (2004). Epidemiology and Etiology of Diabetic Peripheral Neuropathies, Advanced Studies in Medicine, 4(10G), pp. S1014-S1020. 128. Tesfaye S., Boulton A.J.M. (2010). Diabetic neuropathies: Update on Definition, Diagnostic Crieria, Estimation of severity and Treatments, Diabetes Care, 33(10), pp.2285-2291. 129. Tesfaye S., Stevens L.K. et al (1996). “Prevalence of diabetic peripheral neuropathy and its relation to glycemic control and potential risk factors: the Eurodiab IDDM complication study”, Diabetologia, 39, p.1377- 1386. 130. Tesfaye S., Chaturvedi N., Eaton S.E. et al (2005). Vascular risk factors and diabetic neuropathy, N Engl J Med, 352(4), p.341-350. 131. The United States of Diabetes (2010). Challenges and opportunities in the decade ahead, United Helth Group, pp.4-50. 132. Thomas PK, Eliasson SG(1984). Peripheral Neuropathy, Edited by Dyck PJ, Thomas PK, Lambert EH, Bunge RWB, Philadelphia Saunders, pp.1773-1783. 133. Thomas P.K. (1997). Classification, differential diagnosis and staging of diabetic peripheral neuropathy, Diabetes Care, 46( 2), pp.S54-S57. 134. Thomas P.K. (2003). Classification of the diabetic neuropathies. In Textbook of Diabetic Neuropathy, Gries, F.A., N.E. Cameron, P.A. Low, D. Ziegler, Eds. Stuttgart, Thieme, pp.175-177. 135. Umapathi T. (2013). 4th Autonomic Workshop. In Neurodiagnostic Workshop EMG-EEG Autonomic Tests, National Neuroscience Institute, pp.9-32. 136. Veglio M, Sivieri R(1993). “ Prevalence of neuropathy in IDDM patients in Piemonte, Italy. The neuropathy Study Group of the Italian Society for the Study of Diabbetes, Piemonte Affiliate”, Diabetes Care, 16, (2), pp.458- 460. 137. Vinik A., Mehrabyan A., Colen L., Boulton A.J.M. (2004). Focal entrapment neuropathies in diabetes (Review), Diabetes Care, 27, pp.1783- 1788. 138. Vinik A.I., Casellini C. (2013). Diabetic Neuropathy, Endocrinol Medtab Clin N Am, 42(2), pp.747-780. 139. Vinik A.I., Pittenger G.L., McNitt P., Stansberry G. (2000). Diabetic neuropathies: an overview of clinical aspects, pathogenesis, and treatment, In: LeRoith D, Taylor SI, Olefsky JM, eds. Diabetes Mellitus. Philadelphia, PA: Lippincott William & Wilkins, pp.911-934. 140. Vinik A.L., Maser R.E., Mitchell B., Freeman R. (2003). Diabetic autonomic neuropathy: a technical review, Diabetes Care, 26, pp.1553- 1579. 141. Vinik A.I., Park T.S., Stansberry K.B., Pittenger G.L. (2000). Diabetic neuropathies, Diabetologia, 43(8), pp.957-973. 142. Vuckoviv S., Barada A., Smircic-Duvnjak L. (2013). Diabetic Autonomic Neuropathy, Diabetologia Croatica, 42(3), pp.73-79. 143. Watanabe M. et al (2013). “ Effects of lifestyle education program for type 2 diabetes patients in clinics: a cluster randomized control trial”, BMC Public Health, 13, pp.467-480. 144. Weerasuriya N., Siribaddana S., Wijiweera K., Dissanayek A., Wujisekara J. (1998). “The prevalence of peripheral neuropathy in newly diagnosed patient with non-insulin dependent diabetes mellitus”, Ceylon Med J, 43, pp.19-21. 145. WHO (1999). Consultation. Definition, Diagnosis and Classification of Diabetes Mellitus and its complications, Part 1: Diagnosis and classification of diabetes mellitus, Genava, pp, 1-11. 146. Wilbourn A.J. (1999). Diabetic entrapment and compression neuropathies, Diabetic Neuropathy, Philadelphia, Saunders, pp.481-508. 147. Xueli Z, Baidi Z, Guoxian H, et al ( 1981). “ Peripheral and autonomic nerve function tests in early diagnosis of diabetic neuropathy:correlation between motor nerve conduction velocity and fasting plasma glucose”, Chinese Med J, 94(8), pp. 495-502. 148. Young M.J., Boulton A.J., MacLeod A.F., William D.R., Sonksen P.H. (1993). “A multicenter study of the prevalence of diabetic peripheral neuropathy in the United Kingdom hospital clinic population”, Diabetologia, 36(2), pp.150-154. 149. Ziegler D., Gries FA., Spuler M., Lessmann F.(1992). “Diabetic Cardiovascular Autonomic Neuropathy Multicenter Study Group: The epidemiology of diabetic neuropathy”, J Diabetes Complications, 6(1), pp.49-57.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_cac_dac_diem_lam_sang_va_mot_so_bat_thuong_dien_sinh_ly_than_kinh_o_benh_nhan_dai_thao_du.pdf
Luận văn liên quan