Thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên

Trong xã hội hiện nay, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện đã và đang ngày gia tăng. Điều này đòi hỏi các quy định của pháp luật đối với các đối tượng này cũng phải đáp ứng được mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên phạm tội. BLTTHS đã dành hẳn một chương riêng quy định thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Đó là những quy định đặc biệt về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn , việc tham gia tố tụng của gia đình, người bào chữa, về thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với người chưa thành niên phạm tội. Thực tiễn xét xử các vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên cho tháy các cơ quan tiến hành tố tụng đã cố gắng vận dụng một cách linh hoạt các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như các cơ quan tiến hành tố tụng chưa hiểu rõ và vận dụng chính xác những quy định của pháp luật tố tụng liên quan tới người chưa thành niên phạm tội. Bên cạnh đó một số quy định của pháp luật TTHS chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động tố tụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, xâm phạm đến quyền và lợi ích của họ. Trước thực trạng trên, việc tìm hiểu và nghiên cứu những quy định chung về thủ tục tố tụng dành cho những bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong BLTTHS Việt Nam là một vấn đề cấp thiết hiện nay. Từ đó đưa ra được các giải pháp tháo gỡ nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án do người chưa thành niên thực hiện. Do vậy em đã chọn đề tài: “Thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên”. CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ NHỮNG VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN I- Nhận thức chung về tố tụng hình sự đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 1. Khái niệm, mục đích của thủ tục TTHS đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên 1.1. Khái niệm 1.2. Mục đích. 2. Những căn cứ quy định thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 2.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi người chưa thành niên 2.2. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. 3. Sơ lược lịch sử phát triển của thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên II. Quy định của Luật TTHS Việt Nam về thủ tục đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 1. Đối tượng chứng minh trong vụ án 1.1. Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên 1.2. Điều kiện sinh sống và giáo dục 1.3. Có hay không có người thành niên xúi giục 1.4. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội 2. Quy định về chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng 2.1 Người tiến hành tố tụng 2.2 Người tham gia tố tụng 3. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và giám sát bị can, bị cáo là người chưa thành niên 4. Quy định về các thủ tục tố tụng trong các giai đoạn tố tụng 4.1. Trong khởi tố, điều tra, truy tố 4.2. Trong việc xét xử 4.3. Trong thi hành án CHƯƠNG II THỰC TRẠNG – MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NHỮNG VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN. I- Thực trạng II- Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên III. Một số giải pháp và kiến nghị KẾT LUẬN

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 09/03/2013 | Lượt xem: 5323 | Lượt tải: 32download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
phát triển những quy định của BLTTHS năm 1988 đồng thời nhằm đáp ứng những yêu cầu, dòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ngày 26/01/2003 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua BLTTHS năm 2005, trong đó thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên được quy định tại Chương XXXII trong phần thủ tục đặc biệt. II. Quy định của Luật TTHS Việt Nam về thủ tục đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 1. Đối tượng chứng minh trong vụ án Khi tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên, ngoài việc xác định những vấn đề cần chứng minh có tính chất bắt buộc chung đối với các vụ án hình sự (Điều 63-BLTTHS 2003) và các tình tiết khác để giải quyết đứng đắn vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án còn phải chứng minh những tình tiết được quy định tại Khoản 2 Điều 302 BLTTHS năm 2003: 1.1. Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên không những cần thiết cho việc xem xét về khả năng truy cứu hay không truy cứu TNHS mà còn cần thiết cho việc quyết định áp dụng hình phạt thích hợp, đảm bảo chế độ thi hành án theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy khi điều tra, truy tố, xét xử những bị can, bị cáo mà lý lịch của họ chưa được làm rõ thì các cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử khi có đầy đủ căn cứ kết luận rằng bị can, bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) và chỉ áp dụng đường lối xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội khi có đầy đủ căn cứ để kết luận rằng bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội. Theo Công văn số 81 ngày 10/06/2002 của TANDTC , trong trường hợp không biết chính xác ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo thì phải xác định như sau: + Nếu xác định được tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo; + Nếu xác định được quý của năm sinh nhưng không xác định được ngày, tháng sinh thì ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quý đó để xem xét TNHS của bị can, bị cáo; + Nếu xác định được nửa đầu năm hay nửa cuối năm của năm sinh, thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc 31 tháng 12 của năm đó để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo; + Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì lấy ngày 31 tháng 12 tương ứng của năm đó để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo. Bên cạnh việc xác định độ tuổi, Luật TTHS cũng đòi hỏi các qơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ trình độ phát triển về thể chất và tinh thần cũng như mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc đánh giá chứng cứ và quy định mức độ TNHS đối với họ. Qua nghiên cứu cho thấy một số khuyết tật về thể chất bệnh tật có thể là những tác nhân gây nên sự rối loạn về nhân cách và đẩy người chưa thành niên vào con đường phạm tội. Mức độ phát triển về tinh thần cúng ảnh hưởng đến hành vi phạm tội, như những người mắc bệnh tâm thần nặng, trí tuệ thiểu năng…những người mắc bệnh này thường dễ bị xúi giục phạm tội hơn so với người bình thường. Mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên cũng là một yếu tố quan trọng đối với việc xác định TNHS của người chưa thành niên. Bởi vì ở lứa tuổi này, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn hạn chế và họ dễ bị môi trường xung quanh tác động dẫn đến việc thực hiện tội phạm. 1.2. Điều kiện sinh sống và giáo dục Việc xác định rõ điều kiện sinh sống và giáo dục của người chưa thành niên sẽ giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, bị cao, làm rõ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc phạm tội làm cơ sở cho việc áp dụng những biện pháp xử lý, giáo dục, cải tạo có hiệu quả. Đặc biệt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ điều kiện sinh sống và thái độ của cha mẹ đối với việc giáo dục con cái. Phải thừa nhận rằng, gia đình có một ảnh hưởng rất lớn đối với việc hình thành nhân cách và các hành vi xử sự của người chưa thành niên. Trước hết đó là những yếu tố tiêu cực trong gia đình như: những thói quen, tật xấu của các thành viên ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách lệch lạc của người chưa thành niên. Sống trong những gia đình không có cấu trúc hoàn hảo như bố me chết hoặc ly hôn, người chưa thành niên không được chăm sóc, dạy bảo đầy đủ, thiếu thốn về tình cảm và điều kiện vật chất…Do vậy các em thường không có những phương hướng hành động đúng đắn dễ dẫn đến hành vi phạm tội. Nếu gia đình là ảnh hưởng đầu tiên và quan trọng nhất thì nhà trường cũng góp phần hết sức quan trọng vào việc hình thành nhân cách của trẻ. Nhà trường giúp người chưa thành niên rèn luyện tư cách đạo đức, tiếp thu kiến thức và vận dụng vào cuộc sống. Môi trường xung quanh cũng tác động ảnh hưởng không nhỏ đến người chưa thành niên. Thực tế là những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội ảnh hưởng đến đầu óc nhạy cảm và hiếu động của trẻ bởi chúng đang ở lứa tuổi bồng bột không có khả năng tự kiểm soát bản thân. 1.3. Có hay không có người thành niên xúi giục Một vấn đề cần được xác định là người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội thường có sự tham gia và chỉ huy của người thành niên. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy những vụ án có người thành niên tham gia thì người chưa thành niên thường giữ vai trò thứ yếu. Điều này có nghĩa người chưa thành niên đã bị lôi kéo và bị người thành niên phân công cho thực hiện những hành vi phạm tội nhất định. Trong thực tế, kẻ xấu thường lợi dụng sự bồng bột, cả tin của người chưa thành niên để lôi kéo họ vào con đường phạm tội. Bên cạnh đó còn có sự lôi kéo kích động của người thành niên đối với người chưa thành niên đang ở trong hoàn cảnh khó khăn, đây là nhân tố khiến các em có hành vi phạm tội. Theo điểm i Khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 thì phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức là một trong những tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy trong những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên cần phải xác định có người lớn xúi giục hay không. Ngoài ra để phát hiện đồng phạm trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên đảm bảo không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần xác định xem có người thành niên xúi giục hay không. 1.4. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội Muốn đấu tranh phòng, chống tội phạm đối với người chưa thành niên phạm tội có hiệu quả, đồng thời đề ra biện pháp khắc phục và ngăn ngừa hợp lý, chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện dẫn họ đến con đường phạm tội. Trong thực tế cũng như trong lý luận có nguyên nhân và điều kiện không thể phủ nhận được đó là: + Môi trường gia đình, nhà trường, xã hội là những nguyên nhân; + Đặc điểm tâm lý lứa tuổi người chưa thành niên là điều kiện ảnh hưởng và tác động lẫn nhau một cách biện chứng làm phát sinh tội phạm ở người chưa thành niên. Môi trường gia đình, nhà trường, xã hội luôn gắn bó mật thiết với nhau và tác động trực tiếp đến con người, đặc biệt là người chưa thành niên. Những yếu tố tiêu cực trong gia đình, sự buông lỏng quản lý, giáo dục; nhà trường còn thiếu kiên quyết, chưa làm tròn trách nhiệm trong việc quản lý, dạy dỗ học sinh; tình trạng bất cập trong tổ chức cộng đồng, trong quản lý xã hội…ảnh hưởng không nhỏ đến người chưa thành niên. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định nguyên nhân và và điều kiện phạm tội nhằm: + Đề ra các biện pháp xử lý phù hợp và đúng đắn theo quy định của pháp luật. + Yêu cầu các cơ quan hoặc tổ chức hữu quan áp dụng những biện pháp cần thiết nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại các cơ quan hoặc tổ chức đó, góp phần vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. 2. Quy định về chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng 2.1 Người tiến hành tố tụng Khoản 1 Điều 302 BLTTHS năm 2003 quy định: “Điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như vè hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên”. Để các hoạt động tố tụng trong những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên diễn ra có hiệu quả, trước hết những người tiến hành tố tụng phải có kiến thức về tâm lý học nói chung và tâm lý người chưa thành niên nói riêng. Trên cơ sở đó người tiến hành tố tụng mới có thể xác định dược hướng tiếp cận và tác động tâm lý bị can, bị cáo là người chưa thành niên; tạo được lòng tin, thái độ hợp tác, cầu thị từ phía người chưa thành niên trong hoạt động tố tụng. Điều này không chỉ quy định trong BLTTHS của nước ta mà còn được quy định ở trong BLHS của hầu hết các nước trên thế giới. Quy tắc Bắc Kinh cũng chỉ rõ: “Ở thành phố lớn cần thành lập những đơn vị cơ sở đặc biệt chuyên giải quyết những trường hợp liên quan tới người chưa thành niên” (Điều 12). Quy định của BLTTHS Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy tắc này. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 302 BLTTHS năm 2003 cũng mới chỉ đề cập tới việc Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm người chưa thành niên chứ không nhất thiết phải là những người được đào tạo về lĩnh vực đó. Điều này cũng gây ảnh hưởng tới chất lượng điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Thực tế ở nước ta hiện nay cũng chưa có cơ quan tiến hành tố tụng chuyên trách để điều tra, truy tố, xét xử đối với người chưa thành niên. Đối với hội thẩm khi tham gia xét xử những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, Luật không quy định phải có những điều kiện trên nhưng trong Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. 2.2 Người tham gia tố tụng Về cơ bản bị can, bị cáo là người chưa thành niên cũng có các quyền và nghĩa vụ như đối với bị can, bị cáo thành niên được quy định tại Điều 49, Điều 50 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên do những hạn chế về tâm sinh lý mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể không tự mình thực hiện được một số các quyền và nghĩa vụ cho nên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, BLTTHS đã quy định một số quyền và nghĩa vụ đặc biệt dành cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên, trong đó có quyền bào chữa được quy định tại Điều 305 BLTTHS năm 2003. “Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận tổ quốc (UBMTTQ) Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình”. (Khoản 2 Điều 305) Theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003, sau khi Đoàn luật sư đã cử người bào chữa thì bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trong trường hợp chấp nhận yêu cầu thay đổi người bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa khác cho họ. Đối với quyền từ chối bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp thì có thể hiểu là họ có quyền hoàn toàn từ chối. Họ không cần sự giúp đỡ của luật sư và tự mình thực hiện quyền bào chữa. Thực tế đã xảy ra những trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối sự giúp đỡ, hỗ trợ về mặt pháp lý của luật sư vì họ không được giải thích về nội dung của quyền bào chữa. Ví dụ: họ không hiểu biết về chế độ thù lao cho luật sư hay những trưỡng trường hợp được giúp đỡ mà không phải trả tiền. Trong những trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng phải giải thích cho bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp biết rõ về quyền của họ trong tố tụng. Đặc biệt là vai trò của người bào chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Người chưa thành niên dù ở mức độ tuổi nào thì vẫn là người còn phụ thuộc nhất định vào gia đình, nhà trường, xã hội. Mặt khác nguyên tắc xử lý những người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội. Chính vì vậy sự tham gia của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội trong những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên vùa là quyền vừa là nghĩa vụ bắt buộc, nhằm động viên toàn xã hội tham gia vào việc chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên và giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án có hiệu quả. Khoản 1 Điều 306 BLTTHS năm 2003 quy định: “ Đại diện của gia đình, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; thầy giáo, cô giáo, đại diện nhà trường, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức khác nơi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo học tập, lao động và sinh sống có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án”. 3. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và giám sát bị can, bị cáo là người chưa thành niên Do đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên mà việc thực hiện, áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phải được xem xét một cách rất thận trọng, nhất là trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam. Thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm dã chỉ ra rằng, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên khi chưa thực sự cần thiết có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trưởng thành của họ. Chính vì vậy, Điều 303 BLTTHS năm 2003 quy định: “1. Người từ đủ 14 tuổi đến dướ 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc pham tội đặc biệt nghiêm trọng. 2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với các bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung, các cơ quan có thẩm quyền còn phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủcác quy định tại Điều 303 BLTTHS. Nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp trên là không cần thiết, Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo là người chưa thành niên cho cha mẹ, người đỡ đầu của họ giám sát để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng So với quy định trước đây trong BLTTHS năm 1988 thì việc quy định như hiện nay đã cụ thể, rõ ràng và phù hợp với BLHS năm 1999, đảm bảo được quyền và lợi ích của người chưa thành niên hơn. Nếu như trong quy định trước đây (Điều 278 BLTTHS năm 1988) áp dụng việc bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên “trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng” thì BLTTHS năm 2003 chia việc áp dụng thủ tục này cho hai đối tượng (từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi và từ 16 tuổi đến 18 tuổi) và mức thấp nhất để có thể áp dụng bieenj pháp ngăn chặn là người chưa thành niên từ 16 tuôi đến 18 tuổi trong “trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý”. Đồng thời BLTTHS năm 2003 có thêm quy định về căn cứ mà người chưa thành niên có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam là Điều 88 quy định về “Tạm giam”. Điều này thể hiện tính nghiêm minh của Đảng và nhà nước ta trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam. Và một ý nghĩa vô cùng quan trọng là tránh cho người chưa thành niên bị ảnh hưởng tâm lý nặng nề từ sự quá nghiêm khắc của các biện pháp ngăn chặn này. Nếu xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là không cần thiết Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành niên cho cha mẹ, người đỡ đầu của họ giám sát để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. 4. Quy định về các thủ tục tố tụng trong các giai đoạn tố tụng 4.1. Trong khởi tố, điều tra, truy tố Hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố trong những vụ án mà bị can là người chưa thành niên cũng được tiến hành theo thủ tục chung mà BLTTHS đã quy định. Nhưng khi tiến hành các hoạt động tố tụng nói trên cần phải chú ý những điểm sau: Thứ nhất, chỉ ra quyết định khởi tố bị can khi người đó đủ tuổi chịu TNHS theo Điều 12 BLHS năm 1999; thứ hai, trong trường hợp đã có quyết định khởi tố bị can là người chưa thành niên thì áp dụng các biện pháp điều tra đối với họ nên có mặt đại diện gia đình bị can, thầy giáo, cô giáo, đại diện nhà trường, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác… Trong quá trình điều tra, truy tố đối với người chưa thành niên cần phải đặc biệt chú ý năm vững nhân thân của họ. Muốn vậy phải lấy lời khai của những người làm chứng gần gũi với bị can, bị cáo nhất. Cha mẹ, thầy giáo, cô giáo…hơn ai hết là người hiểu rất rõ khía cạnh tâm lý và nhân thân bị can, bị cáo cho nên họ có quyền và phải được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Điều 306 BLTTHS năm 2003 nêu rõ: “Trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Đại diện gia đình có thể hỏi người bị tạm giữ, bị can nếu được điều tra viên đồng ý; được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại; đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra”. 4.2. Trong việc xét xử Xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là người chưa thành niên cũng được tiến hành theo thủ tục chung, nhưng khi xét xử cần phải tuân thủ những quy định sau: Thứ nhất, theo Khoản 1 Điều 307 BLTTHS năm 2003: “Thành phần của Hội dồng xét xử phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh”. Thực tiễn cho thấy thầy, cô giáo cũng như cán bộ Đoàn thanh niên vừa là người quản lý, giáo dục vừa là những nhà tâm lý nên họ hiểu biết nhất định về lứa tuổi này. Việc họ tham gia vào Hội đồng xét xử (HĐXX) giúp cho Tòa án đưa ra quyết định xử lý người chưa thành nên phạm tội đúng pháp luật và nâng cao tác dụng giáo dục đối với những đối tượng này. Bộ Tư pháp đã có Thông tư số 267/QĐTA hướng dẫn bầu Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân như sau: “chú ý cơ cấu Hội thẩm nhân dân là giáo viên, cán bộ Đoàn thanh niên…để phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương và quy định của BLTTHS”. Thứ hai, trong những vụ án đối với người chưa thành niên thì việc tham gia của người bào chữa là bắt buộc. Trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ, hoặc đề nghị UBMTTQ Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình. Nếu thấy cơ quan tiến hành tố tụng đã yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa song bị can, bị cáo không đồng ý thì họ hoặc người đại diên hợp pháp của họ có thể lựa chọn người bào chữa khác, hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo. Theo quy định tài Khoản 1 Điều 57 BLTTHS năm 2003 và Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10//2004 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong “Phần thứ nhất” BLTTHS năm 2003 thi người báo chữa do bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn. Cũng theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 nếu bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm mời người bào chữa cho họ theo quy định của pháp luật. Cũng theo tinh thần của Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên …mà cả bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị có vẫn giữ nguyên ý kiến từ chối người bào chữa, thì cần phải ghi vào biên bản phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung mà không có sự tham gia của người bào chữa đã được cử. Nếu chỉ có bị cáo từ chối còn người đại diện hợp pháp của bị cáo không từ chối hoặc ngược lại thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung có sự tham gia của người bào chữa đã được cử. Thứ ba, tại phiên tòa xét xử, sự tham gia của đại diện gia đình bị có, đại diên nhà trường, tổ chức xã hội là bắt buộc. Quy định này giúp Tòa án hiểu rõ hơn về nhân thân bị cáo và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo. Theo quy định tại Thông tư 03/TTLN ngày 20/6/1992 của TANDTC – VKSNDTC – Bộ Nội Vụ, thì trong trường hợp không xác minh được lý lịch của bị cáo thì tại phiên tòa xét xử không nhất thiết phải có mặt đại diện gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội. Thứ tư, việc xét xử vụ án hình sự nói chung được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa. Trong trường hợp cần thiết Tòa án có thể xử kín (Điều 307 BLTTHS năm 2003) như trường hợp cần giữ bí mật đời tư của bị cáo hoặc của người bị hại… Trong trường hợp xét xử kín Tòa án vẫn phải tuyên án công khai. Thứ năm, khi xét xử tùy vào tính chất của từng vụ án cụ thể, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với bị cáo thì Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp nhằm giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Biện pháp tư pháp áp dụng với người chưa thành niên bao gồm: + Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; + Đưa vào trường giáo dưỡng. Ngoài ra khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần chú ý xem xét các điều kiện áp dụng cụ thể của từng loại hình áp dụng, đó là: + Không áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội; + Chỉ áp dụng hình phạt tiền dối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên có thu nhập; + Người chưa thành niên bị cải tạo không giam giữ thì không bị khấu trừ thu nhập; + Mức phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù đối với bị cáo chưa thành niên được áp dụng thấp hơn so với bị cáo thành niên theo quy định của Điều 72, 73 và 74 BLHS năm 1999. 4.3. Trong thi hành án Với người bị kết án là người chưa thành niên, khi thi hành án ngoài tuân thủ những quy định chung của BLTTHS còn phải đảm bảo những thủ tục đặc biệt dành cho họ được thực hiện. Có như vậy việc thi hành án mới đạt hiệu quả, các quyền lợi của người chưa thành niên mới được bảo vệ và uy tín của của nhà nước mới được nâng cao. - Các hình phạt được áp dụng đối với bị cáo là người chưa thành niên bao gồm: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS năm 1999 nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. Nếu người chưa thành niên phải chấp hành hình phạt tù thì họ phải được giam giữ riêng theo chế độ do pháp luật quy định. Không được giam giữ chung người chưa thành niên với người thành niên. Trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, họ phải được học nghề, học văn hóa. Thực tiễn cho thấy người chưa thành niên sau khi mãn hạn tù mà không có một nghề nghiệp cố định nào đó, họ rất có thể lại phạm tội. Trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, nếu người chưa thành niên đã đủ 18 tuổi phải chuyển người đó sang chế độ giam giữ người đã thành niên. Sau khi đã chấp hành hình phạt tù, Ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền xã, phường và tổ chức xã hội ở địa phương giúp đỡ họ trở về với cuộc sống bình thường trong xã hội (Điều 308 BLTTHS năm 2003). Các cơ quan tổ chức nêu trên có thể tạo cho họ có công ăn, việc làm hoặc tham gia hoạt động xã hội, nhằm giúp đỡ họ trở thành người lương thiện đồng thời khắc phục nguyên nhân và điều kiện dẫn họ đến tình trạng phạm tội. Những quy định trên của BLTTHS Việt Nam hoàn toàn phù hợp với Quy tắc Bắc Kinh, đó là trong khi bị giam giữ trẻ em phải được chăm sóc và nhận tất cả sự giúp đỡ riêng cần thiết về mặt xã hội, giáo dục dạy nghề, tâm lý, y tế và vật chất. - Theo Điều 309 BLTTHS năm 2003, người chưa thành niên bị kết án có thể được chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp , được giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt như sau: + Đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án có thể áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa theo quy định tại Điều 70 BLTTHS năm 1999: Thứ nhất, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Biện pháp này tạo điều kiện cho người chưa thành niên học tập tại cộng dồng và chứng tỏ sự hối cải của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giúp đỡ của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, tổ chức xã hội và gia đình. Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Người được áp dụng biên pháp này phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm. Thứ hai, đưa vào trường giáo dưỡng. Đây là biên pháp tư pháp do Tòa án áp dụng đối với người chưa thành niên nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ, nhưng do tính chất của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần phải đưa người đó vào trường giáo dưỡng. Biện pháp này có thể được Tòa án áp dụng trong thời hạn từ một đến hai năm kể từ ngày người chấp hành biên pháp này được tiếp nhận vào trường giáo dưỡng. Để giúp người chưa thành niên học tập, rèn luyện tiến bộ, phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, trí tuệ và trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội , có khả năng hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dưỡng thì trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dưỡng họ được giáo dục đạo đức, pháp luật, văn hóa, học nghề và lao động phù hợp với lứa tuổi. + Việc giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt, chấm dứt chấp hành biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên cũng có những điểm khác biệt, cụ thể là: Việc giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại điều 76 BLHS năm 1999: người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phat tù, nếu có nhiều tiến bộ và đã chấp hành được 1/ 4 thời hạn thì được Tòa án xét giảm. Riêng đối với hình phạt tù mỗi lần có thể giảm đến 4 năm nhưng phải đảm bảo đã chấp hành ít nhất là 2/5 mức hình phạt đã tuyên; người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành hình phạt còn lại; người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài (như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, ốm đau gây ra) hoặc lập công lớn tùy theo đề nghị của viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể giảm hoặc miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại. +Việc chấm dứt biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên : Nếu người chưa thành niên phạm tội đã chấp hành được 1/2 thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn và có nhiều tiến bộ thì có thể được tòa án chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Nếu người chưa thành niên được đưa vào trường giáo dưỡng đã chấp hành được 1/2 thời hạn do Tòa án quyết định và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của hiệu trưởng nhà trường, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi trường đóng có thể quyết định chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp này cho học sinh đó (Điều 22 Nghị định số 52/2001/NĐ-CP ngày 23/08/2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng). - Xóa án tích (Điều 310 BLTTHS năm 2003): Việc xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội được tiến hành khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 77 BLHS năm 1999. Cụ thể là thời hạn để xóa án tích đối với người chưa thành niên là 1/2 thời hạn quy định tại Điều 64 BLHS năm 1999. Người chưa thành niên bị kết án không phải về các tội xâm phạm về An ninh quốc gia quy định tại Chương XI và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tai Chương XXIV, phần các tội phạm BLHS, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn theo quy dịnh của pháp luật. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG – MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NHỮNG VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN. I- Thực trạng Từ thực tiễn công tác giải quyết các vụ án hình sự do người chưa thành niên thực hiện những năm qua cho thấy: - Số lượng các vụ án liên quan đến người chưa thành niên phạm tội mà Viện kiểm sát các cấp thụ lý giải quyết hàng năm là không nhiều. Số liệu thống kê của VKSNDTC cho thấy, trong 5 năm (2001- 2005) và 6 tháng đầu năm 2006 có 27911 người chưa thành niên phạm tội bị khởi tố về hình sự; viện kiểm sát các cấp đã xử lý 20186 bị can, trong đó đã truy tố 16166 bị can, đình chỉ vụ án đối với 493 bị can, miễn TNHS đối với 310 bị can. Về cơ bản việc xử lý các vụ án này đảm bảo đúng người đúng tôi, đúng pháp luật, các quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên không bị pháp luật tước bỏ, nhìn chung được tôn trọng và bảo đảm. - Việc phát hiện kịp thời và xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật mọi hành vi phạm tội của người chưa thành niên cho thấy các cơ quan tư pháp đã thực hiện tốt chính sách hình sự của Đảng , nhà nước ta trong việc xử lý tội phạm là người chưa thành niên theo Điều 69 BLHS năm 1999. II- Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm gần đây cho thấy một số quy định của pháp luật hiện hành vè thủ tục tố tụng đối voái người chưa thành niên chưa được đầy đủ và rõ ràng, đồng thời lại thiếu sự hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền nên việc nhận thức và áp dụng trong thực tế còn một số điểm không thống nhất và vướng mắc, cụ thể là: - Về xác định độ tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên: trong một số trường hợp do các chứng cứ tài liệu (như giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh, chứng minh thư, học bạ…) chứng minh về độ tuổi (ngày, tháng, năm sinh) của bị can, bị cáo không thống nhất với nhau nên đã để xảy ra tình trạng mỗi cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào những tài liệu khác nhau để xác định độ tuổi của bị can, bị cáo dẫn đến quan điểm xử lý khác nhau đối với người chưa thành niên phạm tội. - Về vấn đề đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo : mặc dù có văn bản dưới luật hướng dẫn nhưng trong thực tiễn yêu cầu của bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp từ chối người bào chữa được các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết khác nhau (như chấp nhận việc từ chối bào chữa mà không giải thích cho họ biết người bào chữa sẽ giúp bị cáo về mặt pháp lý, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo và chi phí cho người bào chữa do nhà nước thanh toán…). Điều này không đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy quy định tại Điều 57 BLTTHS cần bổ sung thêm một khoản điều chỉnh về vấn đề này để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo và người chưa thành niên. - Về sự tham gia tố tụng của đại diện gia đình, nhà trường, tổ chức trong thực tiễn áp dụng quy định tại Điều 306 BLTTHS năm 2003 giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cũng có quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong mọi trường hợp khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử các vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, ngoài đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo việc tham gia tố tụng của đại diện gia đình bị can, bị cáo; thầy cô giáo, đại diện nhà trường…( như có mặt khi tiến hành lấy lời khai; cung cấp thông tin về thái độ đạo đức, môi trường giáo dục của người chưa thành niên; tham gia phiên tòa…) là bắt buộc và cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định về việc tham gia tố tụng của họ trong quá trình giải quyết vụ án. Quan điểm thứ hai cho rằng; theo quy định trên thì việc tham gia tố tụng của đại diện gia đình bị can, bị cáo; thầy cô giáo, đại diện nhà trường… là không bắt buộc đối với mọi trường hợp. Nếu thấy sự tham gia tố tụng của họ là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định yêu cầu họ tham gia tố tụng. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng thường quyết định đại diện của gia đình bị can, bị cáo; thầy ,cô giáo đại diện nhà trường…tham gia tố tụng trong một số trường hợp sau đây. + Khi bị can, bị cáo là người chưa thành niên không còn ai là người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng, thì tư cách tham gia tố tụng của họ được xác định là đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo. + Khi cần họ cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc tham gia chứng kiến hoạt động tố tụng, thì tư cách tham gia tố tụng của họ là người làm chứng hoặc là người chứng kiến. + Khi họ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì tư cách tham gia tố tụng của họ và bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. - Về yêu cầu đối với những người tiến hành tố tụng: theo quy định tại điều 302 BLTTHS thì những người tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên. Yêu cầu này trong thực tế (với thực trạng về số lượng, chất lượng đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm như hiện nay) là khó khả thi. - Về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội: Theo quy định của pháp luật thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ trong những trường hợp thật cần thiết và căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà họ đã thực hiện. Tuy nhiên trong thực tế việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong nhiều trường hợp không khác gì so với người đã thành niên. Đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do lỗi vô ý là những đối tượng sống lang thang, không có nơi cư trú nhất định thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ gặp rất nhiều khó khăn. Theo quy định của pháp luật thì đối với hành vi phạm tội của họ không phải áp dụng biện pháp tạm giam nhưng nếu không tạm giam thì họ sẽ bỏ trốn và việc điều tra sẽ gặp khó khăn, còn nếu tạm giam họ thì lại vi phạm pháp luật… - Về thành phần HĐXX vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên: theo quy định của BLTTHS thì đối với vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên thì thành phần HĐXX bắt buộc phải có 1 Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn. Việc tham gia xét xử của những người này sẽ giúp cho Tòa án đưa ra những phán quyết chính xác và có tác dụng giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội. Trong thực tế ở nhiều địa phương (đặc biệt là cấp huyện) việc thực hiện quy định này còn gặp khó khăn do thiếu hội thẩm. - Về việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án là người chưa thành niên: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người chưa thành niên phạm tội chấp hành hình phạt tù theo chế độ giam giữ riêng. Người chưa thành niên phạm tội không được giam giữ chung với người thành niên. Trong quá trình chấp hành hình phạt họ phải được học nghề, học văn hóa. Chế độ thăm gặp, nhận thư,quà và các chế độ khác đối với người đang chấp hành hình phạt là người chưa thành niên được ưu đãi hơn người đã thành niên…Tuy nhiên trong thực tế vẫn xảy ra tình trạng giam giữ người chưa thành niên chung với người đã thành niên. III. Một số giải pháp và kiến nghị Để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án người chưa thành niên phạm tội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bôi cảnh chúng ta đang tiến hành cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì cần thiết phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp từ hoàn thiện thể chế và khung pháp lý, vấn đề con người, cơ sở vật chất… Khắc phục một số vướng mắc trong nhận thức và áp dụng các quy định của BLTTHS hiện hành về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tôi cần sửa đổi bổ sung, cụ thể: + Điều 57 BLTTHS năm 2003 cần bổ sung thêm khoản 4 với nội dung cụ thể như sau: “4. trường hợp bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp từ chối người bào chữa thì cơ quan tố tụng phải giải thích cho họ biết người bào chữa sẽ giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo và chi phí cho người bào chữa do nhà nước thanh toán. Trong trường hợp bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ có ý kiến khác nhau về yêu cầu từ chối người bào chưa thì hoạt động tố tụng được tiến hành theo thủ tục chung, có sự tham gia của người bào chữa đã được cử”. + Điều 301 BLTTHS cần bổ sung quy định với khoản 2 với nội dung: “ 2. trường hợp khi khởi tố, truy tố hoặc xét xử nếu người phạm tội đã đủ 18 tuổi thì không áp dụng thủ tục này”. + Điều 306 BLTTHS cần sửa đổi bổ sung theo hướng xác định rõ việc tham gia tố tụng của đại diện hợp pháp của đại diện người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên là bắt buộc, còn việc tham gia của đại diện nhà trường, tổ chức chỉ trong trường hợp cần thiết. Trong khuôn khổ hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta hiện nay, để thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của BLTTHS thì một trong những giải pháp mang tính chất tình thế đặt ra là sớm ban hành Thông tư liên tịch về xây dựng mối quan hệ tư pháp thân thiện đối với người chưa thành niên phạm tội. Thông tư chủ yếu là đề cập và hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS hiện hành về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Việc ban hành thông tư này nằm trong việc thực hiện dự án quốc tế “ Hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên” của nước ta. Nó góp phần giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội mà BLTTHS hiện hành chưa quy định rõ ràng và cụ thể. Hiện nay theo chương trình hoạt động của dự án trên nước ta đã xây dựng được một số phòng hỏi cung mẫu ở một số tỉnh. Mới đây trong hội thảo “ Hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên” đại diện Bộ tư pháp cho biết, mặc dù BLTTHS đã dành hẳn một chương quy định về người chưa thành niên phạm tội nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu hỗ trợ và bảo vệ trẻ em. Khi người chưa thành niên tham gia tố tụng với tư cách bị can, bị cáo…dù ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề bảo vệ bí mật đời tư của người chưa thành niên đặc biệt là trẻ em là nạn nhân trong các vụ án hình sự chưa được quy định đầy đủ, gây tổn thương cho các em trong quá trình tố tụng. Giải pháp trước mắt: + Tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật phải được xem là khâu cuối cùng trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên. Hiên nay thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng không chỉ là sự thể hiện tính nhân đạo trong chính sách của Đảng và nhà nước ta mà còn là biện pháp để góp phần đảm bảo an ninh và phòng chống tội phạm hữu hiệu. + Đối phó với thực trạng người chưa thành niên phạm tội tăng cường biện pháp giáo dục tại cồng đồng được các ban nghành đánh giá bao hơn so với biện pháp giam giữ. Thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm thanh thiếu niên của nhiều nước trên thế giới cho thấy những chế tài như tước quyền tự do, giáo dục, phục hồi người chưa thành niên ngay tại cộng đồng được thiết lập phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tái phạm. Điều này không những phù hợp với Công Ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (biện pháp giam giữ chỉ được áp dụng sau cùng trong thời gian ngắn nhất có thể) mà còn phù hợp với Nghị quyết số 49 – NQ/TW của Đảng về Cải cách tư pháp. +Tăng cường việc phổ biến, giáo dục pháp luật trong các nhà trường, cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội, cha mẹ, các thành viên trong gia đình của người chưa thành niên về vấn đề liên quan đến tội phạm do người chưa thành niên thực hiện. Việc phổ biến giáo dục pháp luật về người chưa thành niên và cho người chưa thành niên là hai mặt không thể tách rời nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của chính họ. Để tham gia vào quá trình tố tụng và bảo vệ được các quyền và lợi ích của người chưa thành niên, đại diện gia đình, nhà trường,…cũng phải có những hiểu biết nhất định về pháp luật. +Tăng cường sự hợp tác quốc tế với các nước (nhất là các nước trong khư vực), các tổ chức quốc tế về phòng, chống các loại tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên theo nguyên tắc phù hợp với các chương trình phòng, chống tội phạm của Liên Hợp Quốc, các tổ chức phi chính phủ liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em…. KẾT LUẬN Tóm lại những quy định của BLTTHS Việt Nam về thủ tục tố tụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên vừa thể hiện tính khoa học, vừa thể hiện một cách tích cực nhất, cụ thể nhất mặt nhân đạo, tính giáo dục trong chính sách của Đảng và nhà nước ta. Đó là bảo vệ , giúp đỡ có hiệu quả những người chưa thành niên trong suốt quá trình tiến hành tố tụng. Ngoài ra các quy định của BLTTHS còn thể hiên việc chăm sóc, giáo dục, tạo điều kiện cho người chưa thành niên phạm tội sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh, tái hòa nhập xã hội. Tuy nhiên vấn đề cần đặt ra hiện nay là cần thiết phải có những quy định cụ thể, chặt chẽ và thống nhất hơn nữa trong BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Thông qua đó góp phần tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên đồng thời phù hợp với các quy định của Công Ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã kí kết hoặc tham gia. “Thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên” là một chế định không thể thiếu được trong BLTTHS, nó đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người cưa thành niên. Những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chỉ đạo công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm người chưa thành niên. Với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế với thực tiễn của tình hình tội phạm người chưa thành niên ở nước ta hiện nay, chúng ta đang cố gắng đổi mới và bổ sung hệ thống tư pháp người chưa thành niên, đặc biệt là những quy định về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. tội phạm do người chưa

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài tập học kỳ- Thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên.doc
Luận văn liên quan