Luận văn Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh tiểu học Đà nẵng và một số biện pháp khắc phục

Tiếp theo, đã đến lúc làm mới lại chương trình đào tạo cũng như tài liệu học tập theo định hướng mới, phù hợp với HS và đáp ứng được các yêu cầu của nền giáo dục hiện đại. Trong đó, lấy HS làm trung tâm và GV đóng nhiều vai trò khác nhau: người hướng dẫn, cố vấn, nhà nghiên cứu khoa học và có khi là một người bạn. Việc tạo ra một môi trường tiếng tự nhiên để các em có điều kiện thực hành tiếng và rèn luyện các kĩ năng giao tiếp cũng là một biện pháp hữu hiệu làm giảm nguy cơ mắc lỗi ở các em.

pdf26 trang | Chia sẻ: ngoctoan84 | Ngày: 18/04/2019 | Lượt xem: 297 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh tiểu học Đà nẵng và một số biện pháp khắc phục, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN THỊ LINH PHƯƠNG KHẢO SÁT LỖI PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC Mã số: 60. 22. 01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Xà HỘI VÀ NHÂN VĂN Đà Nẵng - 2013 Công trình được hoàn thành tại ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Người hướng dẫn khoa học: TS. Trương Thị Diễm Phản biện 1: PGS. TS. Hoàng Tất Thắng Phản biện 2: TS. Dương Quốc Cường Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Xã hội và Nhân văn họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 25 tháng 05 năm 2013. Có thể tìm hiểu luận văn tại: - Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng - Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dạy và học tiếng Anh từ lâu đã rất phổ biến trong nhà trường Việt Nam. Đặc biệt, gần đây, với Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 (gọi tắt là Đề án 2020), Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD - ĐT) đã đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếng Anh hiện đã được đưa vào giảng dạy từ cấp tiểu học trở lên nên việc dạy tiếng Anh như thế nào để đạt hiệu quả cao là một đòi hỏi hết sức bức thiết. Việc đảm bảo chất lượng dạy và học tiếng Anh ở bậc tiểu học là vô cùng quan trọng và giáo viên (GV) là người giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giảng dạy, giúp các em có hứng thú với giai đoạn đầu của quá trình học tập. Tiếng Anh và tiếng Việt là hai ngôn ngữ không cùng loại hình và ngữ hệ nên có sự khác biệt khá lớn. Vì vậy, ở giai đoạn đầu của quá trình học tiếng Anh, phát âm chuẩn là rất cần thiết. Với tâm huyết của một GV dạy tiếng Anh cấp tiểu học, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh tiểu học Đà Nẵng và một số biện pháp khắc phục. Mong muốn của chúng tôi là góp phần cải thiện vấn đề lỗi và sửa lỗi cho học sinh (HS). 2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn này chỉ khảo sát lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh của HS. Hơn nữa việc khảo sát chỉ tiến hành ở một số trường tiểu học Đà Nẵng và chỉ nghiên cứu lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh trong những từ tách rời riêng lẻ chứ không nằm trong ngữ lưu. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng mà luận văn chúng tôi quan tâm là lỗi phát âm NÂ, P trong từ (trích dẫn) tiếng Anh của HSTH Đà Nẵng (cụ thể là của HS lớp 4, 2 lớp 5 - giai đoạn mới bắt đầu học tiếng Anh, nằm trong độ tuổi từ 9-10 tuổi). 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Xác định các dạng lỗi phát âm NÂ, P HSTH thường mắc phải. - Phân tích các nguyên nhân gây lỗi dựa trên những đặc điểm của hệ thống NÂ, P tiếng Anh, tiếng Việt và đưa ra các giải pháp sửa lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh phù hợp với HSTH. 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp so sánh, đối chiếu - Phương pháp khảo sát thực tế, mô tả và phân tích - Phương pháp định lượng, định tính - Phương pháp lý luận dạy học 5. Bố cục đề tài Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 3 chương với nội dung như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài Chương 2: Khảo sát các dạng lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh Chương 3: Các nguyên nhân gây lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh tiểu học Đà Nẵng và một số biện pháp khắc phục 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ở nước ngoài, đã có nhiều công trình nghiên cứu, phân tích về lỗi của người học tiếng Anh như: Norris, J; Corder, S. P.... Trong giảng dạy tiếng Anh, có khá nhiều tác giả quan tâm như: Phan Quang Bảo, Nguyễn Thị Phúc Hoa, Nguyễn Văn Phúc, Lê Thị Minh Trang , Dương Bạch Nhật, Trần Thị Mai Đào, Phan Thúy Phương ... Đa số những công trình đều khẳng định vấn đề phát âm tiếng Anh chiếm một vị trí quan trọng trong quy trình dạy tiếng Anh. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chỉ dừng lại ở việc khảo sát lỗi phát âm ở phụ âm (PÂ) của HS từ cấp phổ thông cơ sở trở lên chứ chưa có tác giả nào đề cập đến lỗi phát âm nguyên âm (NÂ) lẫn P dành cho học sinh tiểu học (HSTH). 3 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. NGUYÊN ÂM (NÂ) 1.1.1. Khái niệm và phân loại N a. Khái niệm b. Phân loại 1.1.2. Hệ thống N tiếng Anh a. Phân loại và miêu tả N tiếng Anh b. Mối quan hệ giữa âm vị N tiếng Anh và chữ viết 1.1.3. Hệ thống N tiếng Việt a. Phân loại và miêu tả N tiếng Việt b. Mối quan hệ giữa âm vị N tiếng Việt và chữ viết 1.2. PHỤ ÂM (PÂ) 1.2.1. Khái niệm và phân loại P a. Khái niệm b. Phân loại 1.2.2. Hệ thống âm vị P tiếng Anh a. Phân loại và miêu tả P tiếng Anh b. Mối quan hệ giữa âm vị P tiếng Anh và chữ viết 1.2.3. Hệ thống P tiếng Việt a. Phân loại và miêu tả P tiếng Việt b. Mối quan hệ giữa âm vị P tiếng Việt và chữ viết 1.3. SỰ THỂ HIỆN CỦA HỆ THỐNG ÂM VỊ NÂ, P Ở TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG ĐÀ NẴNG 1.3.1. Quy ước về hệ thống âm vị chuẩn 1.3.2. Giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Đà Nẵng 4 1.4. NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG, DỊ BIỆT CỦA HAI HỆ THỐNG NÂ, P TIẾNG ANH VÀ NHỮNG KHẢ NĂNG MẮC LỖI CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG Sự khác biệt giữa hai hệ thống NÂ, P tiếng Anh và tiếng Việt là ở chỗ: Hệ thống P đầu tiếng Việt gồm 22 âm vị P và hệ thống P cuối gồm 6 âm vị PÂ. Trong khi đó, tiếng Anh có 24 âm vị P và chúng có thể xuất hiện cả ở vị trí đầu hoặc cuối từ. Như vậy, số lượng âm vị P xuất hiện ở vị trí cuối trong tiếng Anh sẽ nhiều hơn trong tiếng Việt. Hơn nữa, các âm vị cuối của tiếng Việt đều là các âm đóng - tức trong cấu âm không có giai đoạn xả, còn trong cách cấu âm của P tiếng Anh hầu như đều có giai đoạn xả. Chính sự khác biệt này đã trở ngại cho việc học phát âm tiếng Anh. Theo chúng tôi, HS Việt Nam nói chung và HSTH Đà Nẵng nói riêng sẽ mắc lỗi khi phát âm các P ở vị trí cuối. Tuy khác nhau về số lượng cũng như đặc trưng ngữ âm của các P ở từng vị trí nhưng cả hai hệ thống P đều có những âm vị được coi là "tương đương”. Những âm vị /b, t, d, s, z, k, f, v, m, n, ø, l/ được coi là tương đương giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt, còn những âm vị /tS, dZ, T, D, Z, S, r, p, g/ có trong tiếng Anh nhưng không có trong tiếng Việt. Như vậy, HS Việt Nam học tiếng Anh sẽ gặp khó khăn trong việc phát âm các âm vị trên. Tuy những âm vị /tS, dZ, T, D, Z, S, r, p, g/ của tiếng Anh không có trong tiếng Việt nhưng trong tiếng Việt phổ thông cũng như tiếng địa phương Đà Nẵng có một số âm vị như /b, F, §, ½, r/ có vị trí cấu âm gần giống với cách cấu âm của những âm vị tiếng Anh nêu trên. Cụ thể: - /b/ là âm tắc môi HT, còn /p/ là âm tắc môi VT. - /F/ là âm xát mạc, /g/ là âm tắc mạc. 5 - /§/ là âm quặt lưỡi (còn gọi là âm đầu lưỡi - ngạc), /S/ là âm xát lợi mạc (còn gọi là âm lưỡi trước - ngạc). - /½/ là âm xát quặt lưỡi (còn gọi là âm đầu lưỡi - ngạc), /Z/ là âm xát lợi - ngạc (mặt lưỡi trước - ngạc). Với đặc điểm cấu âm gần giống nhau của các âm vị nói trên thì việc học sinh dùng cách phát âm của tiếng mẹ đẻ để phát âm các P tiếng Anh là không tránh khỏi. Một đặc điểm khác biệt nữa là các âm vị P tiếng Anh có thể đứng liền nhau tạo thành từng cụm 2, 3 P trở lên, trong khi đó các âm vị P tiếng Việt không có đặc điểm này. Một số cách ghép 2 hay 3 con chữ như: tr, ch, nh, ngh... trong tiếng Việt chỉ là sự thể hiện bằng chữ của một âm vị mà thôi. Vì vậy, HS Việt Nam luôn có vấn đề với các cụm PÂ, đặc biệt với các em HSTH đọc còn ê a nên khi đọc các cụm P trong tiếng Anh thường có xu hướng kéo dài ra. CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC DẠNG LỖI PHÁT ÂM NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM TIẾNG ANH 2.1. THỰC TRẠNG DẠY PHÁT ÂM TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG 2.2. CĂN CỨ XÁC ĐỊNH LỖI PHÁT ÂM NÂ, P TIẾNG ANH Để xác định lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh của HSTH, chúng tôi chọn cách phát âm được sử dụng trong cuốn từ điển “The Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English ” của A.S Hornby (2010) vì tính phổ biến và hiệu quả của nó và cũng vì cách phát âm này đại diện cho cách phát âm chuẩn RP (Received Pronunciation). 2.2.1. Xây dựng các dạng trắc nghiệm để khảo sát lỗi 2.2.2. Danh sách các từ thử ở dạng trích dẫn 6 2.2.3. Vấn đề chọn đối tượng để khảo sát 2.2.4. Các bước tiến hành thu thập tài liệu về lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh Bước 1: Xây dựng bảng từ thử và các phiếu điều tra dành cho HS Bước 2: Tiến hành điều tra thực tế - Chọn đối tượng - Phát phiếu điều tra học sinh - Phát bảng từ thử - Thu âm Bước 3: Phân tích định lượng và định tính 2.3. LỖI PHÁT ÂM NÂ, P TIẾNG ANH 2.3.1. Khái niệm về lỗi phát âm 2.3.2. Phân loại các dạng lỗi 2.3.3. Một số lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh Bảng 2.1 Bảng tổng hợp tần số xuất hiện của lỗi phát âm NÂ, P tiếng Anh TT Tên âm vị Tần số xuất hiện lỗi Tổng số âm vị Tỉ lệ % Xếp hạng 1 N đơn 156 400 39% 5 2 N đôi 129 350 37% 6 3 P đơn ở vị trí đầu từ 208 400 52% 3 4 P đơn ở vị trí cuối từ 324 550 59% 2 5 Cụm 2 P 778 1300 60% 1 6 Cụm 3 P 230 500 46% 4 Bảng thống kê cho thấy, hơn một nửa HS mắc lỗi phát âm các P đơn ở vị trí đầu từ và cuối từ. Một điều nữa cũng đáng chú ý là tần số xuất hiện các lỗi ở cụm 2 P còn khá cao (60%) và tiếp theo đó là lỗi phát âm P đơn xuất hiện ở vị trí cuối từ (59%). 7 a. Lỗi phát âm N đơn Bảng 2.2 Bảng tổng hợp tần số xuất hiện của lỗi phát âm N đơn TT Âm vị Lỗi phát âm Tần số xuất hiện lỗi Tỉ lệ % Xếp hạng 1 /I:/ /I/ 21 42% 5 2 /æ/ /a:/ /e/ 17 18 50% 3 3 /a:/ /a/ 8 16% 8 4 /:/ // 27 54% 2 5 // /ʌ/ 9 18% 7 6 /U:/ /U/ 24 48% 4 7 /Î:/ /«/ /ʌ/ 23 7 60% 1 8 /ʌ/ /«/ 10 20% 6 Âm vị /Î:/ tỉ lệ mắc lỗi lên đến 60% và âm vị /:/ chiếm 54% với dạng lỗi phổ biến là phát âm thành các N ngắn. Điều này có thể được giải thích một phần là do các em chưa được luyện cách uốn lưỡi đối với các N dài và tròn môi. Một nguyên nhân nữa có thể kể đến là do giao thoa tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ. Tương tự như vậy đối với N dài /U:/, 48% số em phát âm nhầm qua âm ngắn; 42% số em không thể tạo ra được trường độ đúng của âm /I:/ và kết quả là 21 em phát ra âm /I/. Đối với trường hợp N dài còn lại /a:/, có 16% đối tượng không thể nhả âm đúng vị trí và nhầm qua âm /a/. Đáng lưu ý là một nửa trong các em HS còn khá bỡ ngỡ với âm /Q/ và kết quả cho thấy có 17 em nhầm nó với âm /a:/ và 18 em đã nhả thành âm /e/. Qua nhiều năm giảng dạy và học tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy rằng, rất khó để phát âm đúng âm vị /Q/. Đây là N bẹt và được xem là N trung gian giữa /a:/ và /e/, do vậy, khi phát âm cần phải chú ý đến vị trí của lưỡi và độ mở của miệng. 8 b. Lỗi phát âm N đôi: Bảng 2.3 Bảng tổng hợp tần số xuất hiện của lỗi phát âm N đôi TT Tên âm vị Lỗi phát âm Tần số xuất hiện lỗi Tỉ lệ % Xếp hạng 1 /ei/ /e/ 22 44% 1 2 /«U/ /ɔ/ /au/ 3 10 26% 7 3 /aI/ / ɔ:i/ /i/ 9 12 42% 2 4 /aU/ /«u/ 18 36% 5 5 /I«/ /e«/ 20 40% 3 6 /e«/ /ai/ 16 32% 6 7 /U«/ /au/ 19 38% 4 Có thể nói rằng, hầu hết các N đôi trong TA đều có ở hệ thống ngữ âm tiếng Việt, ngoại trừ /e«/, có thể được cho là âm kết hợp giữa hai N đơn /e/ và /«/. Số lượng HS phát âm đúng N đôi này so với các âm còn lại là không nhiều (đứng thứ 6). Thực ra, ở một số địa phương như Quảng Nam và các khu vực lân cận, đa phần âm /aI/ đều được chuyển thành âm /e«/, tạo thành nét đặc trưng của tiếng địa phương. Chính vì lí do này, một số em thuộc khu vực nói tiếng Đà Nẵng gốc luôn nghĩ rằng âm /e«/ là không có trong hệ thống ngữ âm và phải được phát âm đúng là /aI/. Do vậy, có 16 em đã phát âm [he«] thành [haI]. Vậy, có thể đặt vấn đề rằng tiếng địa phương thật sự có ảnh hưởng nhất định đến việc phát âm tiếng Anh. Trong số các lỗi phát âm N đôi được tìm thấy, /eI/ là âm đứng đầu về tần số xuất hiện của lỗi. Trong số 21 đối tượng này có 9 em không thể phân biệt được âm /aI/ và /:I/ và 12 em còn lại nhầm lẫn giữa N này và N đơn /I/. Rõ ràng, một số em có khuynh hướng tròn môi và hay xen âm // vào trước các N khác nên không thể phát âm chuẩn xác được. 9 c. Lỗi phát âm P đơn ở vị trí đầu từ Bảng 2.4: Bảng tổng hợp tần số xuất hiện của lỗi phát âm P đơn ở vị trí đầu từ TT Tên âm vị Lỗi phát âm Tần số xuất hiện lỗi Tỉ lệ % Xếp hạng 1 /p/ /b/ 26 52% 4 2 /T/ /t’/ 32 64% 2 3 /D/ /z/ /j/ 20 15 70% 1 4 /S/ /s/ 21 42% 7 5 /Z/ /s/ /z/ 14 15 58% 3 6 /z/ /j/ 24 48% 5 7 /tS/ /c/ 16 33% 8 8 /dZ/ /t/ /t∫/ 10 13 46% 6 Có đến 64% HS nhầm lẫn âm /θ/ với /t’/ vì hai âm này đều là âm bật hơi nhưng trong tiếng Anh, âm /θ/ phải được bật hơi mạnh để luồng hơi thoát ra khỏi miệng nhất là khi nó ở vị trí đầu từ. Về vị trí cấu âm, đây là âm giữa răng, khi phát âm phải đặt lưỡi và giữa 2 hàm răng rồi rút về. Trong khi ở tiếng Việt, âm /t’/ không được bật hơi như vậy vì đây là âm đầu lưỡi - lợi. Sự khác nhau này dẫn đến việc có đến 32 em nhả âm như tiếng Việt. /D/và /θ/ đều là âm giữa răng, các âm này không có trong tiếng Việt. Xu hướng chung khi phát âm hai âm này, người học có xu hướng không thực hiện động tác đặt lưỡi vào giữa răng mà chỉ để lưỡi chạm chân răng. Vì vậy, /θ/ nhập vào /t’/ và /D/ nhập vào /z/. Hai P tắc - xát là /t∫/ và /dʒ/ được đưa vào hai từ thử dưới sự thể hiện của hai từ “child” và “job”. Hai âm vị này được tạo thành nhờ sự chuyển động của lưỡi chạm vào ngạc giữa. Có 13 em nhầm lẫn âm /dʒ/ và /t∫/, có lẽ vì cơ chế cấu âm của chúng khá giống nhau, chỉ có nét khu biệt là /dʒ/ là âm HT trong khi đó /t∫/ là âm VT. 10 em còn lại cho ra âm /ÿ/. Tương tự, có 16 em (33%) nhận thức được vị trí cấu tạo âm /t∫/, nhưng không thể bật hơi và kết quả thu âm cho thấy, các em đã nhả âm theo kiểu giống với âm /c/ của tiếng Việt. 10 d. Lỗi phát âm P đơn ở vị trí cuối từ Bảng 2.5: Bảng tổng hợp tần số xuất hiện của lỗi phát âm P đơn ở vị trí cuối từ TT Tên âm vị Lỗi phát âm Tần số xuất hiện lỗi Tỉ lệ % Xếp hạng 1 /t/ không nhả âm /tə/ /s/ 17 9 5 62% 7 2 /d/ không nhả âm /də/ 20 14 68% 4 3 /k/ không nhả âm /kə/ /s/ 11 16 6 66% 5 4 /f/ không nhả âm /fə/ 20 15 70% 3 5 /v/ không nhả âm /və/ 18 4 44% 10 6 /T/ không nhả âm /θə/ /s/ 29 6 4 78% 2 7 /D/ không nhả âm /sə/ /∫/ 8 15 3 52% 9 8 /S/ không nhả âm /∫ə/ /s/ 9 7 17 68% 5 9 /tS/ không nhả âm /t∫ə/ /s/ 16 12 3 62% 7 10 /l/ không nhả âm /lə/ 25 15 82% 1 11 Trong tiếng Việt, âm vị làm âm cuối không được phát âm rõ. Trong khi đó, khi phát âm một từ tiếng Anh, chẳng hạn từ “box”, ta có thể dễ dàng nghe được âm vị /s/ ở cuối luồng phát âm. Tuy nhiên, các em HSTH do vẫn còn đang làm quen với cách đánh vần “bờ”, “cờ”, “chờ” nên đã dẫn tới việc nhiều em dù nhận thức được sự có mặt của P cuối, vẫn không thể nhả âm đúng, đặc biệt là đối với các âm cuối /k/, /s/, /f/, /d/ và /t∫/. Vì /s/ là một trong những âm vị khá phổ biến trong tiếng Anh, rất nhiều em ý thức được việc phát âm P này; do vậy việc bỏ âm đối với âm vị /s/ ở vị trí cuối từ ít xảy ra. Nhưng cũng chính vì lí do này, rất nhiều mắc lỗi thêm âm vị /s/ vào vị trí cuối âm tiết. e. Lỗi phát âm cụm hai P Bảng 2.6: Bảng tổng hợp tần số xuất hiện lỗi phát âm cụm 2 P ở vị trí đầu từ TT Tên âm vị Lỗi phát âm Tần số xuất hiện lỗi Tỉ lệ % Xếp hạng 1 /pr/ /pər/ /p/ 25 7 64% 2 2 /br/ /bər/ 29 58% 5 3 /tr/ /t/(tr) 35 70% 1 4 /dr/ /dər/ 30 60% 4 5 /kr/ /kər/ 27 54% 8 6 /gr/ /gər/ 29 58% 5 7 /fr/ /fər/ 23 46% 11 8 /pl/ /pə/ 20 40% 16 9 /bl/ /bəl/ 18 36% 17 10 /cl/ /cəl/ 22 44% 13 11 /gl/ /gəl/ 20 44% 13 12 /fl/ /fəl/ 18 36% 17 13 /sk/ /sək/ 27 54% 8 12 14 /sp/ /səp/ 29 58% 5 15 /st/ /sə tə/ /sp/ 25 6 62% 3 16 /sm/ /sə mə/ 15 30% 19 17 /sn/ /sə nə/ 24 48% 10 18 /sl/ /sə lə/ 23 46% 11 19 /sw/ /sə w/ 22 44% 13 Dạng lỗi này được tìm thấy phổ biến nhất ở các cặp âm tr, pr, st, dr, gr, br và sp với tỉ lệ mắc lỗi chiếm trên 50%. Tiếp sau đó tần số xuất hiện lỗi ở các cặp P sk, kr, sn, sl, cl, gl và sw chiếm khoảng trên dưới 40%. Trên thực tế sự kết hợp 2 P liên tiếp trong cùng 1 âm tiết trong tiếng Anh hoàn toàn khác xa so với hệ thống ngữ âm tiếng Việt. Do vậy, các đối tượng không thể nhả âm tốt hầu hết các cặp PÂ. Hơn nữa, như chúng tôi đã đề cập, các em HSTH đa số vẫn còn có thói quen đọc ê a từng con chữ đơn, dẫn đến việc các em phát âm cụm 2 P thành 2 âm tiết đơn lập. Bảng 2.7: Bảng tổng hợp tần số xuất hiện của lỗi phát âm cụm hai P ở vị trí cuối từ TT Tên âm vị Lỗi phát âm Tần số xuất hiện lỗi Tỉ lệ % Xếp hạng 1 /sk/ /s/ /k/ 27 19 92% 4 2 /st/ /s/ ø 37 6 86% 6 3 /pl/ /b/ /p/ 29 15 88% 5 4 /bl/ /b/ 48 96% 2 5 /kl/ /k/ 47 94% 3 6 /gl/ /g/ 49 98% 1 13 Kết quả phân tích định lượng cho thấy chưa đến 10% các em HS có khả năng phát âm tốt các P đôi ở vị trí cuối từ. Tất cả các đối tượng đều mắc lỗi bỏ bớt P đôi thứ hai. f. Lỗi phát âm cụm 3 P Nếu ở cụm 2 PÂ, các em có xu hướng chuyển âm vị đầu tiên thành âm tiết bằng cách thêm âm tố [«] như /s/ thành /s«/ hay /p/ thành /p«/ thì ở cụm 3 P các em cũng áp dụng phương thức tạo âm như vậy. Bảng 2.8: Bảng tổng hợp tần số xuất hiện của lỗi phát âm cụm 3 P TT Tên âm vị Lỗi phát âm Tần số xuất hiện lỗi Tỉ lệ % Xếp hạng 1 /spl/ /səpəl/ 42 84% 2 2 /spr/ /səpər/ 42 84% 2 3 /str/ /sət/ 46 92% 1 4 /scr/ /səkər/ 40 80% 4 Tỉ lệ mắc lỗi cao nhất diễn ra khi các em phát âm cụm 3 âm vị /str/. Đối với cụm P này, có đến 46 em chuyển âm vị /s/ thành âm tiết /s«/ và tự mình đồng hóa phụ âm đôi /tr/ thành /t/ như trong tiếng Việt. CHƯƠNG 3 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY LỖI PHÁT ÂM PHỤ ÂM, NGUYÊN ÂM TIẾNG ANH VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHĂC PHỤC 3.1. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY LỖI 3.1.1. Nguyên nhân chủ quan a. Lỗi do tâm lí người học Việc học tiếng Anh ở bậc tiểu học ít có ý thức tự giác mà hoàn toàn thụ động. Trong khi đó, một phần cũng là do tâm lí của rất nhiều phụ huynh cho rằng việc học tiếng Anh ở bậc tiểu học chưa thật sự cần thiết. Do vậy, các phụ huynh không khuyến khích và cũng ít quan tâm nhắc nhở con em, làm cho chúng có phần chủ quan. 14 Theo chúng tôi, một lí do nữa phải kể đến là việc một số GV vẫn còn áp dụng phương pháp giảng dạy ngoại ngữ theo kiểu “truyền thống”, chỉ chú trọng đến ngữ pháp, ngữ nghĩa. Điều này cũng khiến cho HS thói quen chỉ chú ý đến nghĩa mà ít quan tâm đến kĩ năng nghe, nói và phát âm. Phương pháp này dần được thay đổi trong những năm gần đây nhưng chưa thật sự đạt được kết quả đáng kể. b. Lỗi do hoạt động luyện tập chưa đúng đắn Bản thân các em còn quá nhỏ nên tự mình chưa thể ý thức được tầm quan trọng của việc luyện tập thường xuyên và một phần cũng là vì các em vẫn chưa thật sự say mê và hứng thú với bộ môn tiếng Anh. Thực tế trên lớp, GV có dạy phát âm nhưng khi kiểm tra bài cũ, hầu như chỉ yêu cầu các em viết được từ đó và nắm được nghĩa của từ mà không kiểm tra liệu HS có phát âm đúng hay không. Điều này cũng tạo ra tâm lí chủ quan và không khuyến khích các em luyện tập thường xuyên ở nhà. Hơn nữa, mặc dù các bài thi ngày càng được chú trọng cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết nhưng thiên về kĩ năng viết nhiều hơn. GV thường ít chú ý đến thực hành miệng của HS. Vì thế, các em chỉ tập trung học để đạt kết quả trong thi cử, kiểm tra mà ít chú ý đến vấn đề phát âm. 3.1.2. Nguyên nhân khách quan a. Lỗi do ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ Sự can thiệp của tiếng mẹ đẻ có thể gây trở ngại cho người học khi tiếp cận với một ngôn ngữ mới; dẫn tới việc mắc lỗi. Theo Dulay và Burt (1974), các lỗi về cấu trúc và ngữ âm được tìm thấy ở giai đoạn đầu học ngoại ngữ phần nhiều là do ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ. Ngoài ra, còn một nguyên nhân quan trọng khác làm cho các em HSTH mắc lỗi nhiều là do sự khác biệt khá lớn giữa tiếng Anh và tiếng Việt. b. Từ phương thức dạy và học ngoại ngữ Thực tế cho thấy, phần lớn GV dạy ngoại ngữ ở tiểu học vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống: sử dụng phấn trắng, bảng đen, 15 hoàn toàn lấy giáo viên làm trung tâm và chú trọng đến việc học thuộc lòng. Các hoạt động luyện tập chủ yếu là có nhiều hướng dẫn, còn các hoạt động trong bước sản sinh thì thiếu hụt. Trong giờ dạy GV ít chú ý đến hoạt động thực hành giao tiếp, đặc biệt ít cho HS tiếp cận với giọng nói thực của người bản ngữ. Hình thức kiểm tra được sử dụng thường do GV phụ trách lớp đảm nhiệm nên còn thiên về viết mà ít chú trọng đến thực hành miệng. c. Từ phía môi trường Hiện nay, việc dạy ngoại ngữ ở bậc tiểu học hầu hết đều do các GV người Việt đảm nhiệm. Mặc dù đội ngũ GV này đều đã tốt nghiệp ĐHSP hay CĐSP nhưng kĩ năng phát âm chưa thật sự chuẩn xác. Do vậy, các em HS đã thiếu hẳn một môi trường tiếng tự nhiên để thực hành và rèn luyện kĩ năng. Đã vậy, các GV cũng ít tạo ra môi trường tiếng thật sự khi sử dụng rất ít tiếng Anh trong giờ dạy, ngay cả các chỉ dẫn đơn giản. Một trở ngại nữa cần đề cập đến là số lượng HS trong một lớp thường rất đông – khoảng trên dưới 40 HS trên một lớp. Với số lượng đông như vậy cùng với cách tổ chức lớp học theo kiểu dạy truyền thống: GV giảng bài, HS lắng nghe và ghi bài gây trở ngại cho việc tổ chức các hoạt động luyện tập nhóm, các trò chơi giao tiếp d. Từ phía chương trình và SGK Bộ SGK tiếng Anh đang được sử dụng ở bậc tiểu học vẫn còn ít các hoạt động luyện tập dành cho phần dạy luyện âm. Do vậy, GV gặp trở ngại trong vấn đề tìm kiếm các hoạt động luyện tập phù hợp và các em không có tài liệu để luyện âm thêm ở nhà. Về phía phân phối chương trình, chúng tôi nhận thấy rằng thời gian phân bổ cho bộ môn tiếng Anh so với các môn học khác là khá ít. Vì vậy, GV không thể thực hiện tốt các bước ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, tiến hành dạy bài mới và tổ chức các hoạt động luyện tập được. 16 3.2. CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CÁC LỖI PHÁT ÂM NÂ, P TIẾNG ANH 3.2.1. Biện pháp mang tính chủ quan a. Giúp các em có thái độ tích cực đối với lỗi Chúng tôi cho rằng trong lớp học nếu GV đòi hỏi HS phải tuyệt đối tránh mắc lỗi hoặc GV liên tục sửa lỗi ... sẽ dẫn đến tình trạng HS bị giảm hứng thú học tập, bị ức chế, từ đó tạo ra không khí căng thẳng, sợ hãi. Thực tế cho thấy, các em HS ở lứa tuổi nhỏ rất hay bị ảnh hưởng bởi bạn bè và hay bắt chước nhau nên nếu lỗi của em này không được sửa ngay, các em khác sẽ theo đó mà mắc lỗi. Ở một số nước Phương Tây, “Phương pháp tự sửa lỗi cho nhau” là phương pháp được áp dụng phổ biến và rất hiệu quả. b. Hình thành cho các em thói quen phát âm đúng Phát âm đúng có vai trò quan trọng trong giao tiếp nên việc rèn luyện phát âm đúng là vô cùng cần thiết. Có thể nói, phát âm đúng là yêu cầu hàng đầu của việc dạy - học ngoại ngữ đặc biệt là các em HS ở bậc tiểu học. Vì vậy, do các em còn nhỏ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc phát âm đúng thì GV phải là người giúp các em hình thói quen phát âm đúng ngay từ ban đầu. Để hình thành thói quen phát âm đúng, GV cần quan tâm đến các em nhiều hơn nữa, cần phải là người có kiến thức ngữ âm chuẩn, phải tự trao dồi kĩ năng giao tiếp tiếng Anh. c. Giúp các em có ý thức tự rèn luyện phát âm GV trước hết cần phải giúp các em hiểu được tầm quan trọng của tiếng Anh qua các mẩu chuyện nhỏ. Bên cạnh đó, GV cũng nên hướng dẫn cho các em tự luyện tập ở nhà bằng cách giới thiệu các tài liệu hoặc chương trình dạy phát âm trên ti vi. Các bậc phụ huynh và người lớn nên nhắc nhở, động viên để tránh tình trạng các em chỉ tập trung học các môn chính mà coi nhẹ môn tiếng Anh. 17 3.2.2. Biện pháp mang tính khách quan a. Tạo ra môi môi trường tiếng thật sự Trước hết, cần phải tạo ra cho HS một môi trường lớp học mang đặc thù tiếng Anh. GV cần phải sử dụng tiếng Anh nhiều hơn trong lớp học và khuyến khích các em sử dụng tiếng Anh cho các diễn đạt và chỉ dẫn đơn giản, có thể kết hợp với ngôn ngữ hình thể. Đối với các diễn đạt mang tính phức tạp, GV có thể sử dụng tiếng Việt nhưng nên hạn chế. Có như vậy các em mới tự ép mình phải nghe, hiểu, cũng như sử dụng tiếng Anh trong lớp học, như cách chúng đã học tiếng Việt. Trong quá trình giảng dạy trên lớp GV nên sử dụng tiếng Anh để giao tiếp nhằm tạo điều kiện cho các em làm quen với việc sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp thường ngày. GV có thể sử dụng tiếng Việt khi cần thiết để giải thích những từ có khái niệm phức tạp, các cấu trúc ngữ pháp khó hoặc để giải thích những yêu cầu của bài tập. GV có thể tạo ra môi trường tiếng Anh thông qua các hoạt động xem tivi, nghe nhạc b. Đổi mới phương pháp dạy và học Về phần GV, trước hết cần phải có vốn kiến thức nhất định về ngữ âm tiếng Anh cũng như tiếng Việt. Vì đặc điểm ngữ âm tiếng Anh và tiếng Việt có nhiều nét khác nhau nên GV cần sử dụng hình ảnh để chiếu cho các em thấy rõ bộ máy cấu âm và chỉ cho các em cách phát âm. Điều này sẽ giúp các em phát âm chuẩn xác hơn. Hơn nữa, ngữ âm là một môn học rèn luyện kĩ năng chứ không đơn thuần là một môn kiến thức nên để quá trình học phát âm đạt hiệu quả cần phải có sự rèn luyện thường xuyên và liên tục. Vì vậy, ngoài việc truyền đạt kiến thức cơ bản về ngữ âm, GV nên dành nhiều thời gian hơn nữa vào việc luyện và sửa lỗi phát âm cho các em. Ngoài ra, cũng nên tổ chức các hoạt động luyện âm phong phú chẳng hạn như thiết kế các trò chơi; tránh việc chỉ đơn thuần đọc và yêu cầu HS lặp lại vì như vậy sẽ tạo ra không khí học tập 18 thụ động, áp đặt, giảm hứng thú và sự phát triển kĩ năng giao tiếp tự nhiên của các em. 3.2.3. Một số đề xuất đối với việc khắc phục lỗi phát âm Trước hết là sự đổi mới về hình thức kiểm tra đánh giá. Bài kiểm tra phải lưu ý bao quát tất cả các kĩ năng (có phần kiểm tra về khả năng phát âm). Điều này sẽ tạo động lực để các em chú trọng học luyện tập phát âm chính xác các âm vị tiếng Anh. Thỉnh thoảng GV nên tổ chức các lớp học ngoại khóa, các buổi học ngoài trời và tổ chức cho các em tham gia các trò chơi tiếng Anh bổ ích theo kiểu "học mà chơi, chơi mà học" để tạo ra sự hứng thú và đam mê môn ngoại ngữ này. Trong quá trình luyện âm cho HS, GV không nên chỉ đơn giản đọc từ và yêu cầu HS lặp lại một cách máy móc mà GV nên bày cho các em phát âm từ đơn vị nhỏ nhất, như cách mà trẻ em Việt Nam tập đánh vần các từ vậy. Sau đây là 3 bước cụ thể khi áp dụng phương pháp trên trong việc cải thiện các lỗi phát âm phụ âm cuối: - Bước 1: “ball” đọc là “bo lờ” như là hai từ riêng. - Bước 2: Đọc “bo” to như bình thường nhưng “lờ” từ từ nhỏ hơn. - Bước 3: đọc “bo” như bình thường nhưng khi đến “lờ” thì đọc nhỏ lại, không thành tiếng. Đây là cách giúp các em phát âm phụ âm cuối một cách tự nhiên và giống như người bản xứ. Về việc sửa lỗi, GV nên chỉ ra lỗi và giúp các em tự sửa lỗi ngay sau khi phát hiện lỗi. Ngoài ra, GV nên giúp các em có thái độ tích cực với lỗi bằng cách tuyên dương và thưởng cho em nào có thể tự sửa lỗi của mình hoặc của các bạn. Như vậy, vai trò của GV trong việc hạn chế lỗi của các em là rất quan trọng. Về phía chương trình và SGK, chúng tôi nghĩ rằng nên có thêm nhiều hoạt động hỗ trợ cho việc luyện âm ở trên lớp cũng như ở nhà. Cần 19 phải tăng thêm từ 1 đến 2 tiết cho mỗi tuần học. Điều quan trọng hơn nữa là việc giảm số lượng HS trong các giờ học phát âm và học nói để các em có nhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động hơn cũng như việc kiểm soát lớp của GV được thuận lợi hơn. Không gian lớp học cũng nên được thay đổi sao cho có sự gần gũi giữa GV và HS, để GV có thể đến gần và sửa lỗi phát âm cho các em. Trong quá trình dạy phát âm một từ mới, GV nên sử dụng phương pháp đối chiếu giữa hai ngôn ngữ đặc biệt là đối với các cặp âm dễ gây nhầm lẫn hoặc các âm mà chỉ xuất hiện ở một ngôn ngữ. Điều này giúp các em nhớ lâu và có sự phân biệt rạch ròi giữa hai ngôn ngữ. Rõ ràng, việc dạy phát âm cho các đối tượng nhỏ tuổi là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi GV cần phải hết sức thận trọng khi dạy ở cấp độ này. Sau đây, chúng tôi xin đề xuất một số hoạt động mà GV tiểu học có thể áp dụng trong việc dạy và luyện phát âm cho các em, tùy vào từng điều kiện và đối tượng cụ thể: - Dạy cho các em hệ thống chữ cái kèm với cách đánh vần chúng, kết hợp với việc chỉ ra cho các em cách phát âm các chữ cái vào trong từ cụ thể, đi từ trường hợp phổ biến đến các ngoại lệ. Chẳng hạn,chữ cái “p” có cách phát âm là /p/ khi nó là đơn phụ âm xuất hiện trong các từ như “pen”, “pig” hoặc “poor”, nhưng cách phát âm này không giống như các từ “sport”, “plan” hoặc “press”. - Luyện cho các em phát âm các N đơn trước, sau đó đến N đôi. Việc giúp các em nhận biết các quy luật cơ bản của N đơn và đôi cũng rất quan trọng. Ví dụ: chữ cái “i” được phát âm là /I/ khi nó được theo sau bởi các phụ âm khác như “sit”, “hit” hay “sister”. Đa số cặp chữ cái “ee”, được thể hiện bằng âm vị /I:/ như trong các chữ cái “see”, “bee” hoặc “screen”. Có một số hoạt động khác có thể giúp các em làm quen với cách phát âm chuẩn qua băng đĩa để phát triển phản xạ ngôn ngữ như: + Nghe và chọn từ bắt đầu bởi âm vị /p/ 20 + Nghe và chọn từ tận cùng bởi âm vị /t/ + Nghe và chọn từ có chứa âm vị /«U/ + Nghe và viết lại từ + Nghe và đếm có bao nhiêu âm vị /e/ + Nghe và điền vào chỗ trống bằng một âm vị đúng + Nghe và chọn từ có cách phát âm khác với các từ còn lại + Nghe và nói “Yes” với từ có chứa âm vị /:/ và nói “No” với từ không chứa âm vị đó. - Đối với dạng lỗi không nhả âm ở các âm vị P cuối từ hoặc nhầm lẫn giữa các cặp âm ngắn và dài, GV nên sử dụng các kí hiệu bằng ngôn ngữ hình thể để nhắc nhở các em khắc phục ngay sau khi mắc lỗi. Mỗi kí hiệu biểu thị các âm này đã được quy ước từ đầu giữa GV và HS, ví dụ như: + Khi HS đọc thiếu âm “s” ở cuối từ, chúng tôi sẽ nhắc bằng cách dùng tay vẽ một đường chữ S mà giữa GV và HS đã có quy ước từ trước đó. + Với âm “k”, chúng tôi sẽ nhắc cho HS bằng cách vỗ trên đầu gối của mình. Tương tự như vậy, với âm “t” chúng tôi sẽ sửa cho HS bằng ký hiệu dang ngang hai tay ra tựa như chữ T vậy. + Nếu HS không bật hơi âm /p/ mà phát âm giống như tiếng Việt, chúng tôi sẽ để bàn tay lên phía trước miệng và trong quá trình luyện âm, chúng tôi cũng đã bày cho các em cách để làm thoát ra hơi. + Các lỗi liên quan đến âm ngắn và dài, chúng tôi quy ước giơ cánh tay cao lên sẽ phải đọc là âm dài và ngược lại. + Ở vị trí đầu và cuối từ của âm “th”, chúng tôi quy ước với HS bằng cách đưa tay lên miệng và yêu cầu HS “Nhìn và làm theo Cô” cách đặt lưỡi âm “th” và phát âm 21 KẾT LUẬN 1. Nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh và hình thành năng lực giao tiếp, cụ thể là cải thiện tình trạng phát âm cho các em HS từ bậc tiểu học, chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài với nhiệm vụ nghiên cứu các dạng lỗi phát âm tiếng Anh ở đối tượng đang mới bắt đầu làm quen với ngoại ngữ này. Hiện đang công tác tại thành phố Đà Nẵng nên chúng tôi quyết định chọn HSTH ở nơi đây làm đối tượng của cuộc điều tra. Số đối tượng này bắt đầu học tiếng Anh từ lớp 3 theo bộ SGK tiếng Anh do Bộ Giáo dục xuất bản. 50 em đến từ 5 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã tham gia rất tích cực vào cuộc khảo sát các lỗi phát âm các âm vị tiếng Anh của chúng tôi. Các em đều là HS khối lớp 4 và 5, tức là hầu hết các em đều đã được làm quen với tiếng Anh ít nhất 1 năm. Để tìm ra các dạng lỗi, chúng tôi đã tiến hành xây dựng các bảng từ thử các âm vị N và P phổ biến, chủ yếu ở vị trí đầu và cuối từ. Bên cạnh đó, các phiếu điều tra HS cũng như GV cũng được lập ra nhằm thu thập các thông tin từ các đối tượng và tiếp thu các ý kiến của GV về tình hình giảng dạy phát âm. Và thực tế, kết quả của các phiếu khảo sát đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thông tin hữu ích. Có thể nói rằng, các dạng lỗi được tìm thấy hầu hết đều nằm trong giả thuyết ban đầu của chúng tôi. Tuy nhiên, kết quả phân tích định lượng từ các đoạn thu âm cũng cho ra các con số ngoài dự kiến. Các dạng lỗi được tìm thấy chủ yếu là: - Không nhả âm vị - Nhầm lẫn giữa các âm vị - Thêm âm vị - Bớt âm vị 22 Tần số lỗi xuất hiện cao nhất rơi vào các P khi ở vị trí cuối từ. Điều này cho thấy một bộ phận lớn các em HS không nhả âm ở vị trí này. Cuộc điều tra còn cho thấy, ngay cả các phụ âm quen thuộc trong tiếng Việt như /l/, /r/ khi ở vị trí cuối lại là một trở ngại lớn với các em. Kết quả này cho thấy rằng việc luyện các âm cuối vẫn chưa thật sự được quan tâm chú trọng. 2. Từ phân tích định tính và định lượng, chúng tôi cũng đã phát hiện ra một số nhân tố ảnh hưởng đến việc phát âm của các đối tượng. Trước hết, phải nói rằng, các điểm khác biệt về ngữ âm giữa hai ngôn ngữ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây lỗi phát âm ở các em. Rất nhiều em HS và GV cũng đã thừa nhận rằng: các em đã quen với hệ thống ngữ âm tiếng Việt nên bị ảnh hưởng khi nói và phát âm tiếng Anh. Hơn nữa, phương pháp dạy và học ngoại ngữ một cách truyền thống cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phát âm của HS. Thực tế trong 5 trường mà chúng tôi khảo sát, chỉ có 1 trường được trang bị khá đầy đủ các thiết bị nghe nhìn. Chính vì thiếu các trang thiết bi, các GV cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc cho các em làm quen với giọng bản ngữ hay truyền tải các hình ảnh minh họa về cơ chế phát âm. Không chỉ hoàn toàn ở vấn đề phương pháp, chương trình đào tạo chưa thật sự phù hợp, thời gian phân bổ cho mỗi đơn vị bài học nói chung và phần luyện âm nói chung cũng là một lí do cần phải nhắc đến. Một nguyên nhân nữa không thể bỏ qua là việc các em HS chưa thật sự có động lực học tập cũng như chưa có ý thức rèn luyện phát âm cũng như thái độ với việc mắc lỗi. Bên cạnh đó, thói quen học tập thụ động, chỉ học khi được nhắc nhở và kiểm tra cũng góp phần vào việc các em không thể phát triển khả năng phát âm của mình. 3. Việc tìm ra nguyên nhân sẽ chưa thật sự có ý nghĩa nếu như không có các đề xuất và giải pháp nhằm hạn chế cũng như khắc phục 23 lỗi. Chúng tôi thật sự cho rằng, cần phải có sự thay đổi tích cực trong thái độ của HS và cả GV trong việc phát âm đúng cũng như với việc mắc lỗi. Bản thân GV phải không ngừng trao dồi kiến thức ngữ âm cũng như tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy. Tiếp theo, đã đến lúc làm mới lại chương trình đào tạo cũng như tài liệu học tập theo định hướng mới, phù hợp với HS và đáp ứng được các yêu cầu của nền giáo dục hiện đại. Trong đó, lấy HS làm trung tâm và GV đóng nhiều vai trò khác nhau: người hướng dẫn, cố vấn, nhà nghiên cứu khoa học và có khi là một người bạn. Việc tạo ra một môi trường tiếng tự nhiên để các em có điều kiện thực hành tiếng và rèn luyện các kĩ năng giao tiếp cũng là một biện pháp hữu hiệu làm giảm nguy cơ mắc lỗi ở các em. Có thể nói rằng, nghiên cứu về lỗi mà HS mắc phải không phải là một đề tài mang tính mới mẻ. Nó đã được quan tâm từ rất lâu bởi các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên khắp thế giới cũng như ở Việt Nam. Đề tài của chúng tôi không phải là đề tài mới mà chỉ có tính thực tiễn, tính mới về nghiệm thể nghiên cứu: HSTH ở địa phương nơi chúng tôi sinh ra, lớn lên và đang tham gia giảng dạy. Có thể nói rằng, đề tài này được tiến hành thành công là do sự nhiệt tình ủng hộ của các GV từ các trường cũng như sự tham gia rất tích cực của các em HS. Qua thời gian điều tra thực tế, chúng tôi cũng nhận thấy nhiều điều còn bất cập trong việc dạy và học tiếng Anh ở HSTH qua việc thu âm và tìm ra lỗi. Do vậy, chúng tôi thật sự tin rằng, đề tài này sẽ phần nào giúp người dạy và người học có cách nhìn đúng đắn hơn và thái độ tích cực hơn với việc phát âm nói riêng cũng như tiếng Anh nói chung. Quan trọng hơn, kết quả của nghiên cứu cũng sẽ giúp GV giải quyết được những khó khăn, trăn trở trong việc dạy phát âm và từ đó có những phương pháp giảng dạy mang tính thiết thực và hiệu quả hơn. Từ những 24 lí do nêu trên, chúng tôi cho rằng, đề tài hoàn toàn có khả năng ứng dụng. Mặc dầu vậy, đề tài của chúng tôi không phải không có những hạn chế nhất định. Trước hết, vì giới hạn của đề tài, chúng tôi không thể tiến hành điều tra lỗi ở tất cả các âm vị trong hệ thống ngữ âm tiếng Anh mà chỉ tập trung vào các âm vị với giả thuyết sẽ gây nhiều trở ngại cho HSTH khi phát âm. Hơn nữa, chúng tôi không thể thực hiện việc thu âm ở tất cả các HS trên địa bàn thành phố mà chỉ chọn ra 5 trường từ 5 quận khác nhau. Trong đó, chúng tôi chỉ chọn ra các đối tượng là HS khá và giỏi vì các em HS yếu kém sẽ không có khả năng biết được cách đọc của các từ hoặc là chỉ nhớ được một vài từ. Do vậy, phải thừa nhận rằng tần số lỗi được tìm ra không thật sự bao quát mà chỉ xoáy sâu vào các dạng lỗi khá đặc trưng. Tuy nhiên, các nguyên nhân được tìm ra đều dựa trên kết quả của quan sát thực tế và từ phiếu điều tra HS cũng như qua tiếp xúc với các đối tượng và tiếp thu ý kiến từ GV nên ít nhiều có giá trị thực tiễn. Từ đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của HS và GV ở môi trường tiểu học. Chúng tôi hi vọng rằng, ở một mức độ nào đó, luận văn của chúng tôi có thể xem là hữu dụng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnguyen_thi_linh_phuong_8782_2084527.pdf