Sử dụng các loại kích dục tố kích thích cá trôi Ấn Độ (labeo rohita) sinh sản

Nhiệt độ khác nhau thì thời gian tiêu hết noãn hoàn cũng khác nhau. Qua khảo sát biết được khi nhiệt độ càng cao thì thời gian tiêu hết noãn hoàng càng diễn ra nhanh hơn.Nhận định này phù hợp với những nghiên cứu của các tác giả trước đây sự tác động của nhiệt độ đến việc thành thục và phát triển của phôi “tốc độ phát dục thành thục của cá tỷ lệ thuận với nhiệt độ nước”. Cá là loài động vật biến nhiệt nên cường độ và tốc độ phản ứng sinh hóa chịu ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ của môi trường.

pdf38 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/11/2013 | Lượt xem: 2482 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sử dụng các loại kích dục tố kích thích cá trôi Ấn Độ (labeo rohita) sinh sản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
. ĐIỀU KIỆN AO NUÔI VỖ CÁ BỐ MẸ ............................................... 20 4.2. SỰ THÀNH THỤC CỦA CÁ BỐ MẸ .................................................. 21 4.3. ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ THÀNH THỤC................................... 23 4.4. KÍCH THÍCH CÁ SINH SẢN............................................................... 24 4.5. ẢNH HƯỞNG THỜI GIAN HIỆU ỨNG THUỐC................................ 26 4.6. KẾT QUẢ NUÔI VỖ CÁ TÁI PHÁT DỤC .......................................... 26 4.7. KHẢO SÁT NHIỆT ĐỘ, OXY, PH Ở BỂ ĐẺ VÀ BỂ ẤP .................... 27 4.8. ẢNH HƯỞNG NHIỆT ĐỘ NƯỚC ĐẾN TỈ LỆ SINH SẢN ................. 28 4.9. ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ ĐẾN PHÔI CÁ................................. 29 4.10. ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIÊU NOÃN HOÀN CÁ BỘT .......................... 29 4.11. QUÁ TRÌNH ƯƠNG NUÔI CÁ LABEO ROHITA ............................ 30 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ..................................................................... .32 5.1. KẾT LUẬN ........................................................................................... 32 5.2. ĐỀ XUẤT ............................................................................................. 32 iv DANH SÁCH BẢNG Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu sinh học ........................................................................5 Bảng 2.2 : Mối quan hệ giữa trọng lượng cơ thể....................................................7 Bảng 2.3:Tác dụng của các loại kích thích tố.........................................................9 Bảng 2.4:Thử nghiệm kích thích cá Trôi sinh sản bằng Progesteron .................... 12 Bảng 2.5: Kích thích thử nghiệm cá Trôi bằng DOCA ..........................................13 Bảng 3.1: Mật độ nuôi vỗ cá bố mẹ ......................................................................15 Bảng 3.2: Khẩu phần ăn của cá qua các tháng ......................................................16 Bảng 3.3: loại và lượng Hormone kích thích cá sinh sản .......................................18 Bảng 4.1: Các chỉ tiêu môi trường đo được qua các tháng .....................................20 Bảng 4.2: Tỉ lệ cá thành thục .................................................................................21 Bảng 4.3: Mức độ thành thục đến quá trình đẻ trứng .............................................15 Bảng 4.4: Kích thích sinh sản bằng não thùy và LHRH .........................................24 Bảng 4.5: Kích thích sinh sản bằng não thùy và HCG ...........................................25 Bảng 4.6: Tỉ lệ sinh sản chịu tác động của nhiệt độ nước.......................................28 Bảng 4.7: Nhiệt độ nước ảnh hưởng đến thời gian .................................................29 Bảng 4.8: Kết quả quá trình ương nuôi ..................................................................30 1 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Đồng Bằng Sông Cửu Long có điều kiện tự nhiên ưu đãi cho nghề nuôi thủy sản như: diện tích mặt nước rộng lớn, khí hậu điều hòa, nguồn thức ăn tự nhiên rất dồi dào…Vì thế nghề nuôi thủy sản đang trên đà phát triển mạnh. Cá Trôi Ấn độ (Labeo rohita) thuộc họ cá chép Cyprinidae, chúng phân bố tự nhiên ở lưu vực sông Bắc Ấn, Trung Ấn, và các cửa sông của Pakistan, Banglades…thuộc vùng nước ngọt miền Nam Châu Á. Có giá trị kinh tế cao, cá Labeo rohita thích nghi tốt với điều kiện khí hậu địa phương, tốc độ tăng trưởng nhanh. Thức ăn chính là mùn bã hữu cơ là loại thức ăn rất dồi dào trong thủy vực. Ngày nay khi con người sử dụng các loại phương tiện đánh bắt rất hiện đại làm cho nguồn lợi tôm cá suy giảm nghiêm trọng. Vì thế việc chăn nuôi cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu về sản phẩm thủy sản của con người. Trên thế giới hiện nay đang có xu hướng sử dụng sản phẩm thủy sản rất lớn, muốn nghề nuôi thủy sản phát triển bền vững phải tìm được loại kích dục tố thích hợp nhất. Để kích thích các loài cá sinh sản được tốt hơn. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại kích dục tố như: HCG, LHRHa, não thùy. Tuy nhiên việc sử dụng loại kích dục tố nào thích hợp nhất để áp dụng trong sinh sản nhân tạo đạt hiệu quả vẫn còn là một vấn đề. Ngành thủy sản đang phát triển rất nhanh tuy nhiên gặp khó khăn về vấn đề chưa chủ động động được con giống và việc sử dụng kích dục tố không phù hợp ảnh hưởng đến sự tái thành thục của cá. Do đó việc nghiên cứu tìm ra một loại kích dục tố thích hợp nhất để kích thích cá sinh sản là vấn đề rất quan trọng đòi hỏi cần phải nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế trên nên đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng các loại kích dục tố não thùy thể, HCG, LHRHa kích thích cá Trôi sinh sản”. Mục tiêu đề tài: -Nhằm biết được hay hiểu được loại kích dục tố tốt nhất có thể áp dụng trong kích thích cá sinh sản đạt hiệu quả tối ưu nhất. -Thu thập dữ liệu về ghép sản xuất giống cá Trôi đen, góp phần làm cơ sở hoàn thiện biện pháp sản xuất giống cá Trôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. 2 Nội dung nghiên cứu: -Nuôi vỗ cá bố mẹ. -Xác định hiệu quả nuôi vỗ cá bố mẹ. -Kích thích cá bố mẹ sinh sản bằng các hormone sinh dục.. -Nuôi vỗ tái phát dục. -Xác định ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của cá con. -Đo một số chỉ tiêu môi trường tại ao nuôi vỗ, bể đẻ, bể ấp. 3 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1. Đặc điểm hình thái và phân bố a. Nguồn gốc, phân bố Bộ cá chép (Cypriniformer) Họ cá chép ( Cyprinidae) Giống cá Trôi (Labeo) Loài cá Trôi (Labeo rohita, Hamilton, 1882) Phận bố: Phân bố tự nhiên ở hệ thống sông Hằng và phía Bắc Ấn Độ. Cá được Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 nhập vào Việt Nam từ năm 1982 theo chương trình di giống của Uỷ ban quốc tế sông Mêkông và cho sinh sản nhân tạo thành công năm 1984, hiện nay đã trở thành một trong các đối tượng nuôi phổ biến ở nước ta. b. Mô tả hình thái Thân cân đối, dẹp bên, thuôn dần về phía đuôi. Đầu múp, dài vừa phải. Mõm tù, hơi nhô ra, không có đường gấp nếp. Miệng ở phía trước và kế dưới, hình vòng cung. Rạch miệng nông, chỉ tối đường thẳng giữa mõm và mũi. Viền môi trên và dưới phủ lớp thịt có tua khía hoặc gai thịt xếp thành hàng. Hàm dưới phủ chất sừng. Môi dưới và hàm dưới có rãnh ngăn cách. Rãnh sau môi hoàn toàn và liên tục. Có hai đôi râu, một đôi râu nhỏ ở góc hàm và một đôi râu mõm rất nhỏ ( Khan và Jhingran, 1975 cá chỉ có một đôi râu nhỏ ở góc hàm). Mắt vừa phải, nằm ở hai bên và phần trước của đầu. Khoảng cách mắt rộng, khum. đỉnh đầu nhẵn. Lỗ mũi ở gần mắt hơn mút mõm. Màng mang hẹp, liền với eo. 4 Rãnh hầu hình vát chéo. Lược mang hình kim và ngắn. Khởi điểm vây lưng trước khởi điểm vây bụng, gần mút mõm hơn gốc vây đuôi, viền sau hơi lõm. Vây ngực nhọn chưa tới vây bụng. Vây bụng chưa tới vây hậu môn. Vây hậu môn tới gốc vây đuôi. Vây đuôi phân làm hai thuỳ bằng nhau. Lỗ hậu môn ngay trước vây hậu môn. Đường bên hoàn toàn, hơi cong xuống ở 5 vẩy phía trước, sau đó chạy thẳng giữa thân đến cuống đuôi. Vẩy tròn, vừa phải xếp chặt chẽ trên thân. Bụng và sống lưng đều phủ vẩy. Gốc vây lưng có phủ vẩy nhỏ. Gốc vây bụng có vẩy nách rất nhỏ. Lưng màu xanh thẫm, hông và bụng trắng bạc. Phần trên đầu có màu xám, bụng trắng. Môi và mõm trắng. Viền mắt đỏ, các vây xám nhạt. Mùa phát dục trên mỗi vẩy thường có một đốm đỏ. Các vây ngực, vây bụng, vây hậu môn và vây đuôi có màu hồng, vây lưng chỉ phớt hồng. c. Đặc điểm hình thái Răng hầu ba hàng 5.4.3-3.4.5. Số que mang ở cung mang thứ nhất là 20+58 =78. Vẩy dọc cuống đuôi 10; vẩy trước vây lưng 13-14; vẩy vòng quanh cuống đuôi 20. Chiều dài thân bằng 4,2-4,7 lần chiều cao thân, gấp 4,5-5,0 lần chiều dài đầu. Chiều dài đầu gấp 4,2-4,7 lần đường kính mắt, gấp 1,6-2,0 lần chiều dài mõm, gấp 2,6-3,5 lần khoảng cách mắt. 2.2. Dinh dưỡng Cá Trôi Ấn độ là loài cá sống ở gần đáy, thích ở nơi nước ấm. Giai đoạn nhỏ cá ăn động vật phù du cỡ nhỏ như động vật nguyên sinh, trùng bánh xe, tảo đơn bào, giáp xác chân chèo, bọ kiếm, kể cả ấu trùng côn trùng. Cá còn có thể ăn các loại thức ăn nhân tạo như cám, khô dầu, bột cá... Giai đoạn trưởng thành cá ăn mùn bã hữu cơ, nhất là mùn bã hữu cơ thực vật. Trong ao nuôi thương phẩm cá còn ăn cám gạo, hạt cốc cũng như các loại bèo dâu, bèo tấm. Tốc độ tăng trọng của cá Trôi Ấn độ nhanh ở giai đoạn trưởng thành đặc biệt lớn nhất ở tuổi thứ 2 khi cá chín sinh dục lần đầu. Cá nuôi 1 năm đạt 0,6-0,8kg; 2 năm đạt 1,5-1,8kg. 5 Bảng 2. 1: Một số chỉ tiêu sinh học chủ yếu của cá Trôi Ấn Độ nuôi tại Viện NCNT Thuỷ Sản 1 (Hồ Kim Diệp và ctv., 2001) Các chỉ tiêu Cá bột 3-4 ngày tuổi Cá hương Cá giống Cá trưởng thành Ngưỡng nhiệt độ - Cao - Thấp Ngưỡng oxy (mg/L) Nhu cầu oxy (mg O2/kg/h) Nồng độ muối NaCl 37,5-38,5 14,5-15 0,32 876 14 42-42,5 13-13,5 0,32 638-726 15 42-43 12-13,5 0,48-0,6 271-360 15,5-16,9 42,5-43 12-13 0,48 250-350 15,4-17,1 2.3. Sinh trưởng, sinh sản Cá Trôi Ấn độ chịu được nhiệt độ cao dẫn đến kết quả tất yếu là cá tăng trọng nhanh vào mùa hè, chậm lớn vào mùa đông. Kết quả thu được khi nuôi cá Trôi Ấn độ ở Viện NCNT Thuỷ sản 1 cho thấy vào mùa hè mỗi tháng cá Trôi Ấn độ tăng trọng 17- 22%, trong khi đó vào mùa đông mỗi tháng chỉ tăng 0,75%. (Hồ Kim Diệp và ctv., 2001) Ở điều kiện bình thường thì rất khó phân biệt cá Trôi đực và cái theo hình dạng bên ngoài. Chỉ khi cá phát dục mới có thể phân biệt được chúng: Cá cái có bụng to căng, lỗ huyệt sưng và có màu hồng; cá đực có sẹ màu trắng sữa chảy ra khi ta vuốt xuôi nhẹ hai bên bụng cá. Vào mùa sinh trưởng còn có thể tìm thấy sự sai khác về giới tính của cá Trôi Ấn độ: Trong khi ở cá cái vây ngực thường nhỏ hơn hoặc bằng vây hậu môn và trơn nhẵn, thì ở cá đực vây ngực thường to hơn vây hậu môn và nhám. Có thể nhờ vây ngực nhám như vậy mà con đực có thể kẹp chặt con cái trong lúc giao phối (Chauhuri, 1959). Theo lời các chuyên gia Ấn Độ thì cá Trôi Ấn độ thành thục vào cuối năm tuổi thứ 2. Tuyến sinh dục của cá bắt đầu phát triển vào cuối tháng 2; lúc này đã có thể phân biệt được cá đực, cá cái về ngoại hình. Đầu tháng 3 khi giải phẫu cá, độ thành thục của buồng trứng đang ở giai đoạn III. Từ tháng 3-4 đến đầu tháng 5 tuyến sinh dục 6 lớn rất nhanh và đạt độ chín muồi vào trung tuần tháng 5 và tháng 6. Mùa vụ sinh sản của cá là từ tháng 5, 6 đến tháng 8, 9. Đến cuối tháng 9 tuyến sinh dục của cá thoái hoá và chấm dứt thời kỳ phát dục trong mùa sinh sản. Cá thành thục ở 1 tuổi với kích cỡ tương đương 25cm. Tuy nhiên, tuổi thành thục của cá Trôi Ấn độ có thể thay đổi. Ở Trại thực nghiệm Thủ Đức và Cái Bè cá Trôi Ấn độ thành thục lần đầu ở 10 tháng tuổi và kích thước nhỏ nhất là 25cm. Ở Bangladesh, cá Trôi Ấn độ lại thành thục lần đầu rất muộn ở tuổi 3-4 (Alikunhi, 1957). Trứng cá Trôi Ấn độ thuộc loại trứng không dính và không nổi. Khan (1934) là người đầu tiên công bố số lượng trứng của cá Trôi Ấn độ. Theo Khan (1934) cá Trôi Ấn độ có sức sinh sản lớn, cá cái nặng 4,5kg có 1.905.000 trứng, nghĩa là cứ 1g cơ thể cá có 419 trứng. Tuy nhiên, theo một chuyên gia khác về cá Trôi Ấn độ là Alikunhi thì một buồng trứng có khoảng 226.500-2.794.000 trứng tuỳ theo cỡ cá. Bảng 2. 2 : Mối quan hệ giữa trọng lượng cơ thể, trọng lượng buồng trứng và số lượng trứng ở cá Trôi Ấn độ như sau (Alikunhi, 1957) Trọng lượng cá (kg) Trọng lượng buồng trứng Sức sinh sản tuyệt đối Sức sinh sản tương đối Số lượng trứng trong 1g buồng trứng Tỷ lệ trọng lượng buồng trứng/trọng lượng cơ thể (%) 1,75 0,300 369.000 211 1230 17 1,50 0,300 289.500 193 965 20 2,00 0,250 226.500 113 906 12,5 2,50 0,500 758.000 303 1526 20 2,25 0,262 268.500 109 1025 11,6 2,70 0,500 764.250 283 1528 18,5 2,50 0,450 335.925 134 747 18,0 6,75 2,000 2.749.000413 1397 29,6 7 2.4. Các loại kích dục tố sử dụng a. Não thùy thể (Hypophysis – tuyến yên): Hiện nay não thùy cá được sử dụng thường ở hai dạng là não tươi và não khô có nguồn gốc từ nước ngoài đưa vào. Đây là loại kích tố được sử dụng rộng rãi nhất vì bảo quản vận chuyển dễ dàng và khi sử dụng cho cá đẻ ít xảy ra phản ứng phụ. Cấu tạo của não thùy thể của cá cũng như ở động vật có vú, nằm ở mặt bụng của thùy trung gian, nối liền với mấu não dưới, chia thành bộ phận thần kinh và bộ phận tuyến thể. Trong não thùy thể của cá lượng FSH rất thấp còn lượng LH tương đương với động vật có vú (Nguyễn Tường Anh, 1999; Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Người ta lấy não thùy từ những loài cá Chép, Trắm, Mè, Trê,… đã thành thục, còn tươi sống, ở cá chết sau vài giờ thì hoạt tính kích dục tố chỉ còn lại 50% (Nguyễn Tương Anh, 1999), trong trường hợp cùng thể trọng và mức độ thành thục, thì não thùy của cá Chép cái có hoạt tính kích dục tố gây chín cao gấp hai lần não thùy của cá Chép đực cùng loài. Việc định liều não thùy cho cá bố mẹ khi tham gia sinh sản tùy thuộc vào nhiều yếu tố: chất lượng hoạt tính của não thùy, đặc tính nhạy cảm của loài, tình trạng thành thục của cá bố mẹ được tiêm, nhiệt độ nước, các điều kiện khác của môi trường chứa cá, người ta thường dùng mg/kg và đơn vị số lượng não cho một kg cá đẻ, tuân theo phương pháp thực nghiệm sau: Y = 0.125X – 1.75 X: chu vi vòng bụng cá (cm) Y: lượng kích dục tố cần sử dụng (mg) b. LRHa ( Luteotropin Releasing Hormone – Ala Analoge): LRHa là chế phẩm tổng hợp nhân tạo tương tự GnRH của động vật có vú còn được gọi là (D – Ala6, Pro9 Net). LRHa có tác dụng chuyển hóa buồng trứng đồng thời gián tiếp gây rụng trứng. Khi sử dụng phải dùng kèm thêm hoạt chất gọi là Domperidon (DOM). 8 c. HCG ( Human Chorionic Gonadotropin ): Là kích dục tố màng đệm của nhau thai tiết ra, có trong nước tiểu phụ nữ có thai. Lượng HCG cao nhất lúc thai nhi 2–3 tháng sau đó giảm dần. HCG có tác dụng gây chín và rụng trứng. Liều lượng HCG sử dụng cho cá phụ thuộc vào mức độ tinh khiết của chế phẩm cũng như sự thành thục của cá. HCG là loại kích dục tố dị chủng được dùng rộng rãi và có hiệu quả đối với nhiều loài cá: Mè, Trê, Sặc,… d. DOM (Domperidone): Là chất kết hợp với LRHa để ức chế sự tiết Dopamine. Motilium là một trong những sản phẩm thương mại của Domperidone, được sản xuất trong nước (Nguyễn Văn Kiểm, 2004) Bảng 2.3: Tác dụng của các loại kích thích tố (Nguyễn Văn Kiểm, 2004) Loại kích tố Tác dụng chính FSH Thúc đẩy trứng thành thục thêm một bước (phản ứng 1) HCG/LH Gây ra phản ứng chín và rụng trứng (phản ứng 2) Não thùy Tham gia vào phản ứng 1 và 2 LHRHa/GnRH Tham gia vào phản ứng 1 và 2 DOM Chất kết hợp với LHRHa để ức chế sự tiết Dopamine Ovaprim Kích thích phóng thích tố và ức chế sự tiết Dopamine 2.5. Các tìm hiểu về sinh sản nhân tạo cá Labeo rohita Loài cá Labeo rohita phân bố tự nhiên ở lưu vực nước ngọt các sông Bắc Ấn Độ, Narmata, Tapti, Trung Ấn và các cửa sông Pakistan… thuộc vùng nước ngọt miền nam Châu Á. Labeo rohita là loài cá rộng nhiệt từ 15-42OC vẫn sống được khoảng 7 ngày, nhiệt độ nước lên đến 35OC cá vẫn sống bình thường, phôi phát triển rất tốt ít bị dị hình. Khi quan sát mẫu cá ở kích thước 10-25cm chúng thường sử dụng những loại thức ăn gồm: luân trùng, giáp xác, tỏa đơn bào và đa bào, mùn bã hữu cơ, động vật nguyên sinh. 9 Cá Labeo rohita ngoài tự nhiên ở điều kiện sinh thái thích hợp sẽ chủ động tích lũy vật chất dinh dưỡng, sẽ sinh trưởng và phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có khả năng sinh sản. Cá Labeo rohita phải trải qua những giai đoạn phát triển nhất định, mới có thể thành thục về sinh dục và đẻ trứng. Do đó khi nuôi vỗ cá phải có chế độ cho ăn thích hợp thì cá sẽ phát dục sớm và cho sinh sản tốt nhất. Vì thế khi nuôi vỗ cá bố mẹ cần phải cung cấp đầy đủ thức ăn về chất và lượng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục, đồng thời tạo điều kiện sinh thái thích hợp cho quá trình chuyển quá chất dinh dưỡng mà cá đã tích lũy trong các tổ chức cơ thể chuyển sang cung cấp cho sự thành thục tuyến sinh dục. Nhiều tác giả đã thống nhất “Nuôi vỗ là khâu có tính chất quyết định đến kết quả sinh sản”. Nhiều tài liệu đúc kết lại về kỹ thuật sản xuất giống cá đã nói rằng: kết quả quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bên trong và các điều kiện sinh thái bên ngoài. Các yếu tố bên trong cơ thể: bản chất duy truyền, hoạt động hệ thần kinh, hoạt động tuyến nội tiết, tình trạng sinh lý cơ thể… Ngoài ra các yếu tố bên ngoài như: chế độ thủy lý hóa, vật chất hữu cơ và quan trọng nhất đó là nhiệt độ và dinh dưỡng. (Nguyễn Tường Anh, 1999). Tương tư nhận định trên: với các yếu tố bên ngoài chủ yếu là thức ăn có thể làm cho buồng trứng cá phát dục hoàn toàn”. Ở Ấn Độ mùa vụ sinh sản của cá Labeo rohita trùng với thời kỳ gió mùa Tây Nam thay đổi theo từng địa phương Ấn Độ. “Khi trời mát mẻ nhiệt độ giảm dần và ổn định thích hợp cho việc sinh sản, thì lúc đó tuyến sinh dục sẽ nhanh chóng tiến đến giai đoạn đầy đủ” (Nguyễn Thái Dương, 1986) Cá Labeo rohita ngoài tự nhiên có khả năng sinh sản bình thường nhưng nuôi trong ao hồ mặc dù đã thành thục mà vẫn không sinh sản. Do đó muốn sinh sản người ta phải kích thích nhân tạo, tiêm kích dục tố kích thích tuyến sinh dục chín mùi và rụng trứng. Cá Labeo rohita không sinh sản trong ao được nên phải kích thích sinh sản. Phần lớn người ta thực hiện hai lần tiêm. Cách nhau 6h với tổng liều là 12-15 mg/kg cá cái. Cá đực 3mg/kg vào lúc tiêm lần 2 cá cái. Sau 6-8h cá đẻ, trứng thụ tinh nở sau 18-20h, ở nhiệt độ 28-31OC. Tại viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 cho cá đẻ thành công chọn cá cái bụng mềm buồng trứng trông rõ, lỗ sinh dục hơi sưng màu 10 hồng, lấy trứng quan sát trứng rơi đều. Cá đực vuốt nhẹ lường bụng thấy sẹ trắng sữa chảy ra. Thường mỗi kg cá cái cho từ 10-12 vạn. Có những trường hợp đã tiêm kích dục tố xong nhưng cá vẫn không đẻ là do: -Cá bị mệt bị thương tích -Kích dục tố chưa đảm bảo số lượng và chất lượng -Chế độ nuôi vỗ chưa tốt -Sự phát triển không đồng đều của buồng trứng -Đang lúc đẻ gặp nhiệt độ không thích hợp -Sự rụng trứng và đẻ không nhịp nhàng Dòng nước để kích thích cũng đóng góp cho kết quả đẻ và thụ tinh cho buồng trứng. Đối với cá ao tĩnh trước khi kích thích cho cá đẻ, nếu không có dòng nước chảy nhẹ và chất nước tốt thì tỉ lệ đẻ và tỉ lệ nở rất thấp. Thời gian tái phát dục của cá Labeo rohita tương đối ngắn 20-36 ngày. Cá ở nhiệt đới thì đẻ nhiều đợt, cá ở ôn đới và hàn đới đẻ chỉ một đợt trong năm. Sự thay đổi về tập tính sinh sản của Labeo rohita là do sự khác nhau về khí hậu ở các vùng. “tốc độ phát dục thành thục của cá tỉ lệ thuận với nhiệt độ của nước”. “Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ, tức là cung cấp đầy đủ thức ăn về chất và lượng phù hợp cho từng giai đoạn tuyến sinh dục và tạo những điều kiện sinh thái thích hợp cho quá trình chuyển hóa vật chất dinh dưỡng, mà cá đã tích lũy trong các tổ chức cơ thể sang cho sự thành thục tuyến sinh dục. Đó là quá trình tập vật chất dinh dưỡng vào tế bào sinh dục. Qua nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho rằng: cá Labeo rohita đã thành thục nhưng vẫn không thể sinh sản trong ao hồ được, nếu muốn sinh sản thì phải sử dụng kích dục tố. Muốn biết cá thành thục bằng việc quan sát ngoại hình và kết hợp dùng que thăm trứng. Đối với cá cái: bụng to mềm nổi rõ buồng trứng, trứng rời căng đều, lỗ sinh dục màu hồng. Đối với cá đực: vuốt nhẹ hai bên lường bụng có sẹ màu trằng sữa chảy ra là tốt. Các loài cá Ấn Độ phần lớn thành thục vào cuối năm thứ 2 ở trong ao. Ngoài ra có một số trường hợp ngoại lệ cá Labeo rohita một năm tuổi chín mùi sinh dục. Thời gian tái phát dục của cá Labeo rohita tương đối ngắn 20-36 ngày (Nguyễn Thái Dương, 1986). 11 Cá đẻ một lần ở ôn đới và hàn đới và đẻ nhiều lần ở nhiệt đới đều nhận xét trên càng khẳng định rõ kết quả nghiên cứu của Trịnh Văn Phận (1987) “cá Labeo rohita có khả năng sinh sản nhiều lần trong năm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” 2.6. Các nghiên cứu sinh sản nhân tạo về cá Labeo rohita 2.6.1 Thử nghiệm kích thích cá Trôi sinh sản bằng Progesteron (P) Trên những loài cá khác nhau liều quyết định để gây chín và rụng trứng của P là khác nhau. Cụ thể liều Progesteron đạt hiệu quả ở cá Chạch là 25mg/kg (Kirshenblat, 1961); trên cá Chép là 7,5-16,25mg/kg (Popov, Budarin, 1976); cá Trê Phi là 15- 25mg/kg (Nguyễn Tường Anh, 1981). Dựa trên cơ sở đó liều P mà chúng ta thăm dò ở cá Trôi Ấn độ là 10, 15, 20 mg/kg. Kết quả kích thích cá Trôi sinh sản bằng Progesteron Bảng 2.4: Thử nghiệm kích thích cá Trôi sinh sản bằng Progesteron (P) (Nguyễn Tường Anh và ctv, 2007) Kết quả sinh sản Kết quả ấp L ô Tổng trọng lượng Liều lượng (mg/kg) Thời gian hiệu ứng % đẻ róc % rụng trứng % không rụng trứng % thụ tinh % nở Năng suất cá bột vạn/kg 1 2,8 10 3h48 0 75 25 76 82 0,55 2 2,7 15 2h55 75 25 0 90 92,5 11,634 3 2,8 20 2h30 75 25 0 80 84 7,962 Ghi chú: nhiệt độ lúc cá đẻ 30-31oC. Mỗi lô thí nghiệm có 4 cá thể Qua lô thí nghiệm cho thấy liều P 15mg/kg cho thấy tỉ lệ đẻ róc và tỉ lệ rụng trứng là cao nhất, tiếp đến là 20mg/kg và sau cùng là 10mg/kg (25% cá không đẻ, tỉ lệ rụng trứng đạt 75%). Như vậy khi cho sinh sản cá Trôi Ấn độ liều đạt hiệu quả cao nhất của P là 15mg/kg. Có thể cho rằng liều của P ở đây có thể cao rất nhiều lần con số tương tự 17,20P. Nguyên nhân của điều này có thể P không phải là chất gây chín trực 12 tiếp. 17,20P mới là chất cuối cùng của nang trứng gây chín P chỉ là tiền chất (Haider & Inbaraj, 1989; Nagahama, 1997). Kết quả dùng Progesteron kích thích sinh sản cá Trôi Ấn độ thành công có ý nghĩa trong thực tiễn cũng như trong khoa học. Điều này càng được thể hiện rõ khi xem xét nghiên cứu của nhóm Detlaf, Skoblina và Davydova(1968) và Detlaf và Davyova (1979) dùng P gây chín noãn bào cá Tầm sao in vitro. Họ đã cho thấy khả năng phản ứng của noãn bào đối với P để việc trứng chín xuất hiện sớm hơn và được duy trì lâu dài hơn khả năng của nang trứng với kích dục tố để gây chín noãn bào. Nghĩa là P gây chín cho phép mở rộng khoảng thời gian mà noãn bào cá có khả năng chín trong chu kỳ phát triển của buồng trứng. Điều đó giúp chúng ta có thể mở rộng mùa vụ sinh sản và giảm mức độ nghiêm ngặt khi chọn noãn bào có khả năng chín hay những cá cái thành thục được chọn theo ngoại hình để cho sinh sản. Mặt khác P có rất nhiều ưu điểm dể bảo quản, dể sử dụng, giá thành thấp. Tính đến thời điểm hiện tại chi phí P để kích thích cá sinh sản chỉ bằng ½ so với LHRH-A Trung Quốc. Cũng như 17,20P khi tăng liều P thì thời gian hiệu ứng giảm. Mặt khác điều cần quan tâm là P cũng như một số dẫn xuất của nó, trừ 17,20P (Jalabert et al., 1977) chỉ có tác dụng ở nhiệt độ nước trên 23,5oC. Việc này cũng ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản của cá ở đầu mùa xuân miền Bắc Việt Nam (Nguyễn Tường Anh, 1999). 2.6.2. Kích thích thử nghiệm cá Trôi bằng DOCA: Việc sử dụng DOCA kích thích cá Trôi sinh sản chưa được thử nghiệm nhiều ở Việt Nam. Đầu tiên là dùng DOCA kích thích cá Chạch đã gây được sự rụng trứng (Kinshenblat, 1952) tiếp đến là cá Trê phi (DeKimpe&Micha1974; Hogendoorn&Vismans,1980; Nguyễn Tường Anh, 1981) với liều 15mg/kg (Nguyễn Tường Anh, 1982) và sau cùng là cá Trê vàng với liều 15-20mg/kg Nguyễn Tường Anh et al., 2000). Với cá Trôi Ấn độ chúng tôi thử nghiệm với liều 7,5; 10; 15mg/kg. Kết quả cho đẻ cá Trôi được thể hiện 13 Bảng 2.5: Kích thích thử nghiệm cá Trôi bằng DOCA (Nguyễn Tường Anh và ctv, 2007) Kết quả sinh sản Kết quả ấp L ô Tổng trọng lượng (kg) Liều lượng (mg/kg) Thời gian hiệu ứng % đẻ róc % rụng trứng % không rụng trứng % thụ tinh % nở Năng suất cá bột vạn/kg 1 3,1 7,5 3h27 25 50 25 63 75 2,32 2 3,1 10 3h3 100 0 0 86 83 9,02 3 3,0 15 2h45 100 0 0 74 77 7,76 Ghi chú: nhiệt độ lúc đẻ là 32-33oC Liều quyết định với DOCA 7,5; 10; 15mg/kg cho tỉ lệ đẻ róc lần lượt là 25, 100, 100%. Tỉ lệ rụng trứng ở liều 10, 15mg/kg cho tỉ lệ đẻ rất cao. Trong khi ở liều 7,5mg/kg cho tỉ lệ rụng trứng 75%, 25% không thể rụng trứng. Các chỉ số kết quả ấp trứng đạt khá cao. Ở 7,5mg/kg kết quả thấp hơn, tỉ lệ thụ tinh chỉ đạt 63%. Thời gian hiệu ứng có sự khác biệt. Ở cùng nhiệt độ nếu sử dụng liều DOCA càng cao thời gian hiệu ứng càng ngắn Nhìn chung, khi sử dụng Progesteron với liều 15mg/kg cho kết quả rất tốt. Khi sử dụng DOCA với liều lượng 10mg/kg cho năng suất cá bột cao. 14 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài được bắt đầu từ ngày 30/11/2008 đến ngày 30/05/2009 Tại cơ sở sản xuất cá giống Minh Trang 3.1. Nuôi vỗ cá bố mẹ Cá bố mẹ được bố trí trong thí nghiệm từ 2-5 tuổi. Trọng lượng cá dao động từ 500- 1500g. Được nuôi trong các ao có diện tích ao 1 là 2000m2, ao 2 là 700m2, ao 3 là 500m2. Ao có độ sâu từ 1.2-1.5m. Cá được nuôi từ tháng 11/2008 với mật độ như sau: ao 1 là 0.3kg/m2, ao 2 là 0.28kg/m2, ao 3 là 0.5kg/m2. Cá bố mẹ được nuôi kết hợp với cá mè trắng, cá mè vinh. Bảng 3.1: Mật độ nuôi vỗ cá bố mẹ Số cá thả (con) Tổng trọng lượng (kg) Ao Mè trắng Mè vinh Trôi Mè trắng Mè vinh Trôi Tổng cộng 1 200 100 250 220 110 275 605 2 80 40 60 88 44 66 198 3 40 20 30 44 22 33 100 3.2. Thức ăn được sử dụng nuôi cá bố mẹ Cá được nuôi bằng thức ăn công nghiệp dạng viên hiệu Master có hàm lượng đạm 28%. Hàng ngày cho ăn một lần vào lúc 8-9h. Khẩu phần ăn thay đổi qua các tháng. Được trình bày ở bảng 2. Bảng 3.2: Khẩu phần ăn của cá qua các tháng THÁNG Khẩu phần ăn (% trọng lượng cá) 11 5 12 5 1 3 2 3 3 3 4 3 5 3 15 Giai đoạn 1: tháng 11 và 12 cho cá ăn 5% tổng trọng lượng thân cá Giai đoạn 2: tháng 1 đến tháng 4 cho cá ăn 3% tổng trọng lượng thân cá Ngoài ra còn kết hợp bón phân cho ao. Chủ yếu là phân chuồng, urê, lân. Liều lượng phân bón có thể thay đổi tùy thuộc theo màu nước của ao. 3.3. Xác định hiệu quả nuôi vỗ cá bố mẹ a/ Xác định tỷ lệ thành thục Định ký kiểm tra sự thành thục của cá bố mẹ hàng tháng. Đánh giá sự thành thục qua quan sát ngoại hình và kết hợp dùng que thăm trứng. Mỗi lần kiểm tra từ 20 cá thể trở lên. Đối với cá đực: dùng tay vuốt nhẹ hai bên lường bụng, thấy sẹ màu trắng sửa chảy ra đặc. Đối với cá cái: bụng to mềm, thấy rõ buồng trứng, lỗ sinh dục hơi lồi, có màu hồng, trứng rời đều căng. b/Xác định ball mỡ và hệ số thành thục: Tiến hành cân trọng lượng thân, giải phẩu ruột, cân buồng trứng, quan sát ruột xác định ball mỡ và hệ số thành thục. 3.4. Nuôi vỗ tái phát và khả năng tái phát của cá bố mẹ Vì ao nuôi vỗ hạn chế, cho nên khi cá thả đẻ xong chúng tôi thả cá vào ao cũ chế độ nuôi vỗ cũng như đối với cá chưa đẻ. Cá được đánh dấu để xác định. Định kỳ 15 ngày/lần để xác định thời gian tái phát dục và số lần tái phát dục trong năm 3.5. Kích thích cá bố mẹ thành thục đẻ trứng Khi cá nuôi vỗ đạt đến mức độ thành thục bắt đầu cho tiến hành sinh sản. Có điểm khác biệt là cá Labeo rohita ngoài tự nhiên thì sinh sản được bình thường còn nuôi vỗ trong ao trong nếu không kích thích sinh sản thì cá sẽ không đẻ. Do đó chúng tôi tiến hành kích thích sinh sản. Chọn cá bố mẹ thành thục cho đẻ, dựa vào đặc điểm ngoại hình kết hợp với que thăm trứng. Đối với cá cái: bụng to mềm trứng đều rời cá khỏe không bị xây xát Đối với cá đực: vút nhẹ hai bên thấy sẹ màu trắng chảy sửa ra đặc, cá khỏe Tỷ lệ đực/cái cho cá đẻ từ 1/1-3/2 Sử dụng các loại kích dục tố cho cá như bảng 3 16 Bảng 3.3: Loại và lượng Hormone kích thích cá sinh sản Nghiệm thức Não thùy (mg/kg) HCG (UI) LHRHa (µg) DOM 1 5-7 -- -- -- 2 2-3 1000 -- -- 3 1-2 -- 50 10 4 -- -- 100 10 Ương ấp trứng Trứng được ấp trong bokan, có kết hợp sụt khí liên tục, nguồn nước lấy từ ao lắng. Theo dõi thường xuyên hoạt của bokan để kịp thời sử lý 3.6. Theo dõi một số chỉ tiêu tại ao nuôi vỗ cá bố mẹ và tại nơi ấp trứng Theo dõi bằng phương pháp trực tiếp trong ao hằng ngày a/ xác định hàm lượng oxi trong nước bằng Test Oxy b/ xác định nhiệt độ nước bằng nhiệt kế và thủy ngân c/ xác định pH trong nước bằng giấy so màu pH 3.7. Công thức tính toán Số cá thành thục Tỷ lệ thành thục%= ------------------------------x100% Số cá quan sát -Xác định hệ số thành thục theo công thức Psd K(%)= ------------ x 100 P K : hệ số thành thục Psd: trọng lượng tuyến sinh dục P : trọng lượng toàn thân cá -Xác định theo bậc thang từ 0-5 17 Số trứng thụ tinh Tỷ lệ thụ tinh(%) = -------------------------- x 100 Số trứng quan sát Số trứng nở Tỷ lệ nở(%) = -------------------------------x100 Số trứng thụ tinh Tổng số cá bột thu được (trứng) Năng suất cá bột = -------------------------------- Tổng số cá đẻ (kg) Tổng số trứng thu (trứng) Sức sinh sản = ------------------------------------ Tổng số cá cái đẻ (kg) 18 CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1. Điều kiện ao nuôi vỗ cá bố mẹ Các yếu tố môi trường ao nuôi được xác định là nhiệt độ, oxy, pH. Kết quả được trình bày qua bảng Bảng 4.1: Các chỉ tiêu môi trường đo được qua các tháng THÁNG Nhiệt độ trung bình (oC) O2 (mg/l) pH 11 29,5 4 6,8 12 30 4,2 7 1 29 3,5 7,5 2 30 3,7 7 3 31 3,4 6,5 4 30 4 7 5 29 4 6,7 Ghi chú: số liệu ghi ở bảng 1 là giá trị trung bình cộng của các ngày trong tháng. Giá trị của ngày là trung bình cộng của kết quả đo được lúc sáng – chiều Điều kiện sinh thái ảnh hưởng khá quan trọng đến việc thành thục của cá như là nhiệt độ, oxi, pH, môi trường nước, thức ăn…trong đó có hai yếu tố quyết định đó là nhiệt độ và thức ăn. “Muốn nâng cao tỷ lệ thành thục và thúc đẩy sớm mùa vụ cho đẻ, ta cần giải quyết 2 vấn đề có tính chất quyết định đó là phải chăm sóc cá trong nhiệt độ thích hợp và phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho đàn cá bố mẹ”. Bởi thế nên đã tiến hành phân tích các yếu tố thủy lý hóa như oxy, nhiệt độ, pH tại ao nuôi vỗ cá bố mẹ. Về nhiệt độ ở các tháng dao động trong khoảng 26-32oC. (Nguyễn Thái Dương 1986) “Labeo rohita là loài cá rộng nhiệt nhiệt độ từ 18-38oC cá vẫn sống bình thường. Khi nhiệt độ lên đến trên 30oC không ảnh hưởng xấu đến quá trình đẻ và sự phát triển của phôi cá, khi nhiệt độ nước lên đến 35oC cá vẫn đẻ bình thường phôi phát triển ít dị hình.” 19 Như vậy nhiệt độ nước tương đối cao nhưng không ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của cá Labeo rohita đó là ưu điểm lớn của loài cá này trong số các loài cá sinh sản nhân tạo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Về oxy cũng dao động trong khoảng thích hợp, qua theo dõi hoạt động trong ao cá thì thấy không có hiện tượng nổi đầu. Như vậy oxy cũng dao động phù hợp với khả năng thành thục của cá. Về pH qua các tháng cũng dao động trong khoảng 6.5-8 cũng không ảnh hưởng đến sự thành thục của cá Labeo rohita. Cá Labeo rohita có khả năng thích ứng với môi trường nước pH 5.5-8.5. Qua đó khả năng thích ứng với môi trường của cá Labeo rohita là rất cao. Như vậy 3 yếu tố: nhiệt độ, oxy, pH trong ao nuôi vỗ phù hợp với khả năng thành thục của cá bố mẹ. 4.2. Sự thành thục của cá bố mẹ Kết quả theo dõi sự thành thục của cá bố mẹ được trình bày qua bảng sau Bảng 4.2: Tỉ lệ cá thành thục Nhìn chung cả 3 ao tỷ lệ thành thục như nhau là bởi vì cả 3 ao đều sử dụng cùng loại và lượng thức ăn như nhau. Tháng 1 và tháng 2 ở các ao vẫn chưa thấy dấu hiệu thành thục của cá. Cá bắt đầu thành thục từ tháng 3 và cao nhất vào tháng 5. Kết quả này phù hợp với quy luật chung là cá tích lũy nhiều chất dinh dưỡng kết hợp với điều kiện Thời gian Tỷ lệ thành thục (%) (tháng) Ao 1 Ao 2 Ao 3 Cá cái cá đực cá cái cá đực cá cái cá đực 1 0 0 0 0 0 0 2 0 0 0 0 0 0 3 0 18 0 15 0 17 4 20 35 30 45 25 35 5 80 90 85 95 90 85 6 90 100 95 100 95 90 20 môi trường thuận lợi sẽ làm cho việc chuyển chín buồng trứng dễ dàng hơn. “Khi trời mát mẻ nhiệt độ giảm dần và ổn định thích hợp cho việc sinh sản, thì lúc đó tuyến sinh dục nhanh chóng chuyển sang giai đoạn chín đầy đủ” (Nguyễn Tường Anh 1999). Viêc chuyển chín buồng trứng của cá Labeo rohita nói riêng và các loài cá nói chung gắn liền với việc chuyển từ mùa khô sang mùa mưa. Ngoài điều kiện môi trường thuận lợi như: nhiệt độ, oxy, pH… nhân tố quyết định để chuyển chín buồng trứng đó là dinh dưỡng, khi có chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển tuyến sinh dục. Quá trình phát triển tuyến sinh dục là quá trình chuyển hóa thức ăn thành chất dinh dưỡng tích lũy trong cơ thể cung cấp cho tuyến sinh dục. Chế độ nuôi vỗ kém thì tỷ lệ thành thục rất thấp. Như vậy trong sinh sản nhân tạo khâu nuôi vỗ với chế độ dinh dưỡng hợp lý và kiện môi trường thuận lợi sẽ có tính chất quyết định trong kỹ thuật. Tiến hành giải phẩu cá nuôi qua các tháng nuôi, xác định hệ số thành thục và Ball mỡ. Qua khảo sát hệ số thành thục của cá Labeo rohita tăng dần từ tháng 3 đến tháng 5 và hệ số ball mỡ giảm dần từ tháng 3 đến tháng 5. Như vậy trọng lượng tuyến sinh dục tỉ lệ nghịch với ball mỡ trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5. Lý do là vì sự chuyển hóa vật chất dinh dưỡng tích lũy từ các cơ quan: cơ, thận, ruột… cho tế bào của tuyến sinh dục. Qua việc giải phẩu cá Labeo rohita thấy tuyến sinh dục ở giai đoạn IV tỷ lệ lipid, protid ở các cơ, gan, thịt và màng ruột giảm và tỷ lệ lipid, protid của buồng trứng tăng lên. Như vậy sự thành thục của cá cái lúc nào cũng chậm hơn cá đực. Nhìn chung Ball mỡ sẽ giảm qua các tháng nuôi vỗ. Lipid đi vào tuyến sinh dục không chỉ là lipid từ các kho trong cơ thể mà còn từ thức ăn. Thông thường Ball mỡ cá đực ổn định hơn cá cái. Ball mỡ của cá cái giảm mạnh vào tháng 3 đến tháng 4 điều này tương ứng với thời kỳ tuyến sinh dục tăng rất nhanh. Tuyến sinh dục tăng lên là do sự huy động mỡ xung quanh ruột tập trung vào buồng trứng. 21 4.3. Ảnh hưởng của mức độ thành thục đến quá trình đẻ trứng của cá Labeo rohita Bảng 4.3: Mức độ thành thục ảnh hưởng đến quá trình đẻ trứng Ở nghiệm thức 1 bắt đầu tiêm kích dục tố cho cá, khi cá ở mức chớm thành thục thấy tỉ lệ đẻ của cá chỉ đạt 65%. Ở nghiệm thức 2 khi cá đã hoàn toàn thành thục, lúc này khi tiêm kích dục tố cho cá. Tỷ lệ đẻ của cá đạt được 100% Ở nghiệm thức 3 khi buồng trứng đã bắt đầu chớm thoái hoá, tiêm kích dục tố thì thấy tỷ lệ đẻ của cá đã giảm xuống đáng kể. Qua thí nghiệm chúng tôi thấy được tỉ lệ đẻ tăng dần theo mức độ thành thục của cá và giảm dần khi cá chớm thoái hoá. Cá càng thành thục sẽ cho tỷ lệ đẻ càng cao. Qua đó thấy được sức sinh sản tương đối cũng tỷ lệ thuận với mức độ thành thục và tỷ lệ đẻ. Điều này cũng phù hợp khi mức độ thành thục của cá càng cao thì sức sinh sản tương đối sẽ tăng theo. Theo Nguyễn Tường Anh (1999) “Nếu cá thành thục càng tốt thì chúng sẽ phối hợp nhịp nhàng làm cho cá đẻ trứng nhiều hơn, tỷ lệ đẻ sẽ cao hơn và ngược lại nếu cá thành thục chưa tốt sẽ cho tỷ lệ đẻ thấp hơn” Các tế bào trứng đã thành thục duới tác dụng của các loại kích dục tố mới có khả năng chín đầy đủ. Lúc này mức độ nhạy cảm của nang trứng với các loại kích dục tố rất lớn, sẽ làm cho trứng đã thành thục sẽ chín mùi dẫn đến tỷ lệ đẻ sẽ cao hơn. Lô thí nghiệm Mức độ thành thục Tỉ lệ đẻ % Sức sinh sản tương đối vạn/kg 1 Chớm thành thục 65 15,7 2 Thành thục 100 22 3 Chớm thoái hóa 80 20 22 4.4. Các hormone kích thích cá sinh sản 4.4.1. Thí nghiệm 1 Bảng 4.4: Kích thích sinh sản bằng não thùy và LHRH Nghiệm thức Não thùy +LHRH Tỉ lệ sinh sản (%) Tỉ lệ thụ tinh (%) Tỉ lệ nở (%) Nhiệt độ 0 50 40 75 70 30 1 50 50 70 75 31 2 50 65 75 80 30 3 50 75 80 80 31 4 50 80 80 85 30 5 50 80 85 75 30 2 75 90 90 80 31 2 100 90 85 90 30 Ở 3 nghiệm thức đầu tiên chúng tôi thấy tỉ lệ đẻ của cá rất thấp nguyên nhân là do sử dụng loại và lượng kích dục tố chưa thích hợp có thể dẫn đến mức độ nhạy cảm của nang trứng đối với các hormone sinh dục thấp. Do đó lượng trứng chín và rụng thấp đó là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đẻ thấp. Các nghiệm thức còn lại nhìn chung tỉ lệ đẻ tương đối cao dao động trong khoảng từ 75-100%, là do sử dụng liều kích dục tố hợp lý nên đã tác dộng rất nhiều đến mức độ nhạy cảm của nang trứng. Vì thế lượng trứng chín và rụng nhiều nên tỷ lệ đẻ cao. Qua các lô thí nghiệm cho thấy khi tế bào trứng đã chín đầy đủ dưới tác dụng của các loại liều kích dục tố thích hợp sẽ cho cá đẻ với tỷ lệ rất cao. Chỉ có tế bào trứng chín mùi sẽ phản ứng với các loại kích dục tố thích hợp. Qua kết quả cho thấy thời gian hiệu ứng thuốc dao động không đáng kể. Nhiệt độ rất thích hợp cho cá sinh sản. Qua đó thấy được nhiệt độ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long rất thuận lợi cho việc kích thích cá sinh sản nhân tạo. Đặc biệt là cá Labeo rohita là loài thích nghi nhanh với điều kiện sinh thái bên ngoài. Nhìn chung tỉ lệ đẻ cao còn phụ thuộc vào cá thành thục lâu năm. So với cá mới lần đầu tiên thành thục thì cá đã thành thục lâu năm cho tỷ lệ đẻ cao hơn. 23 4.4.2. Thí nghiệm 2 Bảng 4.5: Kích thích sinh sản bằng não thùy và HCG Nghiệm thức Liều lượng kích dục Não thùy + HCG (UI/kg) Tỉ lệ sinh sản (%) Tỉ lệ thụ tinh (%) Tỉ lệ nở (%) Sức sinh sản tương đối (vạn/kg) 1 1-2 2000-3000 50 70 85 13 2 3-4 2000-3000 70 85 90 18 3 4-6 2000-3000 100 90 90 22 Nghiệm thức 1 khi tiêm cho cá cái 1-2 não thùy/kg + 2000-3000UI/kg thấy tỉ lệ đẻ 50% thấy chất lượng trứng kém sức sinh sản thấp Nghiệm thức 2 khi tiêm cho cá cái 3-4 não thùy/kg + 2000-3000UI/kg thấy tỷ lệ đẻ 70% chất lượng trứng được cải thiện sức sinh sản tương đối Nghiệm thức 3 khi tiêm cho cá cái 4-6 não thùy/kg + 2000-3000UI/kg thấy tỷ lệ đẻ 100% chất lượng trứng tốt sức sinh sản tương đối của cá đạt rất cao Mức độ nhạy cảm của nang trứng thấp khi sử dụng não thùy với liều lượng ít. Vì vậy lượng trứng chín và rụng thấp dẫn đến tỷ lệ đẻ của cá thấp khi tăng liều lượng não thùy lên 4-6 não thùy/kg thì tỷ lệ đẻ đạt được 100%. Khi sử dụng loại và lượng kích dục tố thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ đẻ của cá lên rất cao. Sức sinh sản thực tế ở cá Labeo rohita dao động trong khoảng 24-30 vạn/kg. Khi so sánh sức sinh sản thực tế ở cá Labeo rohita với các loài cá khác như: cá Mè 8-10 vạn/kg, cá Trắm 10-12 vạn/kg. Từ kết quả trên, nhìn chung khả năng sinh sản nhân tạo cá Labeo rohita ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là rất tốt. Sức sinh sản thực tế ở loài cá Labeo rohita cao hơn các loài cá nuôi trước đây như: Mè, Trắm”. 4.5. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian hiệu ứng thuốc Qua nghiệm thức thấy thời gian hiệu ứng thuốc của cá khác nhau tương ứng với mỗi mức nhiệt độ khác nhau. Nhiệt độ có tác động rõ rệt đến thời gian hiệu ứng thuốc của 24 cá, khi nhiệt độ tăng lên thì thời gian hiệu ứng thuốc sẽ ngắn lại và ngược lại khi nhiệt độ giảm xuống thì thời gian hiệu ứng thuốc sẽ kéo dài hơn. Cá là loài động vật biến nhiệt nên cường độ và tốc độ phản ứng sinh hóa của chúng chịu ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ của môi trường. Như vậy thời gian hiệu ứng thuốc của cá phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường nước khá lớn, thời gian hiệu ứng thuốc của cá ngoài phụ thuộc vào yếu tố môi trường nước còn phụ thuộc vào cá cho tham gia sinh sản. Nếu cá sinh sản đầu vụ thì thời gian hiệu ứng thuốc sẽ lâu hơn cá tái phát dục, lý do là vào đầu vụ độ nhạy cảm của nang trứng phản ứng rất chậm với các loại kích dục tố. Trong khi đó cá tái phát dục mức độ nhạy cảm của nang trứng sẽ tốt hơn, do đó thời gian hiệu ứng thuốc cũng ngắn lại. 4.6. Kết quả nuôi vỗ cá tái phát dục Qua các lô thí nghiệm thấy thời gian cá tái phát dục của cá dao động trong khoảng 20-50 ngày. Khả năng sinh sản nhiều lần trong năm của một số loài cá nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là phổ biến Theo Trịnh Văn Phận (1887):quan hệ giữa dinh dưỡng và phát dục của tuyến sinh dục rất chặt chẽ”. Sự tái thành thục của cá nhanh hay chậm tùy thuộc vào chế độ nuôi vỗ hợp lý, thức ăn phải đảm bảo đủ số lượng và chất lượng ngoài ra điều kiện sinh thái môi trường ao nuôi vỗ: nhiệt độ, oxy, pH… phải nằm trong khoảng cho phép, thì tỉ lệ thành thục sẽ cao hơn, hệ số thành thục lớn, thời gian tái dục ngắn và số lần tái phát dục nhanh hơn. Tất cả các yếu tố trên sẽ kích thích cá tái phát dục nhanh hơn. Theo các nghiên cứu trước đây về cá Mè vinh có thời gian tái phát dục là 34 ngày, cá Trắm có thời gian tái phát dục 39 ngày. Qua đó chúng tôi có thể khẳng định cá Labeo rohita có thời gian tương đối ngắn hơn các loài cá khác như: cá Mè vinh, cá Trắm. Trong sinh sản nhân tạo, nuôi vỗ là khâu có tính chất quyết định trong kỹ thuật. Qua quá trình nuôi vỗ thấy được dưới tác động của nhiều yếu tố trong đó quan trọng là chế độ dinh dưỡng và nhiệt độ thì phần lớn các loài cá nuôi đều có thể đẻ nhiều lần trong năm. Nếu trong quá trình nuôi vỗ cá tái phát dục chúng ta cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng về loại và lượng thì sẽ thúc đẩy quá trình tái thành thục của cá rất nhanh. Ngoài ra., yếu tố môi trường bên ngoài cũng tác động không nhỏ đến quá trình thành thục của cá Labeo rohita như oxy, nhiệt độ, pH…và nếu chúng ta nuôi cá với mật độ 25 thưa thì sẽ có không gian cho cá hoạt động dễ dàng yếu tố này cũng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tái thành thục của cá Labeo rohita. 4.7. Khảo sát nhiệt độ, oxy, pH ở bể đẻ và bể ấp Qua các nghiệm thức đã khảo sát được các yếu tố nhiệt độ, oxy, pH tại bể ấp và bể đẻ. Qua đây có thể xác định được khoảng dao động thích hợp về nhiệt độ, oxy, pH ảnh hưởng như thế nào đến quá trình sinh sản của cá Labeo rohita. Nhiệt độ ở bể đẻ và bể ấp dao động trong khoảng thích hợp. Nhiệt độ như trên không gây trở ngại cho việc đẻ và ấp trứng cá Labeo rohita vì “nhiệt độ của nước trên 30oC không ảnh hưởng đến quá trình đẻ và phát triển của phôi cá. Khi nhiệt độ tăng lên 35oC cá vẫn đẻ và phôi phát triển vẫn tốt. Nhìn chung, nhiệt độ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long dao động trong khoảng thích hợp cho việc sinh sản nhân tạo các loài cá nói chung và cá Labeo rohita nói riêng. Về oxy ở bể ấp và bể đẻ dao động từ 4.0-6.5 ppm qua các lần cho cá đẻ va ấp trứng. Hàm lượng oxy dao động như thế rất thuận lợi cho cá sinh sản và ấp trứng. Về pH qua các đợt cho cá sinh sản và ấp trứng, độ pH rất thích hợp cho việc sinh sản và ấp trứng cá. Theo Trịnh Văn Phận (1987) pH dao động 6.5-7 cá đẻ tốt và tỉ lệ nở rất cao. Như vậy 3 yếu tố :nhiệt độ, oxy, pH hoàn toàn phù hợp với sự sinh sản và thuận lợi cho sự phát triển của phôi cá Labeo rohita. 4.8. Ảnh hưởng của nhiệt độ nước đến tỷ lệ sinh sản Thực hiện các nghiệm thức bằng cách tiêm cùng một loại kích dục tố. Sau đó tiến hành quan sát từng nghiệm thức xem nhiệt độ ảnh hưởng đến tỉ lệ sinh sản. Ở nghiệm thức nhiệt độ dao động từ 20-22oC tỉ lệ sinh sản chỉ đạt 55%. Sau đó chúng tôi bắt đầu tăng nhiệt độ lên 22-24oC tỉ lệ sinh sản của cá bắt đầu khá hơn đạt được 65%. Sau đó chúng tôi bắt đầu tăng dần nhiệt độ lên thấy tỉ lệ sinh sản cũng tăng dần. Nhưng khi tăng nhiệt độ lên 36-38oC tỉ lệ sinh sản của cá lại bắt đầu giảm xuống. Qua khảo sát nhiệt độ của nước khi cho cá sinh sản dao động trong khoảng 28-35oC ta thấy tỷ lệ đẻ của cá đạt từ 80-90%. Điều này chứng tỏ sự thích nghi sinh thái cao của cá Labeo rohita. Nhận định của Nguyễn Thái Dương (1986) “ở nhiệt độ 35oC, cá vẫn đẻ tốt” phù hợp với kết quả thí nghiệm của chúng tôi. Đó là ưu điểm lớn trong sinh sản nhân tạo cá Labeo rohita ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cá vẫn sinh sản và 26 phát triển tốt khi nhiệt độ cao. So với các loài cá khác cá Labeo rohita có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái tốt hơn. Khi nhiệt độ tăng đến 35oC cá vẫn sống và sinh sản tốt. 4.9. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của phôi cá Qua nghiệm thức ta thấy cá Labeo rohita loài cá thích nghi cao với môi trường khi nhiệt độ nước dao động từ 20-40oC phôi cá vẫn tồn tại được nhưng nhiệt độ lý tưởng để phôi cá có thể phát triển tốt là từ 28-32oC. Nhiệt độ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long rất thích hợp cho sự phát triển của loài Labeo rohita. Ở 20oC cá vẫn tồn tại nhưng tỉ lệ nở lại rất thấp. Và khi tăng nhiệt độ từ từ lên tỷ lệ nở của cá cũng tăng lên đáng kể. Nhưng nhiệt độ lý tưởng đển tỉ lệ nở đạt cao dao động trong khoảng 28-32oC. Khi tăng nhiệt độ qua ngưỡng 32oC chúng tôi thấy phôi vẫn phát triển nhưng tỷ lệ nở đã giảm dần. Qua nghiệm thức nhìn chung nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển tốt dao động trong khoảng 28-32oC. Nhận định này cũng phù hợp với nhận xét của các nghiên cứu trước đây. Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi mà còn ảnh hưởng đến quá trình thục thành, quá trình tiêu hết noãn hoàn của cá con, tỷ lệ đẻ… Đúng là các yếu tố bên ngoài cũng tác động rất lớn đến sự thành công khi cho cá sinh sản nhân tạo 4.10. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian tiêu hết noãn hoàn của cá bột Để xác định thời gian cá bột bắt đầu dinh dưỡng ngoài chúng tôi tiến hành bố trí thí nghiệm ở các mức nhiệt độ 26, 28, 30, 31. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian tiêu hết noãn hoàng Bảng 4.7: Nhiệt độ nước ảnh hưởng đến thời gian tiêu hết noãn hoàn Nhiệt độ (oC) Thời gian (giờ) 26 32h10’ 28 30h30’ 30 27h 31 26h05’ 27 Nhiệt độ khác nhau thì thời gian tiêu hết noãn hoàn cũng khác nhau. Qua khảo sát biết được khi nhiệt độ càng cao thì thời gian tiêu hết noãn hoàng càng diễn ra nhanh hơn. Nhận định này phù hợp với những nghiên cứu của các tác giả trước đây sự tác động của nhiệt độ đến việc thành thục và phát triển của phôi “tốc độ phát dục thành thục của cá tỷ lệ thuận với nhiệt độ nước”. Cá là loài động vật biến nhiệt nên cường độ và tốc độ phản ứng sinh hóa chịu ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt độ của môi trường. Qua đó có thể kết luận rằng nhiệt độ không chỉ là nhân tố ảnh hưởng đến sự thành thục của cá mà còn tác động rất lớn đến quá trình phát triển của phôi và sự phát triển của cá bột. Khi nhiệt độ càng cao thì thời gian tiêu hết noãn hoàng càng nhanh quá trình này tỷ lệ thuận với nhau. Khi cá chưa có khả năng dinh dưỡng ngoài thì chúng sẽ tiêu hóa noãn hoàn để có thể duy trì sự sống. 4.11. Quá trình ương nuôi cá Labeo rohita Bảng 4.8: Kết quả quá trình ương nuôi Nghiệm thức Thức ăn L (cm) Lo (cm) Ho (cm) P (g) 1 Tự chế 2,9 1,9 0,7 0,5 2 Tự nhiên 3,7 3,0 1,1 1,2 Kết quả sau 45 ngày ương nuôi cá con Nghiệm thức 1: thực hiện ở bể Nghiệm thức 2:thực hiện ở ao nuôi Qua 2 nghiệm thức ta thấy tốc độ tăng trưởng có sự khác biệt rõ rệt. Ở nghiệm thức 2 có tốc độ tăng trưởng về chiều dài, chiều cao, thân, trọng lượng cao hơn so với nghiệm thức 1. Điều này chứng tỏ thức ăn và điều kiện môi trường sống ở lô thí nghiệm 2 tốt hơn so với lô thi nghiệm 1. Lô thí nghiệm 1 chúng tôi sử dụng thức ăn tự chế có thể không thích hợp với kích cở miệng cá, nên cá ít dùng và ở lô thí nghiệm 1 chúng tôi bố trí với mật độ cao nên cá ít có không gian vận động. Đó là 2 nguyên nhân chính làm cho cá ở lô thí nghiệm 1 kém phát triển hơn so với lô thí nghiệm 2. Ở lô thí nghiệm 2 sử dụng thức ăn tự nhiên, có thể nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực dồi dào và hợp với kích cở miệng cá nên cá ưa thích hơn và môi trường sống ở ao 28 chúng tôi bố trí với mật độ thấp tạo điều kiện thuận lợi cho cá vận động nhiều. Từ đó rút ra nhận xét hai nguyên chính làm cho cá bố trí ở lô thí nghiệm 2 phát triển tốt hơn cá ở lô thí nghiệm 1 về chiều cao, chiều dài, kích cở lẫn cân nặng. 29 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1. KẾT LUẬN Qua các lần nghiên cứu tìm hiểu trong quá trình thực hiện đề tài “sử dụng các loại kích dục tố HCG, LHRH-A, não thùy thể kích thích cá Trôi đen sinh sản” có một số nhận định: -Khi kết hợp 4-6 não thùy với 2000-3000(UI/kg) HCG tỉ lệ sinh sản của cá đạt cao. -Khi kết hợp 2 não thùy với 75-100 (µg/kg) LHRH-A cá sinh sản tốt. -Cá Labeo rohita có sức sinh sản cao. -Khi nhiệt độ tăng lên thì thời gian hiệu ứng thuốc của cá sẽ ngắn lại. 5.2. ĐỀ XUẤT -Cần có nhiều thời gian mới có thể nghiên cứu sâu thêm đặc điểm sinh sản của cá Labeo rohita. -Nghiên cứu bổ sung khả năng tái thành thục của cá trong ao theo chu kỳ. 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1-Nguyễn Văn Kiểm, 1999. Giáo trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi ở ĐBSCL. Khoa Thủy sản - ĐHCT 2-Nguyễn Văn Kiểm, 2004. Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống cá nước ngọt. Khoa Thủy sản – ĐHCT. 3-Nguyễn Thái Dương, 1986. Bước đầu thí nghiệm sản xuất giống cá Labeo rohita. Luận văn TNĐH – KTS –ĐHCT. 4-Trịnh Văn Phận, 1987. Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học và sản xuất giống cá Labeo rohita. Luận văn TNĐH – KTS –ĐHCT 5-Nguyễn Thị Yến Linh, Diệp Hồng Phước, Nguyễn Tường Anh, 2006. Thí nghiệm kích thích cá sinh sản bằng Domperidon và 17α, 20 β-dihydroxy-4- pregnen- 3-one (17,20P). Tạp chí khoa học ĐHCT. Số đặc biệt chuyên đề Thủy Sản tháng 4/2006. tr.201-206. 6-Nguyễn Tường Anh, 1999. Một số vấn đề về nội tiết học sinh sản cá. NXB Nông nghiệp tr. 238 7-Trần Chí Học, 2000. So sánh hiệu quả gây chín và rụng trứng. Báo cáo khoa học tr. 108-113 8-Tạp chí phát triển khoa học công nghệ tập 10, số 4 – 2007 9- http: //www.fistenet.gov.vn/ 31 PHỤ LỤC Điều kiện ao nuôi vỗ cá bố mẹ Điều kiện ao nuôi vỗ 0 5 10 15 20 25 30 35 1 2 3 4 5 Tháng G iá tr ị đ o Nhiệt độ oxy pH Mức độ thành thục ảnh hưởng đến tỉ lệ sinh sản 0 20 40 60 80 100 120 Chớm thành thục Thành thục Chớm thoái hóa Mức độ thành thục G iá tr ị Tỉ lệ sinh sản(%) Sức sinh sản tương đối 32 Kích thích sinh sản bằng não thùy +HCG Kích thích sinh sản 0 20 40 60 80 100 120 1-2 + 2000- 3000 3-4 + 2000- 3000 4-6 + 2000- 3000 Liều lượng Tỉ l ệ Tỉ lệ sinh sản (%) Tỉ lệ thụ tinh(%) Tỉ lệ nở(%) Kích thích sinh sản bằng não thùy +LHRH Kích thích sinh sản 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 0 + 50 1 + 50 2 + 50 3 + 50 4 + 50 5 + 50 2 + 75 2 + 100 Liều lượng Tỉ lệ (% ) Tỉ lệ sinh sản (%) Tỉ lệ thụ tinh(%) Tỉ lệ nở(%)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflv_lq_vinh_7397.pdf
Luận văn liên quan