Luận văn Sử dụng hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê robusta tại chi nhánh công ty thực phẩm miền Bắc – Fonexim Hồ Chí Minh

PHẦN MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài: Cho đến nay, cà phê vẫn luôn giữ vài trò là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta và được chọn là một trong những mặt hàng trọng điểm cần phát huy trong giai đoạn 2005 – 2010. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc phát triển ngành cà phê khá bấp bênh. Tính chất giá cà phê của nước ta là phụ thuộc vào giá cả của thị trường thế giới, chỉ một vụ rớt giá mạnh cũng khiến cho người trồng cà phê và các nhà kinh doanh cà phê gánh chịu rủi ro lớn, có khi dẫn đến phá sản. Chính vì vậy trên thế giới, để bảo hộ giá cả cho nhà sản xuất xuất khẩu nông sản, các nước thường sử dụng thành công một biện pháp là xây dựng thị trường giao dịch hợp đồng tương lai hàng hóa nông sản để các chủ thể có thể là nhà sản xuất, xuất khẩu nông sản tham gia giao dịch để san sẻ rủi ro về giá cả hàng hóa cho đối tác khác trên thị trường đó và cho thị trường quốc tế. Các hợp đồng này thực hiện thông qua các trung tâm giao dịch hàng hoá tập trung lớn như tại Luân Đôn (LIFFE), New York (NYBOT). Vì vậy không lý do gì Việt Nam không áp dụng hình thức này khi mà sự phát triển sản phẩm giao dịch cho các hàng hoá Việt Nam là điều tất yếu và cần thiết tương ứng với giai đoạn phát triển kinh tế và hội nhập hiện nay. Sự biến động bất thường của giá các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam nói chung và ngành hàng cà phê nói riêng đã ảnh hưởng đến sự tình hình kinh doanh của toàn ngành cũng như Công ty Chi Nhánh Thực Phẩm Miền Bắc – FONEXIM HCM, đặt ra yêu cầu bức thiết đó là cần có những công cụ bảo hiểm trong kinh doanh, đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu dài và hình thức mà công ty đã và đang áp dụng đó là sử dụng hợp đồng tương lai (Futures Contract) để phòng ngừa rủi ro về giá. Trước khi tham gia giao dịch này, FONEXIM HCM chỉ thực hiện các hợp đồng uỷ thác từ những đối tác đã có sẵn nguồn hàng, các đối tác này gửi hàng cho công ty nhờ công ty thực hiện xuất khẩu thu trước 70% tiền hàng và sau khi chốt giá nhờ thu tiếp 30% tiền hàng còn lại, lợi nhuận thu được từ khoảng chênh lệch và hoa hồng uỷ thác. Hợp đồng dạng này được gọi là Diffirentials Contract, trong đó giá được hai bên thống nhất giữ một khoảng cách biệt so với thị trường LIFFE, mà thường thấp hơn nên gọi nôm na là hợp đồng “trừ lùi”. Với phương thức này, doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nói chung và FONEXIM HCM nói riêng phần nhiều thua thiệt do chênh lệch giữa giá chào bán cà phê Việt Nam với giá giao dịch trên thị trường kỳ hạn London khá lớn, luôn ở mức trên 100USD/tấn. Nay thì, nhờ giao dịch trực tiếp trên thị trường kỳ hạn London, doanh nghiệp không còn bị thua thiệt về chênh lệch giá như đã nói trên, thay vào đó doanh nghiệp chỉ phải chịu một khoản phí không đáng kể cho nhà môi giới (Techcombank). Khoản phí này là 10 USD/tấn cho mỗi giao dịch dưới 200 lot (lot là đơn vị tính cho mỗi hợp đồng 5 tấn cà phê nhân) và trên 1000 lot phí giảm còn 2 USD/tấn. Nhận thấy tầm quan trọng của thị trường này, năm 2008, công ty tiến hành tham gia giao dịch hợp đồng tương lai đối với cà phê Robusta tại thị trường kỳ hạn Luân Đôn (LIFFE), ký kết xuất khẩu với khách hàng nước ngoài và tiến hành thu mua cà phê trực tiếp từ những nơi trồng cà phê như Đắk Lắk, Lâm Đồng Sau một năm tham gia giao dịch, công ty đã đạt được những thành công bước đầu, bên cạnh đó vẫn có nhiều khó khăn và hạn chế nhất định do mới chập chững bước vào thị trường này. Nghiên cứu hợp đồng tương lai, lợi ích, khó khăn và kỹ thuật vận hành của thị trường này nhằm giúp cho công ty phần nào có được cái nhìn tổng quan và hiểu rõ hơn về hình thức giao dịch này trên thế giới cũng như Việt Nam hiện nay cùng với những giải pháp để công ty có thể thực hiện tốt hơn nữa những giao dịch này trong tương lai. Đó là lý do cho đề tài: “SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ CÀ PHÊ ROBUSTA TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY THỰC PHẨM MIỀN BẮC – FONEXIM HCM” Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Tổng quan về công cụ phòng chống rủi ro biến động giá đang được sử dụng trên thế giới: sản phẩm phái sinh trên thị trường hàng hóa.Tổng quan về thị trường cà phê những năm gần đây trên thế giới và Việt Nam; xác định rủi ro mà ngành đang đối mặt đó là biến động giá cà phê nhân.Tìm hiểu khái niệm, mục đích, kỹ thuật vận hành và những lợi ích từ việc sử dụng hợp đồng tương lai cho giao dịch buôn bán cà phê, qua đó phục vụ cho công cuộc phòng chống rủi ro sự biến động giá cả cà phê trong giai đoạn hiện nay.Đánh giá sự cần thiết, khả năng sử dụng hợp đồng tương lai và phân tích tình hình ứng dụng giao dịch hợp đồng tương lai của công ty để nhận định những kết quả đạt được cùng với những khó khăn, hạn chế trong quá trình tham gia giao dịch.Thu thập những tài liệu liên quan về thị trường hàng hoá phái sinh, nhất là về hợp đồng tương lai cho hoạt động của công ty.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tình hình ứng dụng Hợp đồng tương lai vào giao dịch buôn bán cà phê trong phạm vi chi nhánh công ty thực phẩm miền bắc FONEXIM HCM để đánh giá xem hiệu quả sử dụng hợp đồng tương lai mang lại lợi ích gì cho quá trình kinh doanh của công ty. Ngoài ra còn nghiên cứu thêm tình hình sử dụng giao dịch hợp đồng tương lai của các doanh nghiệp khác cùng ngành, từ kết quả mà họ đạt được cùng với những thách thức trở ngại của ngành. Qua đó đưa ra những giải pháp để áp dụng hiệu quả hình thức này cho các doanh nghiệp kinh doanh cà phê nói chung và công ty FONEXIM HCM nói riêng. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp tổng hợp để thu thập thông tin, sau đó sử dụng các phương pháp logic, thống kê để phân tích, hệ thống hoá từng nhóm thông tin, qua đó đối chiếu, so sánh các số liệu có được. Số liệu được thu thập từ các nguồn thông tin thứ cấp như: báo chí, web, giáo trình, các báo cáo ngành hàng cà phê của các tổ chức thống kê, VICOFA (Hiệp Hội Cà phê – Ca Cao Việt Nam), ICO (Tổ Chức Cà Phê Thế Giới), Các số liệu báo cáo của công ty FONEXIM từ phòng Kế Toán. Kết cấu của đề tài Đề tài gồm các chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về hợp đồng tương lai trong kinh doanh cà phê Robusta Chương 2 – Sử dụng hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê tại công ty FONEXIM HCM. Chương 3 – Một số đề xuất và giải pháp trong việc sử dụng Hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê tại công ty FONEXIM HCM. Do hạn chế về thời gian, tài liệu và khả năng của người viết nên nội dung của đề tài này chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự hướng dẫn và những góp ý tận tình của quý thầy cô để cho bài luận của em được tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

doc77 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 28/05/2013 | Lượt xem: 3837 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Sử dụng hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro biến động giá cà phê robusta tại chi nhánh công ty thực phẩm miền Bắc – Fonexim Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Việt Nam đã xuất 1,2 triệu tấn với kim ngạch khoảng 1,643 tỷ USD, tăng 22,3% về số lượng và 49,9% về giá trị Kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu do giá thế giới tăng mạnh. Riêng 6 tháng 2008, giá trị cà phê xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Các thị trường xuất khẩu hàng đầu là Đức, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Italia. Nguồn: Triển vọng thị trường cà phê thế giới năm 2009 Triển vọng sản xuất Theo dự báo của Hiệp Hội Cà Phê Thế Giới - ICO, tổng sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2009 sẽ đạt khoảng 122-125 triệu bao (loại 60kg), giảm 6,83% so với năm 2008 (tương ứng với 9,16 triệu bao). Ở một số nước sản xuất cà phê chính như Braxin, Ấn Độ, Colombia.., sản lượng cà phê sẽ giảm. Braxin: Theo thông tin của hiệp hội cà phê thế giới, sản lượng cà phê của Braxin vụ 2009 sẽ đạt khoảng 40 triệu bao cà phê so với 45,9 triệu bao của niên vụ 2008. Hiệp hội cà phê Braxin dự báo, sản lượng cà phê của Braxin có thể sẽ giảm từ 16%- 20%. Tổng sản lượng thu hoạch đạt từ 36,9 – 38,8 triệu bao, thấp hơn nhiều so với sản lượng 45.99 triệu bao của năm 2008. Các nước sản xuất khác: Theo Hiệp Hội Cà Phê Thế Giới, sản lượng của hầu hết các nước sản xuất cà phê khác (Ngoài Braxin) sẽ thay đổi không nhiều so với niên vụ 2008. Sản lượng cà phê của Colombia vụ 2009 sẽ khoảng 12,5 triệu bao (tăng khoảng 200.000 bao so với năm 2008, nhưng nếu mưa nhiều thì sản lượng sẽ giảm khoảng 200.000-500.000 bao. Hội đồng cà phê Ấn Độ dự kiến, sản lượng cà phê Arabica của Ấn Độ năm 2009 sẽ đạt khoảng 80.000 tấn, sản lượng cà phê Robusta sẽ đạt khoảng 186.500 tấn. Các nước trồng cà phê khác như Indonesia, Ethiopia, Guatemala, Peru... sẽ giảm sản lượng cà phê năm 2009 do ảnh hưởng của thời tiết những tháng cuối năm 2008. Như vậy, với lượng tồn kho cuối năm 2008 khoảng 4,5 triệu bao và sản lượng mới sản xuất, tổng cung cà phê cho thế giới năm 2009 sẽ đạt khoảng 126,5-129,5 triệu bao (tương đương 7,6 – 7,8 triệu tấn). Nguồn: AGROINFO tổng hợp 2. Biến động giá cà phê trong giai đoạn hiện nay Thị trường cà phê trên thế giới trong những năm vừa qua thường chao đảo, không ổn định nhất là về giá cả. Tổ Chức Cà Phê Thế Giới (ICO) do không còn giữ được hạn ngạch xuất nhập khẩu, giá cả trôi nổi trên thị trường tự do cho nên có những giai đoạn giá cà phê xuống thấp chưa từng có so với vài chục năm trở lại đây. Từ năm 1999 bắt đầu cùng với cộng đồng cà phê thế giới, ngành cà phê nước ta trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Giá cà phê liên tục xuống thấp đến mức kỷ lục trong vòng mấy chục năm lại đây. Khủng hoảng đã kéo theo những hậu quả xấu cho sản xuất và đời sống. Nông dân thu nhập thấp không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày và đầu tư cho tái sản xuất. Đã có những vườn cà phê bị bỏ không chăm sóc và cũng có tình hình chặt phá vườn cà phê để trồng cây khác, kể cả cây lương thực. Từ năm 2004, giá cà phê bắt đầu được cải thiện và giá lên cao vào các năm 2006, 2007 tuy còn thấp nhiều so với giá cà phê các năm 1995- 1998 nhưng với người trồng cà phê thì mức giá hiện nay đã có sức hấp dẫn đáng kể. Cà phê được bán với giá từ 25- 30 triệu đồng Việt Nam 1 tấn. Và có lúc lên trên 30 triệu đồng 1 tấn. Lúc này lại có hiện tượng ngược lại trước đây là người ta lại trồng mới, mở mang diện tích cà phê. Đồ thị 2.1 .Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trong 17 năm từ 1991- 2007 Năm 2008: Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính, thị trường nông sản thế giới bước vào thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng. Tình hình này tác động đến nhiều mặt hàng nông sản trong nước, sau cao su đến cà phê... rớt giá thảm hại. Riêng đối với cà phê - một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, tháng 2/2008 giá xuất khẩu (FOB) tại Tp.HCM đã từng đạt 2.520 USD/tấn; tháng 9 giảm mạnh xuống ở mức 2.000 USD/tấn; giữa tháng 10 giá tiếp tục giảm, còn 1.700 USD/tấn; đến tháng 11 rơi xuống tồi tệ chỉ còn khoảng 1.480 USD/tấn. Ngoài nguyên nhân chính do tác động của khủng hoảng tài chính, giá cà phê xuất khẩu “trượt dốc không phanh” còn chịu sức ép phục hồi của đồng USD. Bên cạnh đó, nhiều quỹ đầu tư đồng loạt rút vốn ra khỏi hoạt động đầu tư nông sản, dẫn tới sự giảm cầu trên các thị trường kỳ hạn, làm giá nông sản giảm đột ngột. Nếu tính từ đầu năm 2008 đến nay, giá cà phê ở Tây Nguyên rơi theo nhịp “tụt - tụt dần”. Vào dịp tháng 2/2008, giá cà phê xô tại Đắc Lắc, Lâm Đồng là 40.000 - 42.000 đồng/kg, đến tháng 9 còn 34.000 - 35.000 đồng/kg; tháng 10 tụt xuống 26.000 - 27.000đồng/kg. Hiện tại chỉ còn 24.000 - 25.000 đồng/kg. Nếu so với giá đầu năm, 1 tấn cà phê nông dân mất 14 - 16 triệu đồng. Bước vào những ngày đầu tháng 9, giá cà phê trên thị trường thế giới có bước hồi phục trở lại so với cuối tháng 8 vừa qua. Giá cà phê giao dịch ngày 8/9 tại Luân Đôn đạt 1.494 USD/tấn, tăng 131 USD/tấn so với cuối tháng 8. Nhờ đó giá cà phê trong nước cũng đã quay trở lại mốc trên 25.000 đồng/kg. Giá cà phê tại Đăk Lăk ngày 8/9 được các đại lý mua vào ở mức 25.500 đồng/kg, tăng 2.700 đồng/kg so với cuối tháng 8. Triển vọng giá năm 2009 Tuy giá cà phê thế giới có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây (đặc biệt là 8 tháng đầu năm 2008), nhưng theo Ngân Hàng thế giới (WORLD BANK), dưới tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá tất cả các loại hàng hóa nông sản nói chung trong đó có cà phê sẽ giảm. World Bank dự báo giá cà phê Arabica sẽ giảm 14,52% trong năm 2009, giá cà phê Robusta sẽ giảm 15,08% so với mức giá bình quân của năm 2008. Theo dự báo của AGROINFO, trong điều kiện mất mùa làm suy giảm sản lượng cà phê của Braxin và một số nước xuất khẩu chủ chốt (Việt Nam, Colombia, Ấn Độ...), cung cà phê sẽ giảm dẫn tới giá tăng cao nhưng không thể đạt tới mức đỉnh điểm của năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính. Giá cà phê thế giới nhiều khả năng sẽ giảm khoảng 12,57% so với mức giá trung bình của năm 2008. Mua bán cà phê Robusta bằng hợp đồng tương lai qua LIFFE 3.1 Thế nào là giao dịch cà phê trên thị trường tương lai? Từ năm 1997 đến nay, có 2 phương thức bán hàng ra nước ngoài đang được nhiều doanh nghiệp sử dụng đồng thời. Đó là bán theo phương thức Outright (giá cố định, thời gian giao hàng cố định) và bán theo phương thức Differentials hay Price To Be Fixed (bán trừ lùi, chốt giá sau). Bán hàng giao ngay (Outright) trong truyền thống giao thương cà phê thế giới có nghĩa người mua và người bán chốt giá ngay tại thời điểm ký hợp đồng mua bán mà không cần biết giá cà phê tại thời điểm giao hàng diễn biến ra sao. Phương thức này được các doanh nghiệp cà phê Việt Nam áp dụng phổ biến vào đầu những năm 1990, nhưng nếu cả hai bên thoả thuận giá ngay thì việc họ gặp rủi ro về giá là hoàn toàn có thể xảy ra nên sau này phương thức này được thay thế bằng phương pháp ký hợp đồng nhưng không chốt giá mà khi giao hàng mới chốt giá bán dựa vào giá cà phê giao dịch trên thị trường London (Anh) và trừ lùi một khoảng chênh lệch so với giá ở thị trường Luân Đôn vào thời điểm giao hàng, còn gọi là phương thức bán trừ lùi (Differentials). Phương thức bán trừ lùi phổ biến trong hơn chục năm qua thường áp dụng cho các hợp đồng giao xa mà nhà nhập khẩu thường ứng trước 70% số tiền của hợp đồng cho nhà xuất khẩu, phần còn lại được tính toán khi giao hàng và chốt giá dựa vào giá cà phê giao dịch trên thị trường kỳ hạn London. Các năm trước, đây là phương thức bán cà phê tiến bộ so với giao ngay bởi gắn giá cà phê Việt Nam với giá thế giới, hạn chế thiệt hại so với phương thức giao ngay nếu giá cà phê thế giới tăng. Với cách thức này doanh nghiệp có thể trúng lớn và cũng có thể lỗ nặng, tuỳ theo giá thị trường thế giới lên hay xuống ở thời điểm giao hàng. Để bảo đảm kinh doanh cà phê ở thị trường trong nước không bị lỗ trong tình hình giá lên xuống chập chờn, nhà buôn cà phê sẽ mua bán một lượng cà phê trên mạng, đặt lệnh bán ngay khi thấy giá có lời, đó là hình thức của giao dịch hợp đồng tương lai, trong đó giá cà phê được "chốt" ngay tại thời điểm đặt lệnh (là thời điểm mà giá cà phê trên thị trường quốc tế  được Doanh nghiệp "ưng ý" nhất), còn hàng thì giao sau với thời điểm do hai bên thỏa thuận. Điều quan trọng là, tại thời điểm giao cà phê, giá lên hay xuống thì vẫn giao theo giá đã được "chốt" lệnh từ trước. Giả sử mua cà phê vào giá 13.000đ/kg, khi xuất khẩu giá rớt còn 12.000đ/kg, bị lỗ 1.000 đồng. Thế nhưng cũng trong cùng thời điểm đó, công ty đã mua vào và bán ra trên thị trường kỳ hạn một lượng cà phê tương ứng với giá bán ra 15.000đ/kg, lời 2.000đ/kg. Nhờ cân đối được giữa mua bán trên thị trường trong nước và thị trường kỳ hạn, công ty vẫn bảo đảm có lãi và tính toán giá mua cà phê của người nông dân ở mức hợp lý. Và cũng nhờ vào khoản lãi trên thị trường kỳ hạn, nhà xuất khẩu cà phê sẵn sàng mua cà phê của nông dân với giá cao hơn giá thị trường. Thực tế, có thời điểm giá mua vào trên thị trường trong nước là 14.300đ/kg, Công ty Inexim Đắc Lắc đã mua cà phê của nông dân giá 15.000đ/kg khi tính toán bán ra thị trường kỳ hạn được giá trên 18.000đ/kg. Điểm đặc biệt ở phương thức giao dịch này là các hợp đồng được bên mua và bán ký trên mạng hoặc qua điện thoại trên cơ sở lòng tin. Thông tin về giá cà phê thế giới vừa được gửi về, các quyết định mua bán bắt đầu cũng được đưa ra. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn cú điện thoại được gọi tới các doanh nghiệp thông báo quyết định bán khi người ta thấy giá cả hợp lý. Một sàn giao dịch điện tử được thiết lập để người bán và người mua thỏa thuận giá cả và ký hợp đồng. Cà phê sẽ được chuyển giao ở một thời điểm nào đó mà hai bên thống nhất trong tương lai. Vào thời điểm đó, giá cà phê có cao hay thấp hơn giá đã thỏa thuận thì hợp đồng vẫn giữ nguyên giá trị. Cho nên, bên mua và bên bán có thể tính toán được lỗ lãi ngay khi vừa ra quyết định. Trong khi mua bán như vậy, cà phê là ảo nhưng lợi nhuận lại thực. Hình thức mua bán mới mẻ này thực chất là: ký hợp đồng trên mạng và bán cà phê qua điện thoại. Thông thường, phiên giao dịch sẽ được kết thúc vào nửa đêm. Sau mỗi ngày làm việc như vậy, các bảng, biểu đồ giá cà phê cũng được xây dựng để các nhà sản xuất cà phê có thể dự đoán giá trong tương lai. Ưu thế lớn nhất của giao dịch này là người ta có thể trong tương lai theo mức giá hiện tại – mức giá mà các doanh nghiệp biết chắc là hợp lý, nhờ thế hạn chế được những rủi ro, điều này không một phương thức kinh doanh truyền thống nào đạt được. Ngoài bảo hiểm rủi ro về giá, hình thức này còn được các công ty tham gia như một kênh đầu tư (mua bán các hợp đồng tương lai nhằm kiếm lợi từ chênh lệch giá) hoặc sử dụng hợp đồng tương lai như công cụ xác định giá của thị trường hàng thật. Từ giá bán cà phê futures trên sàn LIFFE có thể tính toán giá thu mua cà phê thị trường trên thị trường nội địa sao cho có lãi. Tuy nhiên, buôn bán trên thị trường kỳ hạn lãi cũng nhiều mà lỗ cũng dữ. Do vậy người kinh doanh phải có điểm dừng lỗ. Ngoài doanh nghiệp, nông dân cũng được lợi: Trước đây, nếu giá xuất khẩu lên cao thì doanh nghiệp mua cà phê của nông dân giá cao. Còn giá xuất khẩu rớt thấp thì ép giá người trồng cà phê. Với hợp đồng tương lai, doanh nghiệp sẵn sàng mua cà phê của nông dân với giá cao hơn giá thị trường trong nước khi tính toán bán ra thị trường kỳ hạn có lời. Ví dụ: Giá ký hợp đồng xuất khẩu cà phê giao ngay là 915 đô la Mỹ/tấn, tương đương mua vào của nông dân là 14.000 đồng/kg thì có lãi. Cùng thời điểm đó, giá London lên 1.095 đô la Mỹ /tấn, giá FOB sẽ là 1.005 đô la Mỹ/tấn (trừ lùi 90 đô la Mỹ/tấn so với giá London ) như vậy có thể đẩy giá mua cà phê của nông dân lên 15.400 đồng/kg. Rõ ràng, doanh nghiệp nếu đưa ra quyết định mua bán trên LIFFE được đúng thời điểm giá lên thì sẽ mua được giá cao cho nông dân. Mua bán cà phê trên thị trường tương lai thật sự là một phương thức hỗ trợ tích cực hoạt động xuất khẩu cà phê trên thị trường trong nước giúp nhà xuất khẩu cà phê hạn chế rủi ro do giá biến động, kiểm soát giá cả trong tương lai và còn có thể kiếm lời. Giao dịch cà phê Robusta trên thị trường LIFFE LIFFE là từ viết tắt của London International Financial Futures and Options Exchange - Thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn Quốc tế Luân Đôn. Thị trường Luân Đôn hiện là thị trường giao dịch lớn nhất thế giới dành cho cà phê Robusta, còn cà phê Arabica được mua bán chủ yếu qua thị trường New York. Trên thị trường Luân Đôn người mua với người bán không gặp gỡ trực tiếp với nhau mà giao dịch qua trung gian, môi giới là các công ty môi giới, các ngân hàng, định chế tài chính. Các hợp đồng tương lai mua bán cà phê trên thị trường Luân Đôn được mặc định với khối lượng 5 tấn/lô, hiện nay 10 tấn/lô, nguồn gốc xuất xứ của cà phê rất đa dạng nhưng tập trung chủ yếu ở một số nước Đông Nam Á, Nam Mỹ và Châu Phi, trong đó Việt Nam hiện đang là nước xuất khẩu cà phê vối - Robusta hàng đầu thế giới, vượt qua cả Brasil - nước hiện chiếm tới 30% thị phần cà phê thế giới. Để được phép giao dịch trên thị trường Luân Đôn, cà phê phải đạt những tiêu chuẩn chất lượng được qui định rõ trong một bản hướng dẫn trên website của sàn giao dịch này. Các tháng giao hàng có thể là tháng 1, 3, 5, 7, 9 và 11. Mức xê dịch giá tối thiểu là 1 USD/tấn ($5/lô). Ngày giao dịch cuối cùng là vào 12h30 ngày làm việc cuối cùng của tháng giao hàng. Giờ giao dịch từ 9h40 đến 16h55. Từ năm 2004, Chính phủ chỉ định Ngân Hàng Cổ Phần Kỹ Thương Techcombank hợp tác với chuyên gia Singapore và Hiệp Hội Cà Phê Ca Cao Việt Nam Vicofa, đã thực hiện chương trình sử dụng công cụ tài chính phòng ngừa rủi ro. Các bên đã huấn luyện cho doanh nghiệp, và tổ chức thí điểm đưa cà phê VN tham gia sàn giao dịch hàng hoá Luân Đôn. Cuối năm 2004, INEXIM Đăk Lăk là doanh nghiệp đầu tiên tham gia thị trường hợp đồng tương lai thông qua ngân hàng Techcombank. Cho tới hết năm 2005, các doanh nghiệp Cà phê Việt Nam thực hiện mua bán trên thị trường hợp đồng tương lai Luân Đôn đều phải thông qua môi giới của Techcombank. Ngân hàng này giữ vai trò đại lý giao dịch làm cầu nối cho nhà xuất khẩu Việt Nam và doanh nhân cà phê quốc tế. Sở dĩ phải làm như vậy vì khung pháp lý của Việt Nam chưa đầy đủ đối với loại hình kinh doanh theo thông lệ quốc tế ỨNG DỤNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI TRONG GIAO DỊCH KINH DOANH CÀ PHÊ TẠI CÔNG TY Giao dịch hợp đồng tương lai trong giao dịch mua bán cà phê được công ty sử dụng như công cụ phòng ngừa rủi ro khi giá biến động, được thể hiện cụ thể qua các trường hợp sau: Trường hợp 1: Mua Futures Trường hợp này được công ty sử dụng khi đã có hợp đồng xuất bán hang nhưng vẫn chưa có hợp đồng thu mua hàng từ các nhà sản xuất trong nước. Khi giá biến động theo chiều hướng tăng gây bất lợi cho công ty, công ty sẽ quyết định mua lượng hàng hóa tương ứng trên thị trường tương lai mà công ty tính toán là sẽ hợp lý, cụ thể như sau: Tháng 5/2009, Công ty ký hợp đồng xuất khẩu 500 tấn cà phê với giá 850 USD/tấn giao hàng thực vào tháng 9/2009 nhưng do tiên liệu giá cà phê biến động theo chiều hướng tăng, gây bất lợi cho công ty nên đã quyết định mua 50 lots (1 lot = 10 tấn) trên thị trường tương lai với cùng mức giá trên. Vào thời điểm giao hàng, giá tăng 900 USD/tấn. Physical (hàng thực) Futures (tương lai) Bán Mua 5/2009 850 850 9/2009 900 900 Lãi/ Lỗ Lỗ 50 Lời 50 Rõ ràng, trên thị trường hàng thật công ty đã lỗ 50 USD nhưng trên thị trường tương lai, công ty đã lời 50 USD, khoản lời này đã bù đắp cho khoản lỗ trên. Trường hợp 2 : Bán Futures Trường hợp này được ứng dụng khi công ty đã thu mua được một lượng hàng từ trong nước nhưng vẫn chưa có hợp đồng xuất khẩu hàng, khi giá giảm gây bất lợi cho công ty thì công ty sẽ bán lượng hàng này trên thị trường tương lai để bẩ toàn lợi nhuận kinh doanh. Khi mua cà phê với giá 13.000đ/kg, khi xuất khẩu giá chỉ còn 12.000đ/kg, bị lỗ 1.000đ/kg Thế nhưng vào thời điểm này, công ty đã bán ra trên thị trường tương lai một lượng tương ứng với giá bán 15.000đ/kg, lời 2000đ/kg. Nhờ cân đối giữa mua bán trên thị trường trong nước và thị trường tương lai, công ty đã đảm bảo có lãi. Nhận định chung: Thông thường giá trên thị trường hàng thật và thị trường tương lai biến động cùng chiều và với độ chênh lệch ổn định. Khi tham gia vào hợp đồng tương lai, các nhà XNK được bù trừ lãi lỗ thông qua 2 thị trường, khi trên thị trường hàng thật có lãi sẽ bù đắp khoản lỗ trên thị trường tương lai và ngược lại, chính điều này làm lợi cho các nhà XNK trong việc cố định được giá với đối tác mà không sợ biến động trên thị trường. Future Physical Phân tích một hợp đồng cụ thể: Căn cứ Hợp đồng số SW/V/02.12.08/P/271 ngày 2/12/2008 ( phụ lục kèm theo) giữa công ty FONEXIM HCM với công ty SW COMMODITIES LTD. Công ty ký bán 8 lot » 76.8 tấn cà phê Robusta loại 1, ngày giao hàng là tháng 02/2009, theo điều khoản về giá như sau: Giá kỳ hạn LIFFE Robusta tháng 03/09, trừ lùi 155 USD/tấn, ngày chốt (fix) giá cuối cùng là ngày 02/03/09. Trong trường hợp bên bán không chốt giá vào ngày chốt giá cuối cùng, bên mua sẽ chốt giá tự động theo giá thị trường LIFFE vào thời điểm đó. Nếu hợp đồng chưa được chốt giá vào lúc giao hàng thì bên mua phải trả cho bên bán 70% giá trị tiền hàng thị trường LIFFE vào tháng 03/09 theo ngày B/L trừ giá trừ lùi, khoản tiền còn lại sẽ được trả sau khi hoàn tất việc chốt giá của toàn bộ hợp đồng. Nếu mức giá thị trường LIFFE giao tháng 03/09 rớt xuống tới mức giá mà bên mua đã trả 70%, SW COMMODITIES sẽ chốt giá theo giá thị trường. Theo hợp đồng đã ký kết, công ty FONEXIM HCM đã ký với giá theo Provisional Invoice theo giá đóng cửa ngày 19/02/2009 là 1577 USD, trừ lùi 155 USD. Vào ngày giao hàng, SW trả trước cho FONEXIM HCM 70% giá trị tiền hàng là : (1577 – 155) x 70% = 995 USD đây cũng là mức stop-loss, mức chặn lỗ trên hoá đơn tạm tính. 30% còn lại, SW sẽ trả cho FONEXIM vào ngày chốt giá cuối cùng. 30% phần tiền còn lại được tính như sau: (Giá chốt – giá trừ lùi) x lượng hàng = tổng tiền thật – 70% giá trị hàng đã nhận được theo Provisional Invoice Giá chốt trên Final Invoice là 1,414 USD, mức trừ lùi 222 USD Tổng tiền thật: (1414 - 222) x 76.8 = 91,545.60 USD Mức tiền nhận từ 70% trên Provisional Invoice là 76,416.00 USD Mức tiền còn lại là 15,129.60 USD Theo hợp đồng trên, do từ lúc ký kết hợp đồng đến lúc chốt giá quy định trong hợp đồng giá liên tục giảm nên công ty không thể chốt giá vì không thể bù lỗ, công ty đã chuyển tháng 3 lần, kỳ hạn tháng 5, tháng 7 và chốt giá kỳ hạn tháng 9, giá trừ lùi tăng do cộng từ khoảng chênh lệch tỷ giá giữa các kỳ hạn và cộng 20USD phí cho mỗi lần chuyển, mức trừ lùi từ 155 USD đến 222 USD. Vào ngày chốt giá cuối cùng, nếu FONEXIM HCM không chốt giá mà để giá rơi chạm mức stop-loss, FONEXIM HCM sẽ mất quyền bán lô hàng này và SW sẽ tự động fix giá theo giá thị trường vào ngày đó, hai bên thanh lý hợp đồng, FONEXIM HCM sẽ nhận được 30% còn lại tuỳ thuộc khoảng chênh lệch giá, thậm chí mất luôn khoảng tiền này nếu giá xuống quá thấp. Sau khi ký kết hợp đồng xuất bán, đây được gọi là hợp đồng ngoại, công ty tiến hành thu mua cà phê từ trong nước, ở đây ký hợp đồng với công ty Hoàng Đạo (hợp đồng nội), mua 76,8 tấn. Khối lượng hàng bán cho SW phải tương đương với lượng hàng mua trong nước. Tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch khối lượng vì theo thị trường Luân Đôn, quy định 1 lot = 10 tấn, 76,8 tương đương 8 lot, nếu khoảng chênh lệch này quá lớn sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty vì để mua khối lượng hàng trên công ty phải trả bằng tiền mặt cho khách hàng nội địa thông qua tiền vay của ngân hàng, lãi suất được tính vào hàng ngày, nếu không chốt giá ở mức có lời công ty sẽ liên tục lỗ do tiền vốn không thu được và lãi suất ngân hàng phát sinh. Giá mua hàng nội địa phải thấp hơn giá bán kỳ hạn mới có lời, ở đây công ty mua với giá 24.800.000 đ/tấn. Sau khi mua được lượng hàng cần thiết để xuất khẩu, công ty tiến hành giao hành, chốt giá nhận khoảng tiền 30% còn lại, sau đó thanh lý hợp đồng, tính toán lời lỗ. TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG GIÁ CÀ PHÊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY Trường hợp đã có hợp đồng nội, tức là đã có hàng để bán, ví dụ mua 100 tấn cà phê giá 25.000 đ/kg, cộng tiền hàng với chi phí xuất khẩu = giá FOB + khoảng trừ lùi sẽ thành giá thị trường LIFFE, khoảng 1520 USD là có lời, và kỳ vọng giá 1550 USD. Nếu mức giá lên đến giá kỳ vọng thì dĩ nhiên doanh nghiệp có lời trên cả hai hợp đồng nội và hợp đồng ngoại. Nhưng nếu giá giảm thì thậm chí giảm hơn mức giá kỳ vọng, khi đó sẽ lỗ một khoảng rất lớn do tiền vốn bỏ ra rất lớn cộng với tiền lãi ngân hàng phải trả do mua hàng nội địa. Trường hợp đối với hợp đồng ngoại, giá tăng so với lúc ký kết hợp đồng và chốt giá vào ngay thời điểm đó, công ty sẽ được lời. Nếu giá liên tục giảm đến nỗi không thể fix được, đến thời hạn chốt giá, người bán có 2 quyền chọn: Phải chốt giá ở bất kỳ mức giá nào vào ngày chốt giá cuối cùng trên Hợp đồng cho dù ở mức giá đó vẫn không bù lỗ. Thực hiện chuyển tháng: mức trừ lùi sẽ tăng do cộng thêm phần chênh lệch giữa các kỳ hạn và phí chuyển tháng là 20USD cho mỗi lần chuyển, nếu kỳ hạn những tháng sau vẫn giảm thì khoảng lỗ của công ty sẽ rất lớn do tiền chuyển tháng cao cũng với việc phải trả lãi suất cho Ngân hàng. KẾT LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI ĐỂ PHÒNG NGỪA BIẾN ĐỘNG GIÁ CẢ Hơn một năm tham gia giao dịch hợp đồng tương lai, công ty đã đạt được những thành công đó là doanh thu tăng hơn so với thời kỳ thực hiện uỷ thác xuất khẩu, lợi ích từ tham gia giao dịch hợp đồng tương lai mang lại đó là bảo hộ được hàng hoá của mình, kiểm soát giá cả thị trường tương lai, hạn chế rủi ro do biến động giá, bảo vệ lợi nhuận, tạo khả năng linh hoạt trong đặt giá, gắn hoạt động kinh doanh của công ty gần với thị trường quốc tế, phòng ngừa rủi ro cho hàng tồn kho và hàng đã fix giá và có thể kiếm lời do dự đoán đúng về tình hình biến động giá, đưa ra những quyết định đúng đắn mang lại lợi nhuận cho công ty, tuy nhiên do ảnh hưởng của giá thị trường thế giới biến động thất thường trong giai đoạn hiện nay cũng có những khoản lỗ đã ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của công ty. Việc sử dụng hợp đồng tương lai được xem một công cụ phòng ngừa rủi ro một cách có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay tuy vậy công ty chỉ mới tham gia vào sân chơi lớn chỉ trong thời gian ngắn, kinh nghiệm còn ít, yêu cầu đặt ra là cần phải hết sức thận trọng, nhận định một cách sáng suốt, toàn diện toàn bộ bối cảnh của thị trường để đưa ra lệnh chốt giá đúng lúc mang lại hiệu quả cho công ty. CHƯƠNG 3 – MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC SỬ DỤNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ CÀ PHÊ TẠI CÔNG TY FONEXIM HCM. DỰ BÁO NHU CẦU CÀ PHÊ CỦA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG CUNG CẤP CỦA VIỆT NAM Nhu cầu cà phê của thị trường thế giới: Trong năm 2009, nhu cầu tiêu thụ cà phê toàn cầu khoảng 130 triệu bao (tăng không đáng kể - chỉ chiếm 0,6% so với năm 2008). Mỹ, Braxin và các nước Châu Âu là các quốc gia tiêu thụ cà phê lớn trên thế giới, chiếm gần 62% lượng tiêu dùng cà phê toàn cầu, nhưng tăng trưởng tại các nước này lại giảm mạnh (Mĩ: -0,9%, Bra-xin: 3,8% và các nước Châu Âu: -1,2%). Những động thái cung cầu như đã phân tích ở trên cho thấy trong năm 2009 sản lượng cà phê toàn cầu sẽ bị thặng dư 7,6 triệu bao (tăng hơn 5 triệu bao so với dự đoán trong năm 2008). Như vậy, hàng tồn kho sẽ tăng 42 triệu túi và kéo theo tăng tỷ lệ hàng dự trữ cho tiêu dùng từ 26,7 triệu cao năm 2008 lên 32,4 triệu bao năm 2009. Ngoài những thị trường như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Ý, Pháp, Canada, Anh... là những thị trường nhập khẩu cà phê hàng đầu thế giới, năm 2009, những thị trường tiềm năng cho xuất khẩu cà phê toàn cầu được thống kê trong bảng dưới đây : Bảng 3.1: Các thị trường tiềm năng cho xuất khẩu cà phê thế giới năm 2009 Country Kim ngạch nhập khẩu cà phê 11 tháng năm 2008 (triệu USD) Tăng trưởng nhập khẩu cà phê 11 tháng năm 2008 (%) Tăng trưởng kinh tế năm 2008 (%) Tăng trưởng kinh tế năm 2009 (%) Bỉ 1.099 99,07% 1,4% 0,2% Áo 420 18,42% 2,0% 0,8% Thuỵ Sĩ 389 29,60% 1,7% 0,7% Hàn Quốc 263 41,17% 5,0% 4,1% Nguồn: AGROINFO tổng hợp – Ghi chú: (*) dự báo của IMF Bỉ là thị trường tiềm năng đứng đầu với kim ngạch nhập khẩu cà phê 11 tháng năm 2008 gần 1,1 tỉ USD, đống thời cũng là thị trường có tăng trưởng nhập khẩu cà phê lớn nhất (đạt 99,07% so với năm 2007). Năm 2009, tăng trưởng kinh tế của Bỉ sẽ đạt khoảng 0,2%, nhu cầu nhập khẩu cà phê sẽ tăng nhẹ cùng với sự tăng trưởng kinh tế. Rumani là thị trường nhập tiềm năng khẩu cà phê có tăng trưởng kinh tế lớn nhất trong năm 2008 với tốc độ 8,6%. Năm 2009, dựa vào tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo dự báo sẽ đạt 4,8%), thị trường Rumani được kỳ vọng sẽ là một trong những thị trường có tiềm năng rất lớn nhập khẩu cà phê của thế giới. Slovakia là một trong số ít các thị trường có tăng trưởng nhập khẩu cà phê lớn hơn 50% trong 11 tháng đầu năm 2008. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ổn định (năm 2008 đạt 7,4%, năm 2009 dự báo đạt 5,6%), Slovakia sẽ tiếp tục là thị trường có tăng trưởng nhập khẩu cà phê lớn của thế giới năm 2009. Các thị trường tiềm năng khác (Áo, Thụy Sỹ, Thụy Điển, Hàn Quốc, Bồ Đào Nha...) được dự báo sẽ đạt tăng trưởng kinh tế dương năm 2009 và sẽ tiếp tục tăng kim ngạch nhập khẩu cà phê. Đây sẽ là những thị trường xuất khẩu rất tốt cho ngành cà phê thế giới trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm kéo theo nhu cầu tiêu dùng cà phê ở các thị trường chính đang có xu hướng giảm đi. (Trích từ ”Báo cáo thường niên ngành hàng cà phê Việt Nam 2008 và triển vọng 2009“ của Trung tâm Thông tin PTNNNT) Khả năng cung cấp cà phê của Việt Nam Dự báo khả năng cung cấp cà phê năm 2009 Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA), sản lượng cà phê năm 2009 của Việt Nam ước đạt khoảng 16 triệu bao (tương đương với 960.000 tấn). Như vậy theo VICOFA, sản lượng năm 2009 sẽ giảm nhẹ khoảng 0.65% so với năm 2008 tương đương khoảng 6.300 tấn. Còn theo dự báo của Hiệp hội cà phê thế giới, sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ không giảm nhiều trong vụ 2009 do cây cà phê vẫn còn “trẻ”, trong 3 năm tới, cà phê Việt Nam sẽ cho sản lượng khoảng 18-21 triệu bao (tương đương với 1,08 – 1,26 triệu tấn). Thực trạng ngành hàng cà phê Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Chưa bao giờ kinh doanh cà phê lại khó khăn như hiện nay. Từ đầu tháng 7/2009 trở lại đây giá cà phê giao dịch trên thị trường thế giới biến động khá thất thường. Giá giao dịch vào đầu tháng 7 giảm 19 USD/tấn so với ngày cuối tháng 6 nhưng vài hôm sau lại tăng trở lại 30 USD/tấn. Đà tăng tiếp tục duy trì vài ngày sau đó nhưng rồi lại đột ngột giảm trở lại 12 USD/tấn. Giá cà phê hiện tại chỉ còn 1.323 USD/tấn, giảm tới 1.433 USD/tấn (giá tháng 7/2009) so với thời điểm đầu tháng 3 năm 2008 khi giá cà phê lên tới mức đỉnh là 2.757 USD/tấn. Trong khi đó, ở thị trường nông thôn, một số đại lý nhỏ đã không ngừng ngại thu gom cà phê với mức giá cao hơn từ 500 – 700 đồng/kg, khoảng 24.000 – 24.200 đồng/kg. Trước diễn biến thất thường của thị trường cà phê trên thế giới trong những ngày qua đã làm cho nhiều doanh nghiệp kinh doanh cà phê càng thêm lúng túng. Theo mức giá giao dịch của ngày 2/7 là 1.323 USD/tấn thì giá tương ứng mà các doanh nghiệp thu mua trong nước phải là dưới 21.500 đồng/kg mới có lãi. Đằng này, do khan hàng nên nhiều doanh nghiệp đã phải chịu lỗ tới 2.000 đồng/kg để thu gom cà phê với mức giá ngoài ý muốn là 23.500 đồng/kg. Có thể khẳng định giá cà phê trong thời gian qua không còn tuân theo quy luật cung cầu nữa mà đang bị giới đầu cơ lũng đoạn. Bởi sản lượng cà phê thực tế không còn nhiều. Sản lượng cà phê niên vụ 2008- 2009 của VN đạt 960.000 tấn, qua 6 tháng đầu năm đã bán đươc trên 2/3 số đó. Như vậy, lượng cà phê còn lại của Việt Nam chỉ từ 220.000 đến gần 300.000 tấn thì chưa đủ để xuất theo các hợp đồng đã ký đến thời điểm này. Trong khi đó, hầu hết sản lượng cà phê của Việt Nam được bán qua khâu trung gian cho các nhà đầu cơ nước ngoài (hiện có tổng cộng 12 doanh nghiệp nước ngoài đang thu mua cà phê ở Việt Nam) chứ mới chỉ có lèo tèo vài doanh nghiệp tham gia giao dịch trực tiếp trên thị trường LIFFE (London) với số lượng vài ba lô hàng. Do bán qua khâu trung gian và xử lý thông tin kém, cộng thêm thiếu tính liên kết nên hồi đầu tháng 6 vừa qua, các nhà đầu cơ đã tung tin rằng giá cà phê sẽ tăng đột biến vào cuối tháng do khan hiếm hàng khiến cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam đua nhau đầu cơ tích trữ, mạnh ai nấy làm. Chỉ sau một thời gian ngắn, khi các Quỹ đầu cơ ngừng mua vào thì họ lại tung tin giá cà phê sẽ giảm mạnh trong thời gian tới đã làm nhiều doanh nghiệp Việt Nam chới với, sợ lỗ nên bán túng, bán tháo để trả nợ. Đến nay, số lượng cà phê còn lại của niên vụ vừa qua chưa đáp ứng đủ số lượng hợp đồng đã ký với khách hàng, nhưng ngặt nỗi hầu hết số hàng này đang bị kẹt ở trong dân. Doanh nghiệp cũng chỉ là người mua đi, bán lại còn người quyết định đầu cung vẫn là người nông dân. Đây cũng là một cái khó nữa khiến các doanh nghiệp Việt Nam vì thiếu khả năng tài chính và cung cách làm ăn thiếu chuyên nghiệp đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Giá thấp thì người dân và các đại lý nhỏ găm hàng không bán, giá cao thì doanh nghiệp thua lỗ. Đó cũng là một nghịch lý. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TƯƠNG LAI NÓI CHUNG VÀ THỊ TRƯỜNG TƯƠNG LAI CÀ PHÊ NÓI RIÊNG TẠI VIỆT NAM Thị trường tương lai tại Việt Nam Thị trường giao sau ở Việt Nam chưa phát triển, chỉ có một số hàng hoá như ngoại tệ, vàng được các Ngân hàng thực hiện. Các giao dịch về café, gạo cũng được 1 số nhà kinh doanh thực hiện trên thị trường quốc tế. Luật chứng khoán Việt Nam cũng đã có quy định về các hình thức giao dịch giao sau, tuy nhiên trên thực tế thì vẫn chưa thể áp dụng vì chưa được hướng dẫn thực hiện cụ thể. Những phương thức này chỉ có thể áp dụng khi thị trường chứng khoán Việt Nam đảm bảo các yếu tố về hạ tầng kỹ thuật, pháp lý và phát triển đến một trình độ cao hơn nhiều so với hiện nay. Một số ngân hàng như HSBC, Standard Charter,ABN, Citi …đã có những giao dịch hoán đổi lãi suất lớn, ngoại tệ trên thị trường Việt Nam tuy nhiên về các giao dịch giao sau thì vẫn chưa thực hiện được. Ví dụ: HSBC đã cung cấp gói Swaps tiền Đồng cho một công ty đa quốc gia với số vốn lên tới 15 triệu USD trên tại trường Việt Nam. Theo đó,  HSBC sẽ đưa VND và nhận USD từ khách hàng, tới tháng 12/2007, HSBC sẽ đưa USD và nhận lại VND từ khách hàng. Với giao dịch này, khách đã đạt được mức lãi suất cạnh tranh nhất trên thị trường nội địa cho việc vay vốn tiền Đồng kỳ hạn 3 năm mà không chịu bất cứ một rủi ro nào về tỷ giá USD/VND Thị trường tương lai cà phê Trong những năm gần đây, giao dịch hợp đồng tương lai cũng được Nhà Nước nghiên cứu và cho áp dụng thí điểm. Năm 2004, Ngân hàng Nhà Nước lần đầu tiên đã cấp cho ngân hàng Việt Nam là Ngân Hàng Techcombank được quyền giao dịch hợp đồng tương lai (Futures Contract) trên thị trường trực tiếp với các sàn giao dịch nước ngoài. Luật Thương Mại ra ngày 14/6/2005, có hiệu lực vào đầu năm 2006, đã cho phép “mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa”, bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. Theo luật: “thương nhân VN được quyền hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ”. Nghị định của Chính phủ về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa sẽ được ban hành. Đây là hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn tham gia giao dịch trên LIFFE. Lần đầu tiên ở nước ta, loại giao dịch hợp đồng tương lai đối với mua bán cà phê được thực hiện vào ngày 6/11/2004 giữa Công ty Đầu Tư Xuất Nhập Khẩu Đắk Lắk (Inexim Dak Lak) với sàn giao dịch LIFFE (London Internationnal Financial Futures & Options Exchange) thông qua nhà môi giới Techcombank. Từ đó đến nay, đã có nhiều doanh nghiệp thực hiện phương thức mua bán này đạt hiệu quả khá cao. Số lượng doanh nghiệp tham gia LIFFE chủ yếu tập trung ở Đắk Lắk, Gia Lai, Bình Dương, TP.HCM và Hà Nội. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp chiếm 40%, còn lại là đại lý thu mua, chế biến cà phê. Tổng số lượng giao dịch tính đến nay trên 70.000 lot (5 tấn/lot), tức 350.000 tấn cà phê nhân, từ tháng 3 năm 2009, 1 lot = 10 tấn. Với mục tiêu sử dụng hợp đồng tương lai (Futures Contract) làm công cụ phòng chống rủi ro (Hedging) để tránh thua thiệt về giá cho thị trường hàng thật, khoảng một nửa sản lượng cà phê nhân Robusta xuất khẩu trong nước đang được xuất khẩu thông qua thị trường giao dịch LIFFE. Có thể nói, đây là thành công bước đầu của các doanh nghiệp Việt Nam trên đường hội nhập. Sau thời gian tham gia giao dịch tương lai kết quả đạt được là làm cho thị trường trong nước gần hơn với thị trường quốc tế về giá xuất khẩu, tạo khả năng linh hoạt trong đặt giá, phòng ngừa rủi ro cho hàng tồn kho hay hàng đã chốt giá và tận dụng đòn bẩy tài chính, để kiếm lời. Tuy nhiên, sau thời gian tham gia thị trường Luân Đôn, sử dụng công cụ tài chính phòng ngừa rủi ro qua các hợp đồng tương lai đã xảy ra một số biến tướng như: Nghề mua bán hợp đồng tương lai mới du nhập vào nước ta nên còn rất mới mẻ, khả năng phân tích và tập hợp thông tin về thị trường thế giới có hạn vì thế không ít doanh nghiệp dự đoán sai giá cả tương lai nên đã chịu thua lỗ nặng. Một số doanh nghiệp đã tự đứng ra làm trung gian giao dịch để thu phí bất hợp pháp từ các đối tượng không đủ điều kiện giao dịch với Techcombank, trong khi các đối tượng chưa được khuyến cáo đầy đủ, chưa hiểu biết sâu về phương thức này và thực sự không có cà phê, năng lực tài chính lại quá nhỏ bé so với các đại gia nước ngoài vì thế việc thua lỗ là tất yếu. Các doanh nghiệp không xem nó như một công cụ phòng, chống rủi ro khi thị trường biến động, mà tham gia giao dịch mang tính đầu cơ, “đỏ, đen”, đặt lệnh mua bán khống, không có cà phê Robusta vẫn tham gia giao dịch với thị trường LIFFE (London), không có cà phê Arabica vẫn giao dịch với thị trường NYBOT (New York). Lúc đầu, giao dịch qua LIFFE chỉ có các nhà xuất khẩu cà phê, đại lý với hy vọng tránh rủi ro do biến động giá trên thị trường thế giới. Ví dụ như ở Buôn Mê Thuộc, đến mùa thu hoạch, người dân: giáo viên, viên chức, dân buôn bán tạp hoá thường bỏ tiền ra mua vài tấn cà phê để gửi vào kho các công ty xuất khẩu chờ giá lên thì bán, xem như một hình thức tiết kiệm rất chính đáng. Nhưng bây giờ nhiều người đã chuyển sang mua “hàng giấy” như kiểu bà nội trợ, ông cán bộ hưu trí ở TP.HCM tham gia chơi chứng khoán khi thấy thị trường nóng lên cách nay hơn hai tháng. Thậm chí còn xuất hiện đội ngũ cò mời gọi chơi “hàng giấy”. Tuy nhiên, do phải ký quỹ 8-10% giá hàng thật tại cùng thời điểm (gọi là margin) và mở tài khoản ngoại tệ tại Techcombank nên những người chơi “hàng giấy” lách bằng cách giao dịch qua các công ty có đủ điều kiện đăng ký giao dịch với LIFFE thông qua ngân hàng này. Một chuyên gia cà phê thừa nhận, trong 33 doanh nghiệp tham gia giao dịch với LIFFE qua Techcombank thì gần một nửa là doanh nghiệp tư nhân và họ sẵn sàng rủ rê những người khác tham gia giao dịch. Các “nhà cái” được hưởng chênh lệch phí giao dịch nộp cho Techcombank mà người chơi “hàng giấy” đóng vào. Chẳng hạn, mức phí giao dịch mà Techcombank thu cả hai chiều mua và bán cho 1 lot là 28 USD nhưng “nhà cái” thu của người chơi 30 USD. Đấy là chưa kể, càng nhiều người tham gia thì khối lượng giao dịch càng lớn và mức phí mà “nhà cái” nộp cho Techcombank càng giảm. Ví dụ: giao dịch cả hai chiều hơn 300 lot trong một tháng thì mức phí giảm xuống 26 USD/lot và hơn 800 lot mỗi tháng thì phí chỉ còn 20 USD, nhưng “nhà cái” vẫn thu đủ của người chơi “hàng giấy” 30 USD/lot. Một nhà xuất khẩu cà phê có tham gia giao dịch qua mạng cho biết, hiện nay có ít nhất 70 doanh nghiệp chuyên chơi “hàng giấy” nhưng phần lớn chưa hề trực tiếp xuất khẩu cà phê và phải chơi qua các “nhà cái”. Chơi “hàng giấy” không khác gì chơi hụi, có thể vỡ nợ dây chuyền. Các cá nhân không nắm rõ nghiệp vụ rõ nghiệp vụ tham gia thị trường giao dịch kỳ hạn. Vì thị trường giao dịch cà phê quốc tế như LIFFE hay NYBOT rộng lớn rất nhiều so với thị trường nội địa. Một đêm giao dịch có thể lên đến 50.000 – 70.000 lots (1 lot = 5 tấn cà phê), trong khi mỗi tháng Việt Nam chỉ có thể xuất khẩu vài chục ngàn tấn cà phê, cao nhất là 140.000 tấn/ tháng. Mức độ biến động giá cả nhiều khi rất cao trong một phiên giao dịch, có thể trên dưới 40 - 60 USD/tấn. Nếu liên tục trong 3 phiên, khoảng chênh lệch lên đến 120-180 USD/tấn, chạm “stop loss”, do mức ký quỹ 8-10% trên giá trị giao dịch của doanh nghiệp và một mức quỹ duy trì với Ngân hàng để đảm bảo giá trị tài khoản trên sàn giao dịch thế giới. Những biến động gần đây có lúc lên đến 100, có trường hợp lên đến 300 USD/ phiên, đây là mức nguy hiểm, do đa số các DN năng lực tài chính hạn chế. Rủi ro còn cao hơn trong giao dịch với thị trường NYBOT (chuyên cà phê Arabica - ở Việt Nam số lượng rất ít). Những cảnh báo này được đưa ra, khi công cụ phòng chống rủi ro đang bị biến tướng thành trò cờ bạc hợp pháp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Thời gian đầu, giao dịch qua LIFFE là nhà xuất khẩu cà phê chính thống, đại lý và nếu có là nông dân. Giờ đây hình thức giao dịch này trở thành “cơn sốt” ở Đắk Lắk (nhất là TP Ban Mê Thuột), đang mở rộng ra Đồng Nai, TPHCM... khi ai cũng có thể tham gia (như phong trào chơi thị trường chứng khoán của người dân TPHCM, Hà Nội). Chỉ bỏ ra khoảng 10% giá trị trên thị trường có được 1 lot (5 tấn cà phê) dù là trên giấy. Khoảng 40 doanh nghiệp tham gia giao dịch trực tiếp thị trường LIFFE nhưng có người dự đoán, con số thực tế gần gấp đôi, đa phần đều chưa trực tiếp xuất khẩu cà phê và chỉ chơi “ké” thông qua các doanh nghiệp đã đăng ký với Ngân hàng. Những doanh nghiệp hay cá nhân này đơn thuần mua vào, chờ giá lên bán ra hay giá xuống, để mua vào, nhằm kiếm lời nhanh nhất, nên rủi ro rất cao. Con số lỗ hiện nay lên đến bạc triệu USD rơi vào những đối tượng này, do không nắm rõ công cụ khi giao dịch với LIFFE hay NYBOT. Trong khi, doanh nghiệp kinh doanh cà phê thực sự, kết hợp hợp đồng kỳ hạn trên LIFFE dù lợi nhuận ít, nhưng mức rủi ro thấp hơn. NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ HẠN CHẾ KHI THAM GIA GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI CỦA CÔNG TY. Tham gia vào thị trường giao dịch tương lai từ đầu năm 2008, kết quả đạt được đó là bảo hộ được hàng hoá của mình, tuy nhiên đang trong thời gian dò dẫm thực hiện cũng gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế như: Khó khăn Thời gian giao dịch theo giờ Luân Đôn có giờ mở cửa từ 16h chiều Việt Nam và kết thúc vào nửa đêm. Việc thức đêm giao dịch là một bất lợi cho các nhà kinh doanh cà phê nói chung và công ty nói riêng. Giao dịch hàng hóa trên thị trường giao sau và sử dụng hợp đồng tương lai để thực hiện giao dịch là một vấn đề hết sức phức tạp và còn rất mới mẻ ở Việt Nam nên cần có trình độ chuyên môn vững vàng để tham gia giao dịch. Giá cà phê thế giới giảm là do hoạt động giao dịch trên thị trường thế giới khá trầm lắng vì không còn hàng, việc thu mua hàng hết sức khó khăn. Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta đứng thứ hai thế giới nhưng trong những tháng qua, hầu hết các nhà xuất khẩu cà phê của Việt Nam cố thu gom cà phê hạt để hoàn thành hợp đồng xuất khẩu đã ký chứ không còn hàng để ký thêm các hợp đồng mới. Hiện nay Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam có 146 doanh nghiệp nhưng việc liên kết với nhau còn rất kém, doanh nghiệp nào cũng chỉ chọn phương thức bán hàng có lợi nhất cho công ty mình, không có sự phối hợp để điều tiết lượng hàng bán ra, điều tiết thị trường. Thậm chí có doanh nghiệp cố tình bán phá giá thị trường, làm ảnh hưởng tới việc kinh doanh của doanh nghiệp khác, điều này góp phần tạo điều kiện cho giới đầu cơ thừa cơ hội thao túng thị trường. Từ đầu năm đến nay, giá cà phê trên thị trường London liên tục giảm, doanh nghiệp đã ký hợp đồng giao xa rồi chờ chốt giá không còn cơ hội. Nhiều hợp đồng treo hết thời gian phải chuyển tháng, có hợp đồng từ tháng 3 chuyển sang tháng 5, giờ lại sang tháng 7, tháng 9, thậm chí tháng 11. Tại thời điểm này, áp lực chốt giá, chuyển thời gian hợp đồng rất lớn. Một số hợp đồng chuyển từ tháng 7 sang tháng 9 mất phí 35 USD/tấn, chuyển sang tháng 11 mất tới 50 USD/tấn. Thậm chí, có khi ký hợp đồng giao xa được nhà nhập khẩu ứng trước 70% hợp đồng, giá giao dịch xuống mạnh dưới cả giá đã ứng trước, hợp đồng tự động thanh lý, chỉ trong một ngày mà số lượng cà phê Việt Nam được hốt giá rẻ tới 5.000 lot (tương ứng 50.000 tấn). Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là doanh nghiệp Việt Nam dự báo sai diễn biến giá cả thị trường Hạn chế Việc nắm bắt thời cơ là rất quan trọng đối với việc kinh doanh cà phê bởi nếu bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào cũng có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty, mà điều này phụ thuộc chủ quan vào người giao dịch, người đó phải thật sự nhạy bén theo dõi từng diễn biến của thị trường, biến động giá, phán đoán kịp thời để đưa ra quyết định đúng đắn nhất mà điều này công ty vẫn còn thiếu do tham gia vào thị trường này trong thời gian quá ngắn, rất ít người hiểu biết kỹ về thị trường này. Không có bộ phận nghiên cứu thị trường và phân tích kỹ thuật, dự báo giá thị trường thế giới và trong nước một cách riêng biệt. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TY Chỉ giao dịch sau khi đã trang bị kiến thức thị trường tương lai, muốn vậy cần phải cho các nhân viên tham gia các khoá học hay hội thảo về các sản phẩm phái sinh và nghiệp vụ giao dịch hợp đồng tương lai để trang bị kiến thức nghiệp vụ và rèn luyện kỹ năng giao dịch. (giải pháp cho khó khăn 1b) Việc giao dịch vào ban đêm rất bất lợi cho các doanh nghiệp, vì vậy cần thành lập một phòng ban chuyên về giao dịch ban đêm, trong đó cần trang bị đầy đủ thiết bị cần thiết như hệ thống mạng, cơ sở vật chất để họ có thể làm việc một cách dễ dàng và thuận tiện (biện pháp này nhằm khắc phục khó khăn 1a ở trên) Trong giao dịch mua bán cà phê việc giữ cho mình một nơi bán cà phê đáng tin cậy và đảm bảo chất lượng hàng hóa là hết sức quan trọng. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với người nông dân trong việc thu gom hàng và đề ra phương thức và thời điểm bán hàng tối ưu, giữ mối quan hệ tốt với hệ thống thu mua của công ty bằng các biện pháp như mua gối đầu, hỗ trợ vốn cho người nông dân trong việc tưới tiêu, phân bón, xây dựng sân phơi cà phê cho nông dân, cung cấp thuốc trừ sâu, hỗ trợ thu hoạch khi tới mùa vụ, thường xuyên kiểm tra chất lượng cà phê từ lúc gieo hạt đến lúc thu hoạch nhằm đảm bảo tiêu chuẩn hàng xuất khẩu.(khắc phục khó khăn 1c) Trong tình hình hiện nay, khủng hoảng tài chính toàn cầu và kinh tế chạm đáy, thời gian phục hồi chậm, độ bền vững ít khả quan, các quỹ đầu cơ vẫn đang hoạt động mạnh. Thời gian tới, công ty nên bán hàng khi nắm chắc nguồn, giao hàng kèm với nhận hết tiền thanh toán, hạn chế giao hàng ứng vốn 70 % trong khi chưa có đủ thông tin về thị trường. Thị trường biến động khó lường, không nên bán kỳ hạn giao hàng quá xa, đàm phán điều chỉnh thời gian cho phù hợp với khả năng cung ứng từ nguồn hàng trong nước, đàm phán nâng mức tiền từ 70% lên 80 – 85% đối với các hợp đồng kỳ hạn. (biện pháp nhằm giải quyết khó khăn 1d) Doanh nghiệp cần tăng cường bán hàng cho các thương nhân tin cậy và biết chia sẻ lợi ích lâu dài, đánh giá lại các đối tác xem trong quá trình khủng hoảng vừa qua họ có còn trụ được hay không, khi tham gia thị trường kỳ hạn cần có đủ cán bộ nghiệp vụ am hiểu dự báo thị trường tương lai tương đối chính xác, lưu ý theo dõi tình hình thời tiết tại các vùng trồng cà phê để dự đoán thời điểm có hàng và giao hàng. Do chưa đánh giá được sản lượng và biến động của thời tiết niên vụ mới 2009/ 2010, các doanh nghiệp không nên ký kết các hợp đồng giao hàng.(biện pháp nhằm giải quyết khó khăn 1d) Thành lập phòng nghiên cứu biến động thị trường, phân tích kỹ thuật, phòng ngừa rủi ro. (biện pháp khắc phục hạn chế 2b) Công ty cần liên kết thông tin với những doanh nghiệp khác trong cùng ngành về vấn đề giá cả, tính cách trừ lùi hợp lý bởi vì kinh doanh trong một thế giới sôi động và chuyển biến không ngừng với đầy rủi ro và không ít cơ hội hiện nay đòi hỏi sự chia sẻ thông tin, chia sẻ lợi ích hài hòa của người trồng, chế biến và xuất khẩu để làm sao bên nào cũng có lợi để từ đó hợp tác với nhau. (biện pháp khắc phục khó khăn 1c) KIẾN NGHỊ NHÀ NƯỚC Nhà nước đã cho phép doanh nghiệp đầu tư vốn ra nước ngoài bởi vì muốn tham gia thị trường kỳ hạn thì phải có tiền đặt cọc, tiền mua chỗ ở Luân Đôn, thế nhưng hiện nay việc tiếp cận nguồn vốn vay của Nhà nước do lãi suất ngân hàng quá cao cùng với việc hạn chế vay ngoại tệ của các ngân hàng đã gây khó khăn cho các Doanh nghiệp, vì vậy Nhà nước cần có những chính sách tài chính thích hợp nhằm hỗ trợ cho các Doanh nghiệp Việt Nam phải xây dựng thành công nền kinh tế thị trường. Đây là điều kiện quan trọng nhất bởi vì nền kinh tế thị trường sẽ làm cho lượng cung, cầu về hàng hoá trong xã hội tăng cao, hàng hoá trong nước đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và có thể xuất khẩu những mặt hàng chủ lực nhưng đồng thời trong đó cũng xuất hiện những rủi ro về giá hàng hoá và do đó, việc sản xuất, xuất khẩu tìm cơ hội để bảo hộ rủi ro về giá là nhu cầu hoàn toàn chính đáng, cần Hiệp Hội Cà Phê Ca Cao Việt Nam cần xây dựng nên quỹ bảo hộ rủi ro cà phê, quỹ này do một phần là do Nhà Nước cấp, một phần từ các doanh nghiệp kinh doanh cà phê đồng thời kêu gọi sự tài trợ từ những người trồng cà phê, hệ thống thu mua trên toàn quốc. Luật Thương Mại đã ban hành Nghị Định về giao dịch hàng hoá tại Sở Giao Dịch tuy nhiên vẫn còn đề cập rất ít, chưa có luật về giao dịch tương lai hoàn chỉnh và chi tiết vì vậy khi xảy ra thua lỗ, các doanh nghiệp không biết báo cáo thế nào. Vì thế, Nhà Nước phải có hệ thống pháp luật riêng về hoạt động giao dịch tương lai, mặc khác, giao dịch hợp đồng tương lai là một giao dịch tài chính phức tạp, việc phải có hành lang pháp luật điều chỉnh sẽ giúp cho quyền và chủ thể tham gia trên thị trường được bảo vệ, đồng thời giúp cho nhà nước quản lý tốt hơn loại thị trường mới mẻ này. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay như gạo, đồ uống, cà phê, rau quả, thuỷ sản, khoáng sản... đang gặp phải những rào cản về môi trường rất lớn liên quan đến tiêu chuẩn của sản phẩm như tiêu chuẩn và quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, quá trình chế biến, chất lượng hàng hoá, nhãn môi trường, bao bì đóng gói.Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai là các thị trường có chất lượng môi trường rất cao, khách hàng rất quan tâm đến vấn đề sức khoẻ và an toàn (thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Singapore...). Do vậy, ngoài việc đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, hàng hoá Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức rất lớn để đáp ứng các yêu cầu môi trường trong việc tiếp cận các khu vực thị trường nói trên. Quyết định số 06/2007/QĐ-BTS được ban hành ngày 11-7, nêu rõ việc áp dụng những biện pháp cấp bách kiểm soát dư lượng hoá chất, kháng sinh cấm trong thuỷ sản xuất khẩu. Quyết định của Bộ Thuỷ sản nêu rõ, từ nay chỉ những doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Bộ Thuỷ sản mới được phép xuất khẩu. Khi tham gia giao dịch cà phê thông qua sàn giao dịch cũng là lúc đưa sản phẩm của nước ta tiếp cận với thị trường thế giới yêu cầu cấp thiết đặt ra là hàng hoá của ta cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của quốc tế về tiêu chuẩn hàng hoá. Bởi vì chỉ có những hàng hoá đáp ứng đủ tiêu chuẩn quốc tế mới được các sở giao dịch hợp đồng tương lai trên thế giới chấp nhận mà thị trường Việt Nam không thể tách khỏi thị trường quốc tế trong thời đại hiện nay. Nhà nước cần thành lập tổ chức kiểm tra chất lượng cà phê, giống như đối với ngành hàng thuỷ sản, chỉ những hàng hoá đủ chất lượng mới được xuất khẩu. Nhà nước cần xây dựng một mô hình quy trình kiểm tra chứng từ chuẩn để đảm bảo giao dịch tương lai được thực hiện trên cơ sở hàng hoá thực, mục đích là tránh sự lợi dụng hợp đồng tương lai để đầu cơ. LỜI KẾT LUẬN Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, là sản phẩm quan trọng thu nhiều ngoại tệ góp phần cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên trong thời gian qua, việc phát triển cà phê một cách quá nhanh đồng thời cùng với sự biến động giá cả thị trường cà phê thế giới đã ảnh hưởng đến tình hình phát triển ngành hàng cà phê tại thị trường trong nước. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải có những chính sách, kế hoạch, cần phải thật sự tỉnh táo để phân tích diễn biến của thị trường để đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm hạn chế những khó khăn, đưa ngành cà phê Việt Nam thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ đầu của sự nghiệp Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Cùng với sự nỗ lực của toàn ngành, FONEXIM HCM đã kịp thời đưa ra những chính sách hết sức cần thiết và đúng đắn đưa công ty từng bứơc vượt qua những khó khăn, chứng tỏ bản lĩnh vững vàng của mình. Với đội ngũ lãnh đạo tài tình cùng với đội ngũ nhân viên nhịêt tình và có trách nhiệm, tin rằng Công Ty sẽ không ngừng phát triển và thương hiệu ngày càng đứng vững trong tương lai. Xin kính chúc Quý Công Ty ngày càng phát triển bền vững và lớn mạnh! TÀI LIỆU THAM KHẢO TS. Bùi Lê Hà, TS. Nguyễn Văn Sơn, TS. Ngô Thị Ngọc Huyền, ThS. Nguyễn Thị Hồng Thu (2000), Giới thiệu thị trường FUTURE và OPTION, Nhà Xuất Bản Thống Kê, trang 10 – 70. Lê Quang Hưng (1999), Kỹ thuật trồng và thu hoạch cà phê xuất khẩu, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, trang 4 – 10, trang 161 – 169. Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 26/12/2006 – hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá. Các trang web: www.thienduongcafe.com www.thegioicafe.vn www.tuoitre.com.vn Tin cà phê của Hiệp Hội Cà Phê – Ca Cao Việt Nam tại www.vicofa.org.vn/vicofa/tintuc.shtml Thông tin giá cà phê tại www.giacaphe.com, www.giacaphetructuyen.com Chuyên trang cà phê tại trang xúc tiến thương mại của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại địa chỉ www.agro.gov.vn/caphe Báo cáo thị trường của tổ chức cà phê thế giới tại địa chỉ Tin cà phê ca cao trên trang web của trung tâm xúc tiến thương mại, bộ thương mại tại địa chỉ: Tìm hiểu giao dịch hàng hoá phái sinh trên trang web: https://techcombank.com.vn Tìm hiểu về hợp đồng tương lai trên các địa chỉ: www.vietnamnet.vn, Tạp Chí Kinh Tế Phát Triển/2005, www.webketoan.com, PHỤ LỤC Phụ lục 1: Chứng từ hợp đồng số SW/V/02.12.08/P/271 Hợp đồng ngoại Provisional Invoice Final Invoice Thư fix giá Hợp đồng nội Packing List Tờ khai hải quan xuất khẩu Phụ lục 2: Các loại lệnh thông dụng trong giao dịch kỳ hạn trên thị trường cà phê Phụ lục 3: Các sàn giao dịch phái sinh cà phê trên thế giới

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLuan van tot nghiep.doc
  • docBIA.doc
  • docloi nhan xet.doc
  • docMCLCLU~1.DOC
  • docphu luc 3.doc
Luận văn liên quan