Thị trường vốn Việt Nam - Lý luận và thực tiễn

LỜI MỞ ĐẦU Cùng với lao động và đất đai, vốn là một yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng mà tất cả các doanh nghiệp phải lựa và sử dụng một cách hợp lý. Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, trị trường vốn ở nước cũng phát triển ngày càng phong phú, đa dạng. Như ta đã biết, thị trường vốn là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại. Nền kinh tế của một quốc gia có phát triển mạnh mẽ hay không , điều đó sẽ được phản ánh thông qua thị trường vốn. Tất cả các biến động trong nền kinh tế đều ít nhiều gây ra các ảnh hưởng đối với thị trường vốn, vì vậy mà thị trường vốn còn được coi là “ một nền kinh tế tượng trưng” cho nền kinh tế thực. Bên cạnh đó, một quốc gia muốn phát triển về mọi mặt đặc biệt là về kinh tế thì điều vô cùng quan trọng đối với quốc gia đó chính là vốn- điều kiện hàng đầu trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển như nước ta. Đứng trước yêu cầu phát triển đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo để trở thành một quốc gia có nền công nghiệp phát triển, nền kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời sống nhân dân được nâng cao về mọi mặt, củng cố an ninh quốc phòng, phát triển văn hoá-xã hội ; thì nhu cầu về vốn càng lớn và càng trở nên cấp thiết. Do vậy mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế đều đặt vấn đề thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước và sử dụng vốn sao cho hiệu quả lên vị trí quan trọng. Hiện nay, thị trường vốn chính là kênh cung cấp vốn phong phú nhất, đa dạng nhất với nhiều hình thức khác nhau, nhiều thời hạn khác nhau cho các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân. Từ những lí do kể trên, chúng ta thấy được vai trò quan trọng của thị trường vốn đối với nền kinh tế Việt Nam, cũng như tính cấp thiết của việc nghiên cứu loại thị trường này để đưa các giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện thị trường vốn. Dựa trên những kiến thức đã được học trong bộ môn kinh tế học, đặc biệt là kinh tế học vi mô và xuất phát từ tình hình thực tiến của thị trường vốn ở Việt Nam, em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn”. Kết cấu của đề tài bao gồm ba chương: Chương I : Những lý luận chung về thị trường vốn. Chương II : Thực trạng về thị trường vốn ở Việt Nam. Chương III : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động của thị trường vốn Việt Nam

doc33 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 1852 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thị trường vốn Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ền kinh tế Việt Nam, cũng như tính cấp thiết của việc nghiên cứu loại thị trường này để đưa các giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện thị trường vốn. Dựa trên những kiến thức đã được học trong bộ môn kinh tế học, đặc biệt là kinh tế học vi mô và xuất phát từ tình hình thực tiến của thị trường vốn ở Việt Nam, em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn”. Kết cấu của đề tài bao gồm ba chương: Chương I : Những lý luận chung về thị trường vốn. Chương II : Thực trạng về thị trường vốn ở Việt Nam. Chương III : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động của thị trường vốn Việt Nam Đây là một đề tài nghiên cứu những vấn đề lớn, bức xúc và không kém phần phức tạp do thực tiễn đặt ra. Do vậy trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, em hy vọng sẽ nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thu Phương K43.11.01 CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN 1.1. Khái niệm về vốn - tư bản Các yếu tố sản xuất được chia thành 3 nhóm cơ bản là : lao động, đất đai và vốn. Thuật ngữ vốn để chỉ khối lượng trang thiết bị và cơ sơ hạ tầng sử dụng trong toàn bộ quá trình sản xuất, được hiểu là vốn hiện vật. Vậy vốn hiện vật là gì? 1.1.1 Vốn hiện vật Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất và được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ khác. Đặc điểm cơ bản nhất của vốn hiện vật thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào của sản xuất. Vốn hiện vật bao gồm máy móc của dây chuyền lắp ráp dùng để sản xuất xe hơi, đườn ray xe lửa để làm dịch vụ vận tải, vật liệu dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh, các trường sở tạo nên dịch vụ giáo dục, các nhà ở để làm dịch vụ cho thuê nhà và cả những đồ dùng lâu bền trong gia đình . Vốn hiện vật khác với đất đai ở chỗ là chúng được chế tạo ra. Vốn và đất đai gộp lại tạo nên tài sản hữu hình của nền kinh tế. Phân biệt giữa vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là một bộ phận của tài sản hữu hình; vốn hàng hoá có thể mua, bán, cho thuê nên nó phải có giá. Vốn tài chính không phải là tài sản hữu hình, vốn tài chính không trực tiếp sản xuất hàng hóa, nó là phương tiện sử dụng để mua các yếu tố sản xuất dùng để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ . Trong thực tế khó tính được chính xác tổng số vốn của các doanh nghiệp ở các thời điểm vì vốn bị hao mòn theo thời gian và những tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm cho các tài sản cũ kém năng suất và đắt hơn các tài sản mới. Để bù đắp sự hao mòn này các doanh nghiệp phải có sự đầu tư thường xuyên nhằm duy trì sự hoạt động của các tài sản trong hiện tại và tương lai. Việc bù đắp phải được tính toán trên cơ sở giá của tài sản và mức độ sử dụng của tài sản. 1.1.2 Lãi suất và giá của tài sản 1.1.2.1 Định nghĩa về giá Giá của một tài sản là tổng số tiền có thể mua đứt quỹ tài sản vốn đó. Bằng cách sở hữu một tài sản vốn, người mua tài sản đó thu được quyền sử dụng các dịch vụ vốn trong tương lai do vốn đó tạo ra. Cần phân biệt giá mua và giá thuê. Giá mua đất đai hoặc vốn hàng hoá là giá mà một cá nhân hay một tổ chức trả để có quyền sở hữu mãi mãi yếu tố sản xuất đó. Giá thuê là giá mà một cá nhân trả để có quyền sử dụng yếu tố đó trong một thời kỳ nhất định. Tài sản tính bằng tiền chính là vốn tài sản của người chủ đã mua sắm tài sản đó . Người mua sẽ thu hồi số tiền mua tài sản đó thông qua tiền thuê được trả trong tương lai do các dịch vụ của các tài sản cung cấp . Trong nền kinh tế thị trường, việc mua tài sản và cho thuê tài sản đều tính bằng tiền . Giá trị hiện hành của tài sản và tiền thuê dịch vụ tài sản đều gắn với tiền trả lãi suất và thời gian 1.1.2.2 Lãi suất và giá trị hiện tại Tài sản tính bằng tiền chính là vốn tài sản của người chủ đã mua sắm tài sản đó . Người mua sẽ thu hồi số tiền mua tài sản đó thông qua tiền thuê được trả trong tương lai do các dịch vụ của các tài sản cung cấp . Trong nền kinh tế thị trường, việc mua tài sản và cho thuê tài sản đều tính bằng tiền . Giá trị hiện hành của tài sản và tiền thuê dịch vụ tài sản đều gắn với tiền trả lãi suất và thời gian Giá trị hiện tại của 1 USD tại một ngày nào đó trong tương lai là số tiền mà nếu đem cho vay ngày hôm nay, sẽ tích lũy thành 1 USD vào ngày nào đó trong tương lai. Quy luật của lãi kép chỉ ra rằng, cho vay 1 USD hôm nay sẽ tích lũy thành một số tiền càng lớn, nếu tương lai mà chúng ta duy trì khoản cho vay và cho vay tiếp khoản lãi càng lâu dài. Ngược lại, giá trị hiện tại của một USD kiếm được tại một thời điểm tương lai nào đó trở lên ngày càng nhỏ, nếu thời điểm tương lai mà tại đó kiếm được một USD, càng xa xôi. Lãi suất 10% Giá trị tích lũy của một USD trong các năm 1.62 USD 0 2 4 6 8 10 1 2 3 Lãi suất 5% Lãi suất 10% 2.59 USD Sự tích lũy thông qua lãi suất Hình trên cho ta thấy việc vay 1 USD ngày hôm nay sẽ tích lũy ở các mức lãi kép 5% và 10% như thế nào. Sau 10 năm, 1 USD cho vay sẽ tích luỹ thành 2.59 USD ở mức lãi suất 10%, nhưng chỉ là 1.62 USD ở mức 5%. Các mức lãi suất cao hơn tạo ra tích lũy nhanh hơn thông qua việc cho vay. Do đó giá trị hiện tại của 1USD sau thời gian là 10 năm là 1/2.59 = 0.386 USD với mức lãi suất 10%. Tuy nhiên nếu mức lãi suất là 5% thì giá trị 1 USD sau 10 năm là 1/1.62 = 0.617 USD Sử dụng mức lãi suất để tính các giá trị hiện tại của các khoản trả trong tương lai cho ta biết cách đúng đắn để cộng gộp lại các khoản trả ở những điểm thời gian khác nhau. Chúng ta tính giá trị hiện tại cho mỗi khoản trả ở mỗi thời điểm. Sau đó, chúng ta cộng gộp lại các giá trị hiện tại của các khoản trả khác nhau. Giá của tài sản vốn có liên quan đến chuỗi các khoản trả trong tương lai mà sẽ thu được từ các dịch vụ vốn mà nó cung cấp . Việc tính toán giá trị hiện tại của khoản tiền cho thuê kiếm được bằng tài sản đó trong mỗi năm của thời gian họat động của nó và cộng những giá trị hiện tại đó với nhau cho ta biết tài sản đó đáng giá bao nhiêu tại ngày hôm nay. 1.1.2.3 Xác định giá trị hiện tại Việc xác định giá tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng tới quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải so sánh những phí tổn mà họ phải chi ra hiện nay với luồng tiền mà tài sản đó tạo ra trong tương lai. Tuy nhiên chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra và luồng tiền có thể thu được trong tương lai từ tài sản không đồng nhất về thời gian, do đó để có thể so sánh được chúng ta phải đặt chúng trên cùng một mặt bằng về thời gian. Một trong những cách đó là chuyển giá trị những khoản tiền dự kiến thu được trong tương lai về hiện tại. Ta sẽ xem xét kĩ hơn về giá trị hiện tại Giá trị hiện tại (PDV) là giá trị tính bằng tiền hiện hành của các khoản thu hoặc các khoản thanh toán trong tương lai. Để xác định được giá trị của khoản tiền được trả trong tương lai đáng giá bao nhiêu hiện nay, ta phải tiến hành xác định giá trị tương lai Giá trị tương lai của một khoản đầu tư Giả sử chúng ta có vốn K đem đầu tư ngày hôm nay với lãi suất r. Ta có giá trị tương lai là: FV1=K(1+r) sau 1 kỳ FV2=K(1+r)2 sau 2 kỳ, …… FVn=K(1+r)n sau n kỳ Trong đó (1+r)n là hệ số tính kép để tính chuyển các khoản tiền từ giá trị mặt bằng thời gian hiện tại về mặt bằng thời gian tương lai. r : là tỷ suất sử dụng để tính chuyển. Công thức xác định giá trị hiện tại Sau 1 kỳ Sau 2 kỳ, ..... Sau n kỳ Tổng giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ sau n năm được xác định Trong đó: t là kỳ nghiên cứu thứ t r là lãi suất chiết khấu Hệ số 1/(1+r)t được gọi là hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản tiền từ giá trị ở mặt bằng thời gian hiện tại. Như vậy quy luật của lãi suất kép chỉ ra số tiền tích lũy và giá trị hiện tại của vốn phụ thuộc vào 2 nhân tố: thời gian và lãi suất. Do vậy lãi suất và giá trị tương lai của vốn là cơ sở để xác định giá trị của một tài sản. 1.1.2.4. Giá trị ròng hiện tại và quyết định đầu tư Một trong những tiêu chuẩn doanh nghiệp phải tính đến khi quyết định có nên đầu tư vốn hay không, là giá trị ròng hiện tại (NPV). Nghĩa là doanh nghiệp quyết định đầu tư, nếu như giá trị hiện tại của luồng tiền tương lai dự kiến từ khoản đầu tư đó lớn hơn chi phí đầu tư (NPV>0) Trường hợp 1: Đầu tư một lần ngay từ đầu và dự kiến nó sẽ mang lại số thu cuối mỗi kỳ là : ẽ1, ẽ2, ẽ3, ....., ẽn thì giá trị ròng hiện tại của đầu tư được xác định theo công thức: Trong đó: r : là lãi suất bình quân hàng năm ẽ1 : là số thu năm thứ t C : là khoản đầu tư một lần ban đầu n : là số năm kỳ nghiên cứu Trường hợp 2: đầu tư được chia ra ở nhiều năm trong kỳ và thu nhập chỉ có khi tài sản được đưa vào họat động (thu, chi cùng thời điểm đầu kỳ). Giá trị ròng hiện tại của đầu tư được xác định theo công thức: Trong đó: C1 : toàn bộ chi đầu tư năm thứ t ẽ1 : là số thu năm thứ t r : là lãi suất bình quân hàng năm n : là số năm kỳ nghiên cứu Trường hợp 3: đầu tư được chia ra ở nhiều năm trong kỳ và thu nhập chỉ có khi tài sản được đưa vào họat động (chi ở đầu kỳ và thu ở cuối kỳ). Giá trị ròng hiện tại của đầu tư được xác định theo công thức: Trong đó: C1 : toàn bộ chi đầu tư năm thứ t ẽ1 : là toàn bộ chi đầu tư năm thứ t r : là lãi suất hàng năm n : là số năm kỳ nghiên cứu Kết luận: Nếu NPV >0 tức là giá trị hiện tại của các khoản tiền dự kiến thu được trong tương lai từ tài sản lớn hơn chi phí đầu tư. Doanh nghiệp sẽ quyết định đầu tư. Nếu NPV = 0 tức là lợi tức từ việc đầu tư đúng bằng chi phí cơ hội của việc sở hữu vốn. Doanh nghiệp sẽ trung lập giữa đầu tư và không đầu tư. Nếu NPV<0 doanh nghiệp sẽ không đầu tư. 1.1.2.5. Lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa Trong thực tế, tiền thuê vốn hiện vật trong tương lai còn phức tạp hơn so với việc cho ngân hàng vay dù đó là lãi suất cố định. Việc trả tiền thuê vốn hiện vật trong tương lai còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế và mức sản xuất do tài sản đó làm ra. Lãi suất danh nghĩa cho ta biết sẽ thu được tiền lãi là bao nhiêu USD hiện hành nếu cho vay một USD trong một năm Lãi suất thực tế do mức tiền lãi của một khoản chi vay tính theo mức tăng của lượng hàng hóa mà có thể mua được, chứ không phải theo mức tăng về giá trị danh nghĩa hay tính bằng tiền của quỹ vay. Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát Việc định giá tài sản cần xem xét lãi suất thực tế, trong nền kinh tế người ta thường dùng hệ số chiết khấu dựa trên cở sở lãi suất thực tế để tính toán 1.2 Nhu cầu về dịch vụ vốn 1.2.1 Cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp Trong ngắn hạn, cầu về vốn của một doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp đó. Tài sản tham gia vào quá trình kinh doanh cũng giống như yếu tố lao động, chủ doanh nghiệp phải xem xét một giờ thêm của dịch vụ vốn sẽ mang lại thêm vào giá trị sản lượng của doanh nghiệp là bao nhiêu. Do đó doanh nghiệp phải so sánh giữa chi phí cận biên của dịch vụ vốn và doanh thu cận biên của dịch vụ vốn. Doanh thu cận biên của vốn là mức gia tăng về tổng doanh thu do sự gia tăng của một đơn vị dịch vụ vốn được sử dụng. Khi doanh nghiệp độc quyền trên thị trường sản phẩm thì đường MRK cũng dốc hơn khi doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường sản phẩm. Đồng thời doanh thu cận biên của dịch vụ vốn cũng tuân theo quy luật giảm dần. Chi phí cận biên của dịch vụ vốn là mức gia tăng về tổng chi phí do sự gia tăng một đơn vị dịch vụ vốn được sử dụng. Theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận nói chung, nếu doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường vốn thì chi phí cận biên (MCK) của vốn luôn bằng chi phí tiền thuê vốn danh nghĩa (R) MCK = R Đường MRK cho thấy mức dịch vụ vốn mà doanh nghiệp sẽ thuê tương ứng với các mức tiền thuê R trên thị trường. Vì vậy đường MRK chính là đường cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp . Đường cầu về dịch vụ vốn dốc xuống về bên phải cũng do tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần Vì vậy, doanh nghiệp sẽ tăng thuê vốn cho đến khi mà doanh thu cận biên của vốn bằng tiền thuê vốn danh nghĩa MRK = R R R0 K0 K MRK = DK Xác định giá thuê vốn và đường cầu về vốn của doanh nghiệp * Các nhân tố làm dịch chuyển đường cầu về dịch vụ vốn - Giá sản phẩm của doanh nghiệp. Khi giá tăng làm cho MRK tăng dẫn đến MCK tăng, đường MRK dịch chuyển sang phải, khối lượng vốn tăng. - Mức sử dụng các yếu tố đầu vào khác. Giả sử khi lao động tăng, làm cho tổng doanh thu tăng, dẫn đến MRK tăng, đường MRK dịch chuyển sang phải, khối lượng vốn tăng. -Tiến bộ kĩ thuật , năng suất của vốn hiện vật tăng lên , làm cho tổng doanh thu tăng, dẫn đến MRK tăng, MRK dịch sang phải, khối lượng vốn tăng R R0 K1 K2 MRK2 MRK1 Dịch chuyển đường cầu về vốn 1.2.2 Cầu về dịch vụ vốn của ngành Là tổng cầu về dịch vụ vốn của các doanh nghiệp trong ngành, được xác định bằng cách cộng theo chiều ngang đường MRK của các doanh nghiệp. R R1 R2 MRK2 MRK1 R K1 K2 K’ K K1 K2 K’ K DK DK’ Đường cầu về vốn khi P không đổi Đường cầu khi P giảm Đường cầu vốn của doanh nghiệp Đường cầu vốn của ngành Đường cầu về vốn của ngành Khi tiền thuê vốn giảm (Râ), cầu về khối lượng dịch vụ vốn tăng lên (Ká), khối lượng sản phẩm được sản xuất ra nhiều hơn, giá của sản phẩm giảm xuống, làm cho rTRKâ => rMRKâ, đường MRK dịch chuyển sang trái từ MRK1 --> MRK2 . Đường cầu về dịch vụ vốn của ngành khi giá giảm dốc hơn đường cầu về dịch vụ vốn của ngành khi P không đổi. 1.3 Cung về dịch vụ vốn 1.3.1.Chi phí của vốn Vì mục tiêu lí giải các khoản đầu tư do doanh nghiệp cho thuê thực hiện nên chúng ta xem xét lợi ích và chi phí của việc sở hữu khối lượng vốn lớn. Lợi ích của việc sở hữu vốn là doanh thu nhận được từ việc cho các doanh nghiệp sản xuất thuê để nhận được thu nhập chính là giá thuê vốn(R) trả cho mỗi đơn vị vốn mà nó sở hữu. Chi phí của việc sở hữu vốn, mỗi khi cho thuê một đơn vị vốn thì doanh nghiệp cho thuê phải chịu 3 loại chi phí: + Chi phí lãi suất : tức là khi doanh nghiệp vay tiền để mua vốn thì phải trả lãi cho khoản vay đó. + Khoản lỗ hay lãi do giá vốn thay đổi: trong khi doanh nghiệp cho thuê vốn thì giá vốn có thể thay đổi, nếu giá vốn giảm doanh nghiệp cho thuê bị lỗ, nếu giá vốn tăng doanh nghiệp cho thuê được lãi. + Chi phí khấu hao: trong khi cho thuê, vốn bị hao mòn. 1.3.2. Cung về dịch vụ vốn của doanh nghiệp Các doanh nghiệp cung về vốn đồng thời cũng là các doanh nghiệp có nhu cầu về hàng tư liệu. Đứng trước mỗi nhu cầu nhà cung ứng tiềm tàng về vốn sẽ so sánh giữa giá mua tài sản vốn với giá trị hiện tại của tất cả các khoản tiền dự kiến có thể thu được trong tương lai từ tài sản đó để quyết định đầu tư. Đồng thời doanh nghiệp phải xác định được giá cho thuê tối thiểu. Giá cho thuê tối thiểu là tiền cho thuê cho phép người chủ sở hữu vừa đủ bù đắp chi phí cơ hội cho việc sở hữu vốn hay chi phí cho thuê vốn. Nếu giá cho thuê thực tế cao hơn giá cho thuê tối thiểu, doanh nghiệp sẽ tăng khối lượng vốn cho thuê, cung về dịch vụ vốn của doanh nghiệp tăng và ngược lại. 1.3.3 Cung về dịch vụ vốn cho một ngành Trong ngắn hạn, tổng dự trữ các tài sản vốn cho toàn bộ nền kinh tế là cố định. Do đó lượng vốn sẵn sàng cung ứng cho một ngành tương đối ổn định. Một số ngành như điện, viễn thông, luyện kim, ... không thể ngày một ngày hai có thể xây dựng thêm nhà máy mới.. Do đó cung về dịch vụ vốn cho các ngành là cố định, đường cung về vốn là thẳng đứng. Một số ngành khác có thể thu hút thêm lượng cung ứng dịch vụ vốn cho mình thông qua việc tăng tiền thuê vốn: ví dụ như ngành thương mại bằng cách trả tiền thuê cao hơn nên họ thu hút thêm được một phần vốn tài sản. Như vậy, đường cung về dịch vụ vốn cho một ngành trong ngắn hạn thường là một đường thẳng đứng hoặc là rất dốc. Trong dài hạn, dự trữ tài sản vốn trong cho từng ngành sẽ thay đổi. Các nhà máy có thể xây dựng thêm, các thiết bị có thể được sản xuất và mua sắm thêm... Dự trữ tài sản vốn lớn hơn sẽ tạo ra (luồng dịch vụ vốn) khả năng cung ứng vốn lớn hơn và ngược lại, Nhưng dự trữ vốn lớn hơn chỉ khi nào giá cho thuê vốn cao hơn. Do đó trong dài hạn đường cung về vốn cho một ngành là đường dốc lên và thoải hơn đường cung về vốn ngắn hạn. 1.3.4 Cung về vốn đối với toàn bộ nền kinh tế Trong ngắn hạn, đối với toàn bộ nền kinh tế, tổng cung các tài sản vốn như máy móc, nhà cửa, xe cộ … mà chúng ta cung cấp là cố định vì không thể trong thời gian ngắn có thể tạo ra được các máy mới. Bởi vậy đường cung của các dịch vụ vốn trong ngắn hạn là đường thẳng đứng do việc cung ứng các dịch vụ vốn trong ngắn hạn là cố định. S’ S S’ S Mức cung cố định trong ngắn hạn Lượng cung ứng dịch vụ vốn Đồ thị cung ứng vốn Tiền thuê 1 đơn vị Trong dài hạn, một lượng dịch vụ vốn nhất định được cung ứng cho nền kinh tế chỉ khi nào thu được giá cho thuê cần có. Nếu nó thu được nhiều hơn, con người sẽ tạo thêm các hàng tư liệu mới. Nếu nó thu được ít hơn, các chủ sở hữu vốn sẽ đồng ý để hàng tư liệu của họ hao mòn mà không tạo thêm các hàng tư liệu mới. Trong dài hạn, có thể có luồng dịch vụ vốn lớn hơn chỉ khi nào có dự trữ vốn thường xuyên lớn. Nhưng vốn bị hao mòn, dự trữ vốn càng cao thì tổng lượng khấu hao càng lớn. Do đó nguồn dịch vụ vốn nhiều hơn trong dài hạn đòi hỏi có dự trữ vốn thường xuyên nhiều hơn, về phần mình, dự trữ đòi hỏi các nguồn hàng hóa tư liệu mới nhiều hơn để bù đắp khấu hao và bảo quản dự trữ vốn chưa dùng đến. Nhưng các nhà sản xuất hàng tư liệu mới sẽ đòi hỏi giá cao hơn cho hàng tư liệu mới nếu họ sản xuất một lượng hàng tư liệu mới lớn hơn. Do đó để duy trì tỷ suất lợi tức cần có, chúng ta đòi hỏi giá cho thuê lớn hơn đối với các dịch vụ vốn. Một mức giá thuê cao hơn chia cho giá mua hàng tư liệu cao hơn sẽ làm cho tỷ suất lợi tức không đổi. Luồng dịch vụ vốn cao hơn trong dài hạn sẽ được cung ứng nếu giá thuê vốn tăng lên cân đối với giá mua đã tăng của hàng tư liệu. Chúng ta thấy đường cung dịch vụ vốn dốc lên trong dài hạn, khi vẽ trong hệ tọa độ lượng cung ứng dịch vụ vốn và giá cho thuê vốn. Khi mức lãi suất thực tế tăng lên, với một giá mua hàng tư liệu đã cho, giá cho thuê cần có phải tăng lên. Người cung ứng vốn cần phải có mức lợi tức cao hơn để bù đắp chi phí cơ hội cao hơn của số tiền họ bỏ ra để mua hàng tư liệu. Ta thấy hiệu ứng của sự gia tăng lãi suất thực tế như là sự dịch chuyển đường cung dài hạn đối với các dịch vụ vốn lên phía trên từ SS đến S’S’. 1.4 Cân bằng và sự điều chỉnh thị trường vốn 1.4.1 Xác định lãi suất và lợi tức vốn Khi quyết định có nên đầu tư hay không, các doanh nghiệp muốn có lợi nhuận tối đa luôn luôn so sánh giữa chi phí vay vốn và tỷ suất lợi tức thu được. Nếu tỷ suất lợi tức đầu tư cao hơn lãi suất thị trường đối với vốn vay thì doanh nghiệp sẽ tiến hành đầu tư, còn nếu lãi suất vay cao hơn tỷ suất lợi tức đầu tư thi doanh nghiệp sẽ không đầu tư. Điểm cân bằng là điểm đạt được khi sự cạnh tranh của các doanh nghiệp làm cho tỷ suất lợi tức giảm xuống tới mức bằng lãi suất thị trường. Trong nền kinh tế cạnh tranh không có rủi ro, không lạm phát, tỷ suất lợi tức cạnh tranh luôn bằng lãi suất thị trường. 1.4.2 Cân bằng trong ngắn hạn E SK DK K r0=i0 r, i Cân bằng ngắn hạn Cân bằng ngắn hạn của cung và cầu vốn Đồ thị trên cho ta thấy đầu tư trong quá khứ đã tạo ra một lượng vốn nhất định, biểu diễn bằng đường cung ngắn hạn thằng đứng SK. Các hãng sản xuất có nhu cầu vốn hiện vật được phản ánh bằng đường cầu DK dốc xuống. Tại điểm cắt nhau của đường cung và đường cầu, số lượng vốn được phân bổ hết cho các hãng có nhu cầu. Tại điểm cân bằng ngắn hạn này, các hãng chấp nhận hàng năm trả r0 lãi vay hàng năm để mua các hàng hóa vốn, đồng thời người cho vay bằng lòng thu về đúng r0=i0 lãi mỗi năm trên số vốn mà họ cung cấp. Do vậy trong một nền kinh tế cạnh tranh không có rủi ro và lạm phát, tỷ suất lợi tức bằng lãi suất thị trường, bất kỳ một mức lãi suất nào cao hơn sẽ không được các hãng chấp nhận vay để đầu tư, bất kỳ mức lãi suất thấp hơn nào sẽ làm cho vốn trở nên khan hiếm do cầu của các hãng tăng lên. Chỉ có tại điểm cân bằng với mức lãi suất r0=i0 thì cung và cầu mới bằng nhau. 1.4.3 Cân bằng trong dài hạn Nhưng điểm cân bằng E chỉ ổn định trong thời gian ngắn do tại điểm E mọi người thấy rằng mức lãi suất vẫn cao, mang lại một mức thu nhập,khuyến khích mọi người gia tăng tiết kiệm. rLR SKLR DK Cân bằng dài hạn K E’ E S S’’ S’’’ r0=i0 r,i Điểm cân bằng dài hạn của cung và cầu vốn Mức cung dài hạn của vốn được thể hiện là đường SKLR có chiều dốc lên, hàm ý mọi người muốn cho vay nhiều hơn khi lãi suất thực tế tăng lên. Tại điểm E với mức lãi suất i0, cung dài hạn về vốn vượt quá cầu về vốn. Các tác nhân kinh tế muốn tích lũy nhiều vốn hơn, gia tăng tiết kiệm. Lúc đầu vốn tích lũy ban đầu tại điểm E, sau đó theo thời gian, vốn tích lũy tăng dần. Kết quả là sau một thời gian, nền kinh tế sẽ trượt dọc theo đường cầu về vốn sang phải. Điểm cân bằng dài hạn đạt được tại điểm E’. Cân bằng ngắn hạn trượt dọc từ điểm E xuống theo đường cầu DK vì tại mức tỷ suất lợi tức r0 đầu tư là có lợi, xã hội ngày càng gia tăng tích lũy vốn. Theo thời gian cung ngắn hạn về vốn bị đẩy dần sang phải từ đường S sang S’, S’’ ... Đồng thời theo quy luật lợi tức giảm dần, tỷ suất lợi tức và lãi suất cùng giảm. Khi vốn tăng lên, các yếu tố khác không đổi, thì tỷ suất lợi tức (r0) đối với trữ lượng vốn hàng hóa sẽ giảm xuống đến rLR Tại điểm E’ cung dài hạn về vốn (SKLR) cắt đường cầu về vốn (DK). Điểm cân bằng dài hạn đạt được khi lãi suất giảm tới mức rLR, trữ lượng vốn mà các tác nhân sử dụng đúng bằng số tiền mọi người muốn cung cấp. Tại điểm này, tiết kiệm ròng bằng 0, trữ lượng vốn không còn tăng lên nữa. Lãi suất và tỷ suất lợi tức cân bằng dài hạn bằng nhau (r0=i0), giá trị tài sản tài chính mọi người muốn giữ trong dài hạn đúng bằng lượng vốn mà các hãng kinh doanh muốn sử dụng tại lãi suất đó. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM 2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1.1.Tình hình chung Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 150 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước trên thế giới. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã có vai trò quan trọng phát triển năng động, chiếm 1/4 vốn đầu tư toàn xã hội, trên 35% tổng giá trị năng lượng công nghiệp, hơn 25% giá trị xuất khẩu cả nước, thu hút trên 400.000 lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp. Từ năm 1988 đến 1990 là 3 năm khởi đầu FDI chưa có tác dụng rõ rệt đến tình hình kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Cả 3 năm cộng lại có hơn 1,5 tỷ USD vốn đăng ký, còn vốn thực hiện thì không đáng kể, bởi vì các doanh nghiệp FDI sau khi được cấp giấp phép phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới đưa được vốn vào Việt Nam. Từ năm 1991 đến 1997 là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh và góp phần ngày càng quan trọng vào mục tiêu kinh tế xã hội. Trong kế hoạch 5 năm 1991- 1995, đã thu hút 16 tỷ USD vốn đăng ký, tốc độ tăng trưởng hàng năm rất cao, vốn đăng ký năm 1991 là 1,275 tỷ USD thì năm 1995 là 6,6 tỷ USD, gấp 5,3 lần. Vốn thực hiện trong cả 5 năm là 7,153 tỷ USD, bằng 32% tổng vón đầu tư cả nước. Hai năm tiếp theo 1996- 1997 FDI tiếp tục tăng trưởng nhanh: thêm 15 tỷ USD vốn đăng ký và 6,06 tỷ USD vốn thực hiện. Từ năm 1998 đến năm 2000 là thời kỳ suy thoái của FDI. Vốn đăng ký bắt đầu giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo. Năm 1998 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo. Năm 1998, vốn đăng ký là 3,897 tỷ USD thì năm 1999 chỉ bằng 40,2%, còn 1,568 tỷ USD; năm 2000 là 1,973 tỷ USD. Sau khi đạt kỷ lục về vốn thực hiện vào năm 1997 với gần 3,2 tỷ USD, thì 3 năm tiếp theo đã giảm rõ rệt, năm 1998 là 2,4 tỷ USD, năm 1999 và năm 2000 mỗi năm 2,2 tỷ USD. Từ năm 2001 đến nay là thời kỳ phục hồi hoạt động của FDI. Vốn đăng ký năm 2001 là 2 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2000. Vốn thực hiện là 2,3 tỷ USD, tăng 3% so với năm trước. Năm 2002, vốn đăng ký gần 1,4 tỷ USD và vốn thực hiện 2,35 tỷ USD. Trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2006, nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam có chiều hướng gia tăng với tốc độ nhanh. Trong 2001-2005, tổng số vốn đăng ký đã đạt 20,9 tỷ USD, vượt 39% so với mục tiêu. Tổng số vốn FDI thực hiện trong giai đoạn 2001-2005 là 14,3 tỷ USD, vượt 30% kế hoạch. Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010, trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm, nguồn vốn FDI được dự báo khoảng 24 tỷ USD, chiếm 17,1% trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội của kế hoạch. Theo báo cáo nhanh của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), so sánh tình hình thực hiện vốn FDI trong 8 tháng đầu năm 2007 so với 8 tháng đầu năm 2006 Chỉ tiêu Đơn vị 8 tháng đầu 2006 8 tháng đầu 2007 So cùng kỳ Tình hình thực hiện: Vốn đầu tư thực hiện triệu USD 2485 2980 119,9% Doanh thu triệu USD 18350 21730 118,4% Xuất khẩu triệu USD 9660 12730 131,8% Nhập khẩu triệu USD 10559 13519 128% Nộp Ngân sách triệu USD 815 850 104,3% Số lao động cuối kỳ báo cáo nghìn người 1089 1217 111,8% Cấp mới và tăng vốn Số dự án cấp mới dự án 702 814 116% Vốn đăng ký cấp mới triệu USD 4316,2 7103,6 164,6% Số lượt dự án tăng vốn lượt dự án 409 247 60,4% Vốn tăng thêm triệu USD 1637,2 1220,4 74,5% Vốn cấp mới và tăng thêm triệu USD 5953 8324 139,8% Theo website Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2.1.2 Tác động của FDI đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam Theo số liệu thống kê, các doanh nghiệp FDI đó chiếm tỷ trọng 13 – 14% GDP, 35,5% tổng sản lượng công nghiệp và 18,6% tổng vốn đầu tư xã hội; ngoài dầu thô, chiếm tỷ trọng 33,8% kim ngạch xuất khẩu; hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế FDI (trừ ngành dầu khí) trong năm 2003 phát triển khá. So với năm 2002, doanh thu của các doanh nghiệp FDI tăng 36,8%; kim ngạch xuất khẩu tăng 35,3%; nộp ngân sách đạt 465 triệu USD, tăng 1,3%; tạo ra việc làm cho khoảng 665.000 lao động, tăng 7,3% so với năm 2002. Như vậy, ảnh hưởng của FDI đó góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế – xã hội của đất nước như tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, đóng góp ngày càng lớn vào thu ngân sách và cải thiện môi trường sống của xã hội, hình thành và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm… để sớm đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển. Tuy nhiên trong những năm qua, lượng FDI vào Việt Nam tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng (khoảng 66,6% số dự án và 56,8% vốn), lĩnh vực dịch vụ chiếm 19,5% số dự án. Số còn lại thuộc về lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Song, lượng FDI bình quân trên 1 dự án đầu tư chỉ khoảng 2,4 triệu USD (ở khu vực Đụng Nam Á là 5-7 triệu USD/1 dự án, Trung Quốc là 8-10 triệu USD/dự án), cho thấy, số vốn đầu tư và chất lượng đầu tư bình quân cho một dự án là chưa cao. Vấn đề là làm thế nào để tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như nâng cao chất lượng FDI vào các dự án. 2.2 Thị trường cho thuê tài chính 2.2.1 Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở nước ta hiện nay Cho thuê tài chính (CTTC) được xem là giai đoạn phát triển cao của hoạt động tín dụng thuê mua và được đánh giá là một hình thức mới để đầu tư vốn vào tài sản sản xuất. Ngày nay CTCC đang là một loại hình kinh doanh dịch vụ được ưa chuộng trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển. Hiện nay Việt Nam đã có 11 công ty CTTC, trong đó có 7 công ty trực thuộc ngân hàng thương mại Nhà nước và 3 công ty có vốn nước ngoài và 1 công ty liên doanh. Trong 8 năm, các công ty CTTC đã từng bước phát huy được vai trò quan trọng là hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến kỹ thuật. Không chỉ có thế, tỷ lệ dư nợ quá hạn của các công ty CTTC thấp hơn nhiều so với các ngân hàng, lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm trước. Dư nợ CTTC gia tăng mạnh trong khoảng thời gian 1999-2004. Tỷ trọng dư nợ CTTC trong tổng tài sản chiếm đa số và tăng liên tục từ 65% năm 1999 lên 91% năm 2004. Tổng dư nợ cho thuê tại thời điểm cuối 2005 bằng 130,57% so với năm 2004, tính đến hết quý I năm 2006 tăng trưởng 13,52% so với cùng kỳ năm 2005. Do đó, vị trí các công ty CTTC ngày càng quan trọng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Hiện nay nguồn vốn họat động của các công ty CTTC chủ yếu là vốn tự có và huy động, cụ thể: Stt Công ty cho thuê tài chính Vốn điều lệ 1 Công ty Sài gòn thương tín 100 tỷ VND 2 Công ty ANZ-VTRAC (100% vốn nước ngoài) 5 triệu USD 3 Công ty I - Nông nghiệp và phát triển nông thôn 150 tỷ VND 4 Công ty II - Nông nghiệp và phát triển nông thôn 150 tỷ VND 5 Công ty I - NH đầu tư và phát triển Việt Nam 150 tỷ VND 6 Công ty II - NH đầu tư và phát triển Việt Nam 102 tỷ VND 7 Công ty Ngân hàng Công thương Việt Nam 105 tỷ VND 8 Công ty Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 100 tỷ VND 9 Công ty Kexim (KVLC) (100% vốn nước ngoài) 13 triệu USD 10 Công ty quốc tế VN (VILC) (liên doanh) 5 triệu USD 11 Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu ACBL 100 tỷ VNĐ Do nắm bắt được nhu cầu về thuê mua của các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn trong tình trạng khát vốn, các công ty CTTC kể cả trong nước, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài đã nhanh chóng nâng cao hạn mức cho thuê; đa dạng hoá sản phẩm, tài sản, dịch vụ cho thuê để thu hút ngày càng nhiều càng doanh nghiệp. Nhờ vậy, họat động cho thuê tài chính trong thời gian qua đã dần mở rộng quy mô, đối tượng cho thuê và thành phần khách hàng tham gia, doanh số tăng cao, chất lượng tương đối tốt. Hoạt động CTTC phần nào đã làm giảm sức ép và gánh nặng cho hệ thống ngân hàng trong cung ứng vốn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Hiện tại, nếu muốn sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính, các doanh nghiệp không phải đáp ứng yêu cầu về tài sản thế chấp nhưng các công ty CTTC vẫn có thể tài trợ xấp xỉ 100% mức chi phí, với tài sản là thiết bị, phương tiện, máy móc, bất động sản…; trong khi đó ở những thời kì trước đây thì mức tài trợ chỉ đạt có trên dưới 70%. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, dịch vụ cho thuê tài chính là giải pháp tối ưu nhằm giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện phát triển năng lực sản xuất, hiện đại hoá công nghệ, khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Hiện nay bên cạnh các công ty CTTC đang hoạt động trên thị trường, với mô hình hình thành các tập đoàn tài chính lớn trong tương lai thì một số ngân hàng thương mại và tổ chức kinh tế đã có kế hoạch thành lập các công ty CTTC. Bên cạnh đó, một số tổ chức nước ngoài cũng có dự định đầu tư vào lĩnh vực cho thuê tài chính Việt Nam. Chính điều này sẽ làm cho thị trường cho thuê tài chính phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ trong thời gian tới. 2.2.2 Những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động cung ứng cho thuê tài chính Tuy nhiên, thực tế phải nhìn nhận thời gian qua, rất ít doanh nghiệp mặn mà với dịch vụ này, trong tổng số 800.000 doanh nghiệp Việt Nam thì chỉ có 2/98% doanh nghiệp sử dụng nguồn huy động từ các công ty cho thuê tài chính.Theo đánh giá chung hoạt động CTTC trong thời gian qua đã dần mở rộng quy mô đối tượng cho thuê và thành phần khách hàng tham gia, doanh số cho thuê ngày một tăng cao, chất lượng hoạt động CTTC tương đối tốt, tỷ lệ nợ quá hạn ở mức cho phép, lợi nhuận năm sau tăng hơn năm trước... Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được hoạt động CTTC ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số vấn đề sau: Các công ty cho thuê tài chính cũng cũng không gặp ít khó khăn trong việc huy động vốn. Là cánh tay nối dài của ngân hàng thương mại, các công ty cho thuê tài chính đều được cấp vốn điều lệ ban đầu và được bổ sung vốn. Nguồn vốn bổ sung này có thể do các ngân hàng mẹ hoặc các tổ chức tín dụng chủ quản cấp. Trên thực tế, để tăng năng lực cho thuê tài chính, các công ty đều phải đi vay thêm vốn hoặc phát hành các công cụ nợ như trái phiếu công ty, nhận tiền gửi kỳ hạn trên 1 năm. Việc các công ty cho thuê tài chính thực hiện huy động trái phiếu, nhận tiền gửi kỳ hạn bước đầu đó giải quyết được những khó khăn trước mắt về vốn, nhưng xét về lâu về dài sẽ có nhiều hạn chế bởi chi phí đầu vào tăng cao (huy động vốn ngắn hạn từ các tổ chức tín dụng khác) theo lãi suất của thị trường. Bên cạnh đó, các công ty cho thuê tài chính không được huy động vốn trực tiếp mà phải thông qua một tổ chức tín dụng khác, điều này sẽ làm phát sinh thêm một lần chi phí. Việc quy định nguồn vốn huy động còn có những bất cập. Theo đó pháp luật Việt Nam quy định số vốn đầu tư cho các doanh nghiệp đi vay không được vượt quá 30% vốn điều lệ của công ty. Trên thực tế những quy định này đang gây cản trở cho hoạt động kinh doanh của các công ty CTTC. Bởi vì với quy định như trên phần lớn việc đầu tư chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Việc huy động được nguồn vốn cũng như khả năng tích luỹ của các công ty CTTC là rất khó khăn trong khi đó việc phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn gần như không thực hiện được vì phải có sự đồng ý của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động cho thuê tài chính của chúng ta hiện nay còn phát triển khá manh mún chưa có định hướng chiến lược phát triển trong tương lai. Trong đó vấn đề nhu cầu thị trường chưa được tập trung nghiên cứu làm ảnh hưởng đến chính sách huy động vốn. Không những thế hoạt động thuê mua ở Việt Nam cho đến nay còn khá đơn điệu, lãi suất chưa thực sự hấp dẫn và phần lớn các công ty CTTC đều chưa thành lập được hệ thống các chi nhánh. Hơn nữa, chủ yếu các công ty CTTC hiện nay đều hoạt động dựa vào nguồn vốn của ngân hàng mẹ cung cấp, chưa có công ty CTTC nào tự huy động được nguồn vốn để cho thuê. Điều đó cũng giải thích tại sao tuy ra đời từ khoảng năm 1997 nhưng đến nay cả nước mới chỉ có 9 công ty CTTC. Các công ty CTTC chưa thiết lập được một mối quan hệ sâu rộng đến các cơ sở, các nhà cung ứng máy móc, thiết bị... Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ của công ty còn thiếu những chuyên gia giỏi nắm vững những khoa học công nghệ mới tiên tiến, điều này sẽ làm công ty mất đi tính chủ động khi tham gia thị trường. Các công ty CTTC chưa có được sự bảo hộ của hệ thống pháp luật. Chẳng hạn như trong vấn đề quyền được thu hồi tài sản khi bên thuê vi phạm hợp đồng cũng là một trong những vấn đề gây nhiều bàn cãi. Trên thực tế quyền này gần như không thể thực hiện được vì bên thuê thường không chịu giao tài sản, nếu không có sự hỗ trợ của các cơ quan thi hành pháp luật. Hoặc khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan pháp luật thường thu hồi tài sản, không trả lại cho bên cho thuê mà giữ làm tang chứng để xét xử vụ tranh chấp, đồng thời sẽ xem xét lại quá trình cho thuê nên chủ sở hữu gặp không ít khó khăn. Hay việc bán tài sản cho bên thứ ba lại phải được sự đồng ý của Bộ Thương mại và như vậy nảy sinh vấn đề truy thu thuế nhập khẩu. 5. Hoạt động kinh doanh của các công ty CTTC chưa được tuyên truyền phổ biến và quảng cáo rộng rãi đến các doanh nghiệp trong cả nước. Thực tế, chiếm đại đa số khách hàng giao dịch với các công ty cho thuê tài chính hiện tại là do sự giới thiệu từ “Ngân hàng mẹ”, nơi sáng lập ra phần lớn các công ty cho thuê tài chính hiện nay, và từ các nhà cung cấp các lọai máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải,… còn lượng khách hàng tìm đến do uy tín, họat động, thương hiệu được quảng bá,… của các công ty cho thuê tài chính là rất ít. Nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ bản chất cấp tín dụng của dịch vụ cho thuê tài chính, chưa thấy rõ được hiệu quả, lợi ích từ dịch vụ cho thuê tài chính mang lại. Theo kết quả nghiên cứu của quỹ hỗ trợ dự án Mêkông (MPDF) và Viện quản lý kinh tế TW tiến hành năm 2006 thì nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là bằng nội lực. Điều này hạn chế khả năng phát triển quy mô sản xuất kinh doanh và tiếp cận các công nghệ mới tiên tiến của thế giới để tăng chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường, trong khi số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 80% doanh nghiệp họat động tại Việt Nam. Một điều đáng chú ý khác là trong cuộc khảo sát này, gần 50% doanh nghiệp bị thiếu thông tin về các công ty cho thuê tài chính. Vì thế khi có nhu cầu về vốn để đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc thiết bị, các doanh nghiệp vẫn tìm đến các Ngân hàng để vay vốn mặc dù ở đây thủ tục rất chặt chẽ và điều kiện để vay khó. Điều đó cho thấy trong thời gian tới, để thúc đẩy sự tăng trưởng dư nợ cho thuê và khẳng định họat động cho thuê tài chính là một kênh tài trợ tín dụng hiệu quả và không thể thiếu của nền kinh tế, các công ty cho thuê tài phải quan tâm đến họat động marketting, quảng bá thương hiệu. CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM 3.1 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời nâng cao uy tín của môi trường đầu tư Việt Nam, chúng ta cần thực hiện ngay một số giải pháp nhằm thu hút mạnh mẽ vốn FDI như sau: 1. Tao lập môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư cao hơn và chất lượng hơn. Một môi trường đầu tư hấp dẫn khi chúng ta xây dựng được một hệ thống chính sách pháp luật rõ ràng, cụ thể. Các văn bản pháp luật phải minh bạch, có hệ thống, không chồng chéo, không tuỳ tiện thay đổi, nhất là đối với các luật thuế cũng như đối với các lĩnh vực không khuyến khích và cấm đầu tư; đơn giản hoá hệ thống thuế; xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ… Cải cách triệt để thủ tục hành chính trên cơ sở xây dựng và hình thành hệ thống thủ tục hành chính phù hợp, đồng thời thường xuyên giám sát, kiểm tra để kịp thời chấn chỉnh và hạn chế những tiêu cực xảy ra trong đầu tư. Giảm thủ tục, phiền hà, sách nhiễu khi cấp phép đầu tư. Giảm các cấp quản lý đầu tư tiến tới một cửa, một con dấu trong đầu tư, giảm sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế. 2. Thiết lập lại danh mục dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài rõ ràng, cụ thể, thiết thực, hiệu quả với nhiều ngành nghề đầu tư theo hướng có lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Cần rà soát lại danh mục dự án để điều chỉnh và bổ sung những dự án có quy mô lớn cần kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài với những tiêu chí cụ thể, rõ ràng thực sự có lợi cho cả nhà đầu tư cũng như cho đất nước. Đồng thời, các bộ, ngành và các địa phương có liên quan cần hoàn chỉnh nghiên cứu tiền khả thi với các thông số kinh tế – kỹ thuật cần thiết để tạo điều kiện cho việc tuyên truyền vận động đầu tư trong giai đoạn sắp tới. Với danh mục dự án đầu tư cũng cần thể hiện tất cả các thông số hấp dẫn các nhà đầu tư, quy định phần vùng đầu tư theo các chỉ tiêu lượng vốn, lĩnh vực ngành nghề ưu tiên, chế độ khuyến khích ưu đãi. Đồng thời, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một số lĩnh vực hẫp dẫn có lợi nhuận cao mà Nhà nước vẫn độc quyền, tiến tới xoá bỏ độc quyền đầu tư trong một số lĩnh vực này. Căn cứ trên việc xếp hạng của các tổ chức quốc tế về năng lực cạnh tranh trong đầu tư của từng nước (hoặc tập đoàn kinh tế), cũng như sự đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài đối với nước ta để sửa đổi, bổ sung những nhân tố sao cho hấp dẫn các nhà đầu tư , giảm thiểu các chi phí đang được xem là cao hơn các quốc gia cùng khu vực. 3. Tổ chức các hoạt động như: tư vấn, hướng dẫn hình thức và thủ tục đầu tư, xúc tiến thu hút FDI từ các nước. Mở chiến dịch mới về vận động, xúc tiến đầu tư tại các quốc gia trọng điểm truyền thống như Nhật Bản, Singapore, EU, Đài Loan, Hàn Quốc… thiết lập các giải pháp về nâng cao khả năng cạnh tranh của môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh của nước ta. Coi trọng và đánh giá đúng vị trí của các thị trường và đối tác truyền thống, chủ yếu là các nước châu á. Đồng thời, cần mở rộng việc thu hút FDI từ các nước đối tác mới như Hoa Kỳ, Nam Mỹ… Coi trọng việc đề ra các giải pháp để ngày càng có nhiều công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia hàng đầu thế giới đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là trong những lĩnh vực công nghệ cao, viễn thông, xây dựng. Đồng thời khuyến khích và hỗ trợ cho người Việt Nam ở nước ngoài kêu gọi, xúc tiến các nhà đầu tư nước ngoài hoặc trực tiếp đầu tư về Việt Nam. 4. Thiết lập các chính sách, chủ trương cụ thể nhằm chủ động xử lý đối phó và giải quyết những vướng mắc của nhà đầu tư, tăng lòng tin của các nhà đầu tư. 5. Nối mạng thông tin trong hoạt động quản lý đầu tư nước ngoài. 3.2 Giải pháp thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính 3.2.1 Đối với nhà nước 1. Sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp lý hiện hành tạo điều kiện cho hoạt động thuê mua tài chính phát triển. - Để giải quyết bài toán vốn của các công ty cho thuê tài chính cần phải có sự kết hợp của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng và đặc biệt là cơ chế thông thoáng hơn trong việc huy động vốn. Trước hết, việc xem xét điều chỉnh tăng vốn điều lệ là cần thiết, phù hợp với khả năng quản lý và phát triển của công ty trong từng giai đoạn nhằm đảm bảo an toàn chung cho toàn hệ thống. Trong giai đoạn hiện nay, nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng chủ quản là rất cần thiết đối với hoạt động của các công ty cho thuê tài chính. Luật của các tổ chức tín dụng cần có những điều chỉnh phù hợp hơn đối với hoạt động cho thuê tài chính như cho phép các công ty được tham gia thị trường liên ngân hàng. Cải tiến thủ tục phát hành các công cụ nợ để việc huy động vốn đảm bảo nhanh gọn, đáp ứng được yêu cầu quản lý và kinh doanh trong điều kiện thị trường vốn ngày càng có sự cạnh tranh mạnh. - Về các văn bản pháp quy đối với hoạt động của các công ty cho thuê tài chính, Luật Các tổ chức tín dụng cần bổ sung thêm các điều khoản về hoạt động cho thuê tài sản bởi hoạt động cho thuê tài sản bao gồm cả hoạt động cho thuê tài chính và cho thuê vận hành, chỉ có sự khác nhau là cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung và dài hạn thông qua hợp đồng cho thuê tài chính còn cho thuê vận hành là hình thức tín dụng ngắn hạn thông qua hợp đồng cho thuê tài sản. - Qui định về giới hạn CTTC đối với một khách hàng còn chưa nhất quán. Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) qui định tổng dư nợ cho vay với một khách hàng không được quá 15% vốn tự có của TCTD; trong khi Nghị định 16/2001 qui định tổng mức CTTC đối với một khách hàng không được quá 30% vốn tự có của các công ty CTTC... Do đó cần được các cấp thẩm quyền chỉnh sửa cho thống nhất, để các đối tượng điều chỉnh có cơ sở thực hiện tốt. - Theo các qui định hiện hành (Luật các TCTD và Nghị định 16) thì các bất động sản là nhà cửa, đất đai chưa được xếp vào loại tài sản CTTC. Điều này không phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện nay trên thế giới loại hình CTTC (thuê mua) phần lớn tài sản thuê là bất động sản. Do vậy đề nghị Chính phủ và ngân hàng Nhà nước nên mở rộng loại tài sản cho thuê là bất động sản, để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn trung, dài hạn của các ngành công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn mới ra đời, cũng như loại hình kinh tế trang trại đang rất cần thuê lâu dài các bất động sản... 2. Mở rộng mạng lưới hoạt động của các Công ty CTTC. Trước mắt, nếu các công ty CTTC độc lập chưa có điều kiện để mở rộng mạng lưới hoạt động thì các công ty CTTC thuộc các Ngân hàng thương mại nên đi trước, mở rộng mạng lưới hoạt động tại những vùng kinh tế trong định hướng phát triển như trung du và miền núi phía Bắc, duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. 3. Cần mở rộng đối tượng cho thuê tài chính. Hiện nay các công ty CTTC mới chỉ chú trọng đến đối tượng là cá nhân có đăng ký kinh doanh (doanh nghiệp tư nhân) và các hộ kinh doanh (tiểu thương, tiểu chủ có đăng ký kinh doanh). Như vậy các đối tượng khác là xã viên HTX, nghệ nhân làng nghề, các hộ nông, lâm, ngư, diêm chưa được phương thức này tài trợ, trong khi chính họ là những đối tượng hàng đầu cần loại hình tín dụng này nhất. 3.2.2 Đối với các công ty CTTC 1. các công ty CTTC cần xây dựng một chiến lược về các loại tài sản cho thuê và địa bàn họat động Chiến lược về các loại tài sản cho thuê và địa bàn hoạt động của các công ty CTTC trong từng thời kỳ phải phù hợp với mô hình tổ chức, cơ chế quản lý và điều hành của công ty, sự phát triển của nền kinh tế. 2. các công ty CTTC cũng cần nhanh chóng triền khai tới đa phương hóa các nghiệp vụ mới Triển khai các nghiệp vụ mới như cho thuê vận hành, mua và cho thuê lại ... Đồng thời cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tư vấn như tư vấn lựa chọn công nghệ, lựa chọn nhà cung cấp và tư vấn các điều kiện trong hợp đồng 3. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về nghiệp vụ cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là kênh dẫn vốn tín dụng trung và dài hạn không cần tài sản thế chấp tới mọi thành phần doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Cần đẩy mạnh họat động quảng cáo, xúc tiến việc phổ cập kiến thức về họat động CTTC, nhằm nâng cao nhận thức các doanh nghiệp và cá nhân khi tiếp cận dịch vụ CTTC, thu hút ngày càng nhiều đối tượng tham gia. Cần đẩy mạnh tiếp xuc trực tiếp, tìm hiểu nhu cầu về máy móc, thiết bị, tài sản của các doanh nghiệp. Tóm lại để mang lại hiệu quả cao trong thực tế cần phải có sự phối hợp đồng bộ các giải pháp, cần có sự phối hợp giữa Nhà nước, các cơ quan chức năng có liên quan với các công ty CTTC để giải quyết các vấn đề còn tồn tại. KẾT LUẬN Như vậy ta có thể thấy rằng hoạt động của thị trường vốn ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay. Làm thế nào để thị trường vốn phát triển một cách ổn định , ngày càng thu hút được nhiều chủ thể kinh tế trong nước lẫn nước ngoài tham gia với tư cách là người cung ứng vốn hoặc là người có nhu cầu về vốn, và tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các bộ phận của thị trường vốn; đó là vấn đề lớn, khó khăn, phức tạp đặt ra cho Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng có liên quan. Chỉ khi vấn đề này được giải quyết đúng đắn sẽ tạo ra tiền đề để đất nước phát triển hướng tới các mục tiêu đã đề ra một cách nhanh chóng và vững mạnh. Hiện nay trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, do vậy các hoạt động của thị trường vốn ngày càng được mở rộng hơn, tạo ra nhiều cơ hội cho trị trường vốn nước ta phát triển nhanh về quy mô, tốc độ để đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên đây cũng là một thách thức lớn đối với thị trường vốn, bởi lẽ nền kinh tế thị trường của nước ta chưa thực sự phát triển và ổn định, do vậy nó sẽ gây ra nhiều biến động lớn cho nền kinh tế nói chung và thị trường vốn nói riêng; vả lại, thị trường vốn Việt Nam được hình thành cách đây không lâu nên chưa thực sự phát triển một cách mãnh mẽ. Nếu như mối quan hệ với các chủ thể kinh tế từ các quốc gia khác trên thị trường vốn Việt Nam không được giải quyết đúng đăn, hợp lý sẽ dẫn đến những khó khăn và bất ổn cho thị trường. Vì kiến thức của em còn hạn chế và do chưa có nhiều kinh nghiệm nên trong khi thực hiện đề tài này chắc chắn có những thiếu sót . Một lần nữa em mong rằng sẽ nhận được sự chỉ bảo của các thầy, các cô và sự đóng góp của các bạn để bài tiểu luận của em được tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn! DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO. Kinh tế học vi mô- TS. Nguyễn Văn Dần. Economics – David Begg. Những vấn đề cơ bản về kinh tế học vi mô - Học viện tài chính. Website Bộ tài chính: www. mof. gov.vn. Website Bộ kế hoạch và đầu tư : www. mpi.gov.vn. Thời báo kinh tế Việt Nam. KẾT LUẬN Như vậy ta có thể thấy rằng hoạt động của thị trường vốn ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay. Làm thế nào để thị trường vốn phát triển một cách ổn định , ngày càng thu hút được nhiều chủ thể kinh tế trong nước lẫn nước ngoài tham gia với tư cách là người cung ứng vốn hoặc là người có nhu cầu về vốn, và tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các bộ phận của thị trường vốn; đó là vấn đề lớn, khó khăn, phức tạp đặt ra cho Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng có liên quan. Chỉ khi vấn đề này được giải quyết đúng đắn sẽ tạo ra tiền đề để đất nước phát triển hướng tới các mục tiêu đã đề ra một cách nhanh chóng và vững mạnh. Hiện nay trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, do vậy các hoạt động của thị trường vốn ngày càng được mở rộng hơn, tạo ra nhiều cơ hội cho trị trường vốn nước ta phát triển nhanh về quy mô, tốc độ để đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên đây cũng là một thách thức lớn đối với thị trường vốn, bởi lẽ nền kinh tế thị trường của nước ta chưa thực sự phát triển và ổn định, do vậy nó sẽ gây ra nhiều biến động lớn cho nền kinh tế nói chung và thị trường vốn nói riêng; vả lại, thị trường vốn Việt Nam được hình thành cách đây không lâu nên chưa thực sự phát triển một cách mãnh mẽ. Nếu như mối quan hệ với các chủ thể kinh tế từ các quốc gia khác trên thị trường vốn Việt Nam không được giải quyết đúng đăn, hợp lý sẽ dẫn đến những khó khăn và bất ổn cho thị trường. Vì kiến thức của em còn hạn chế và do chưa có nhiều kinh nghiệm nên trong khi thực hiện đề tài này chắc chắn có những thiếu sót . Một lần nữa em mong rằng sẽ nhận được sự chỉ bảo của các thầy, các cô và sự đóng góp của các bạn để bài tiểu luận của em được tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN 1 1.1. Khái niệm về vốn - tư bản 1 1.1.1. Vốn hiện vật 1 1.1.2. Lãi suất và giá của tài sản 1 1.2. Nhu cầu về dịch vụ vốn 6 1.2.1. Cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp 6 1.2.2 Cầu về dịch vụ vốn của ngành 8 1.3. Cung về dịch vụ vốn 9 1.3.1. Chi phí của vốn 9 1.3.2. Cung về dịch vụ vốn của doanh nghiệp 9 1.3.3. Cung về dịch vụ vốn cho ngành 9 1.3.4. Cung về vốn đối với toàn bộ nền kinh tế 10 1.4. Cân bằng và sự điều chỉnh thị trường vốn 11 1.4.1. Xác định lãi suất và lợi tức vốn 11 1.4.2. Cân bằng trong ngắn hạn 11 1.4.3. Cân bằng trong dài hạn 12 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM 14 2.1. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 14 2.1.1. Tình hình chung 14 2.1.2. Tác động của FDI đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam 15 2.2. Thị trường cho thuê tài chính 16 2.2.1. Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở nước ta hiện nay 16 2.2.2. Những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động cung ứng cho thuê tài chính 18 CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM 21 3.1. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 21 3.2. Giải pháp thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính 22 3.2.1. Đối với nhà nước 22 3.2.2. Đối với các công ty CTTC 24 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn.doc
Luận văn liên quan