Tiểu luận Hàng hóa công - Kinh tế công: Y tế công

Chăm sóc sức khoẻ luôn là một vấn đề mà xã hội quan tâm hàng đầu. Và sự công bằng – hiệu quả trong cung cấp hàng hoá y tế là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu thực hiện. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng trong công tác phân phối dịch vụ y tế giữa người giàu và người nghèo, giữa các địa phương và vùng kinh tế trong xã hội. Nguyên nhân của việc bất bình đẳng đó là do thông tin bất cân xứng và ngoại tác. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải làm sao để mọi người đều có quyền lợi bình đẳng trong việc tiếp cận các hàng hoá y tế, nhằm đạt được công bằng và hiệu quả trong cung cấp hàng hoá y tế cho xã hội. 1.1 Lý thuyết về hàng hóa y tế 1.1.1 Hàng hóa công 1.1.1.1 Khái niệm Hàng hoá công là loại hàng hoá mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với nhau. Việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác. 1.1.1.2 Phân loại - Hàng hóa công thuần túy: Là loại hàng hóa công không thể định suất sử dụng và việc định suất sử dụng là không cần thiết. - Hàng hóa công không thuần túy: Là loại hàng hóa công có thể định suất sử dụng, có thể loại trừ nhưng phải chấp nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định.

doc27 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 7515 | Lượt tải: 47download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Hàng hóa công - Kinh tế công: Y tế công, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc sức khoẻ luôn là một vấn đề mà xã hội quan tâm hàng đầu. Và sự công bằng – hiệu quả trong cung cấp hàng hoá y tế là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu thực hiện. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng trong công tác phân phối dịch vụ y tế giữa người giàu và người nghèo, giữa các địa phương và vùng kinh tế trong xã hội. Nguyên nhân của việc bất bình đẳng đó là do thông tin bất cân xứng và ngoại tác. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải làm sao để mọi người đều có quyền lợi bình đẳng trong việc tiếp cận các hàng hoá y tế, nhằm đạt được công bằng và hiệu quả trong cung cấp hàng hoá y tế cho xã hội. CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG HOÁ Y TẾ 1.1 Lý thuyết về hàng hóa y tế 1.1.1 Hàng hóa công 1.1.1.1 Khái niệm Hàng hoá công là loại hàng hoá mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với nhau. Việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác. 1.1.1.2 Phân loại - Hàng hóa công thuần túy: Là loại hàng hóa công không thể định suất sử dụng và việc định suất sử dụng là không cần thiết. - Hàng hóa công không thuần túy: Là loại hàng hóa công có thể định suất sử dụng, có thể loại trừ nhưng phải chấp nhận một khoản tốn kém chi phí nhất định. 1.1.2 Hàng hóa y tế Khái niệm Hàng hóa y tế có thể hiểu đó là thuốc thang, trang thiết bị y tế, sản phẩm dinh dưỡng và các dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe. Thông qua việc tìm hiểu về hàng hóa công, thì ta thấy hàng hóa y tế là một loại hàng hóa công. Vì mọi người đều có quyền được hưởng các dịch vụ y tế để phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe. Khi có thêm một người cùng sử dụng hàng hoá y tế thì không ảnh hưởng đến lợi ích của những người đang sử dụng, miễn là bạn có đủ điều kiện để sử dụng thì bạn hoàn toàn có quyền được hưởng những lợi ích do các dịch vụ này mang lại. Xét về tính cạnh tranh : Hàng hóa y tế không có tính cạnh tranh. Chúng ta xét ví dụ: Đối với những hàng hóa thông thường khác thì một hãng bán hàng có thể hạ giá bán để thu hút khách hàng từ những người khác, nhưng với hàng hóa y tế nếu bệnh nhân đến khám chữa bệnh ở bác sĩ có giá thấp hơn những bác sĩ cạnh tranh khác, vì bác sĩ này có ít cầu và đang thu hút thêm nhiều bệnh nhân với việc cung ứng một số loại thuốc có tính chất tương đương nhau nhưng có giá bán thấp hơn. Lúc đó, người bệnh có thể sẽ cảm thấy không tin tưởng khi dùng những loại thuốc này vì sợ rằng nó có tác dụng không như mong muốn. Xét về tính loại trừ : Hàng hóa y tế có tính loại trừ bằng chi phí dịch vụ. Bất cứ đối tượng nào được hưởng dịch vụ y tế đều phải đóng một khoản phí để khám chữa bệnh. Đối với người nghèo thì sẽ ít có điều kiện hưởng các hàng hóa y tế nếu họ không có đủ khả năng đóng phí. Do đó họ sẽ có nhiều rủi ro hơn trong việc khám chữa bệnh. Như vậy, hàng hóa y tế là hàng hóa công không có tính cạnh tranh nhưng vẫn có tính loại trừ nên hàng hóa y tế là hàng hóa công không thuần túy. 1.1.3 Tại sao phải quan tâm đến việc cung cấp hàng hóa y tế Sức khỏe là một vấn đề quan trọng đối với tất cả mọi người và đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Nếu sức khỏe người dân không được đảm bảo, điều này hạn chế khả năng của quốc gia đó trong việc tạo ra nguồn của cải và tình hình này còn trầm trọng hơn trong giai đoạn quốc gia đó đang chuyển đổi về mặt kinh tế và chính trị. Vì vậy chúng ta phải luôn luôn chú ý quan tâm đến việc cung cấp hàng hóa y tế hay chính xác hơn đó là các dịch vụ về y tế để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân. 1.2 Công bằng và hiệu quả trong cung cấp hàng hóa y tế 1.2.1 Khái niệm công bằng Khái niệm công bằng xã hội không hoàn toàn không đồng nhất, nó được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu ở hai cách sau: Thứ nhất, khái niệm công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối với những người có tình trạng kinh tế - xã hội như nhau (được xét theo một số tiêu chí nào đó như: thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc…) Thứ hai, khái niệm cân bằng dọc là đối xử khác nhau với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có. (A.J. Culyer, 1995) Trong cung cấp hàng hóa y tế công bằng xã hội được thể hiện như sau: Xét về công bằng ngang tức là mọi đối tượng tham gia: người có hoàn cảnh kinh tế như nhau, không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội.. đều được sử dụng hàng hóa y tế ngang nhau như việc khám chữa bệnh, cung cấp thuốc. Xét về công bằng dọc tức là đối xử khác nhau đối với những người có khả năng về kinh tế, thu nhập cao có nhu cầu sử dụng những dịch vụ đặc biệt như khi nhập viện họ có nhu cầu ở phòng riêng, có bác sĩ chăm sóc riêng, sử dụng những thiết bị hiện đại nhất… Tuy nhiên trong thực tế, người nghèo, vùng nghèo lại khó tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng tốt. Chất lượng chăm sóc y tế cho người nghèo kém hơn so với chất lượng chăm sóc y tế cho người giàu, gây bất cân bằng xã hội. 1.2.2 Hiệu quả trong cung cấp hàng hóa y tế Hiệu quả kỹ thuật : Với cùng một sản lượng sử dụng ít nguồn lực hơn Với cùng số lượng nguồn lực đầu vào sẵn có, đạt mức sản lượng tối đa Hiệu quả chi phí Chi phí thấp cho cùng mức sản lượng Sản lượng cao nhất cùng chi phí Đạt hiệu quả kỹ thuật trước khi đạt hiệu quả chi phí Vậy trong cung cấp hàng hóa y tế, hiệu quả chi phí và hiệu quả kỹ thuật được thể hiện: trong cùng một đơn vị thời gian, một bác sĩ khám chữa bệnh cho nhiều người hơn, chi phí trung bình cho việc khám chữa bệnh ít hơn. 1.2.3 Quan hệ giữa công bằng và hiệu quả trong cung cấp hàng hóa y tế - Theo lý thuyết, để đạt được công bằng phải hy sinh một hiệu quả nào đó. Ngành y tế đạt được hiệu quả nếu có đủ các điều kiện về nguồn nhân lực y tế, trang thiết bị và tài chính, tạo mọi điều kiện để chăm sóc sức khỏe nhân dân một cách tốt nhất. Nhưng để làm được như vậy, Nhà nước phải tăng đầu tư cho ngành Y. Và viện phí đóng vai trò quan trọng trong cung cấp tài chính cho chăm sóc sức khỏe. Tuy vậy, viện phí lại có tác động tiêu cực làm tăng sự bất công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân làm rào cản cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, làm cho người nghèo càng nghèo thêm. - Theo lý thuyết, hàng hóa y tế luôn đạt được hiệu quả khi thực hiện đúng nguyên tắc chuyển nguồn lực từ người giàu sang người nghèo, tức là khi những người có thu nhập cao hơn, có nhu cầu sử dụng các dịch vụ dặc biệt thì phải thanh toán thêm cho những dịch vụ này, trong đó Chính Phủ đã đánh thuế lên hàng hóa dịch vụ đó. Tiền thu về từ việc đánh thuế sẽ dành trợ cấp cho những người nghèo hơn khi sử dụng hàng hóa y tế. Chăm sóc y tế phải được thực hiện dựa trên sự công bằng đồng thời với việc nâng cao chất lượng hiệu quả trên cơ sở đảm bảo hiệu suất cao, đẩy mạnh tính năng động của ngành y tế. Nếu công tác khám chữa bệnh kém chất lượng hiệu quả thì cuối cùng cũng không có công bằng, nếu hiệu suất và tính năng động của cán bộ y tế thấp thì cuối cùng công bằng cũng thấp. Khi công bằng được đảm bảo trong y tế thì Về mặt tích cực Mọi người dân trong xã hội đều được tiếp cận, sử dụng hàng hóa y tế, tạo lòng tin của người dân trong lĩnh vực y tế, góp phần ổn định chính trị, xã hội. Phúc lợi, an sinh xã hội được nâng cao, tạo ra một xã hội tốt đẹp, góp phần làm dân giàu nước mạnh, thúc đẩy các mối quan hệ nước ngoài. Về mặt tiêu cực Một chương trình thực hiện công bằng không hiệu quả sẽ không khuyến khích sản xuất đầu tư. Thật vậy, nếu y tế được đảm bảo công bằng mà bác sĩ yếu kém về chuyên môn, chất lượng dịch vụ y tế không được cải thiện, tức là y tế cơ sở kém hiệu quả, không tạo động lực thúc đẩy cán bộ y tế làm việc, khó tiếp cận với các cơ hội đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Ngoài ra, trong việc thực hiện công bằng sẽ có một số hàng hóa y tế không đến tay người nghèo vì mục đích trục lợi của một số cá nhân. Hậu quả của sự không công bằng Bất công bằng trong tiếp cận các dịch vụ y tế, các chi phí đắt đỏ, và sự mất lòng tin trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đã tạo nên một mối đe dọa với ổn định xã hội. Bất công bằng dẫn đến sức khỏe của cộng đồng kém, sức lao động giảm, năng suất lao động giảm, kinh tế xã hội giảm. Gây lãng phí chi tiêu công Không đảm bảo phúc lợi xã hội Phân hóa giàu nghèo 1.3 Sự thất bại của thị trường trong việc cung cấp hàng hoá y tế 1.3.1 Thông tin bất cân xứng 1.3.1.1 Khái niệm Là tình trạng khi giao dịch trên thị trường mà một bên nào đó tham gia có được thông tin đầy đủ hơn bên kia về các đặc tính, thông tin của sản phẩm đang được giao dịch. Theo Stinglizt và Akerlof thì vấn đề thông tin có thể gây ra sự sụp đổ của toàn bộ thị trường, hoặc đưa thị trường vào tình huống lựa chọn ngược đối với các sản phẩm chất lượng thấp. E’ O P E S D Tổn thất xã hội dt E’ED’ D’ Q PE PE’ Hình 1.1: Thông tin bất cân xứng làm cho tiêu dùng hàng thấp hơn mức tối ưu xã hội QE’ E QE O P E’ S D’ Tổn thất xã hội dt EE’D D Q PE’ PE Hình 1.2: Thông tin bất cân xứng làm cho tiêu dùng hàng hoá vượt mức tối ưu xã hội. Chênh lệch thông tin bao gồm những vấn đề chủ yếu sau : Thông tin không đầy đủ Thông tin không chính xác Thông tin không thể thu thập Thông tin bị che dấu Hậu quả của thông tin bất cân xứng Lựa chọn nghịch Diễn ra trước khi giao dịch Hàng hóa tốt bị hàng kém chất lượng đẩy khỏi thị trường. Tâm lý ỷ lại Xảy ra sau khi giao dịch Cá nhân hay tổ chức không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra. 1.3.1.2 Thông tin bất cân xứng trong cung cấp hàng hóa y tế Xuất hiện thông tin bất cân xứng giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế, thầy thuốc) quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “ cầu quyết định cung” trong dịch vụ y tế “cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, điều trị bao lâu lại do bác sĩ quyết định. Như vậy, người bệnh, chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động lựa phương pháp điều trị. Bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các chỉ định điều trị. Do vậy, hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung quyết định). Điều nguy hiểm cho người bệnh là có thể bị bóc lột. Dựa vào giá biểu điều trị và phương pháp sẽ được sử dụng để tính tiền, bác sĩ có thể kiếm lời bằng cách tạo ra nhu cầu giả cho các dịch vụ của chính mình. Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế. Vì vậy, chính phủ phải có vai trò hạn chế những thất bại về thông tin của thị trường. Do không có được những thông tin chính xác trong thị trường hàng hóa mình cần nên người bệnh có thể có những quyết định không chính xác cho sự lựa chọn của mình. Hàng hóa y tế lại là hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người nên không giống các nhu cầu khác. Khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng người ta vẫn phải khám chữa bệnh. Đây là đặc điểm không giống các loại hàng hóa khác. Người bệnh trao “niềm tin” cho bác sĩ, tin tưởng vào những người thầy thuốc có chuyên môn, tay nghề cao nên bệnh nhân có thể bị lợi dụng. Cũng do thông tin bất cân xứng gây ra, người bệnh sẽ phải chịu mua thuốc ở mức giá cao. Ba nguyên nhân khiến người bệnh nước ta phải chịu mức giá thuốc quá cao là : - Sự bất cập trong cơ chế quản lý họat động kinh doanh dược phẩm. - Thiếu thông tin thị trường - Sự yếu kém của công nghệ sản xuất trong nước dẫn đến độc quyền giá. 1.3.2 Ngoại tác 1.3.2.1 Khái niệm Ngoại tác là phần lợi ích hoặc chi phí, gắn với dạng hoạt động cụ thể hoặc là yếu tố sản xuất, mà những người ngoài nhận được. 1.3.2.2 Phân loại Ngoại tác tích cực Đó là khi hành động của một người mang lại lợi ích cho người khác, tức là những diện tích mà người nhận không mất tiền mua. Trong việc cung cấp hàng hóa y tế, ngoại tác tích cực thể hiện ở những vấn đề sau: Khi có công bằng trong cung cấp hàng hóa y tế, mọi người, mọi nhà được tiếp cận sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách dễ dàng hơn, nâng cao sức khỏe người dân, tăng nguồn nhân lực cho nền kinh tế phát triển. Phúc lợi, an sinh xã hội được nâng cao, từ đó tạo ra một chế độ xã hội tốt đẹp, góp phần vào quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tạo nên một môi trường kinh doanh ổn định thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài. Công bằng trong y tế giúp giải quyết vấn đề về bệnh dịch tràn lan, giảm chi ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó còn tạo được một nguồn lao động khỏe mạnh, thu hút nguồn vốn từ nước ngoài, quy mô nền kinh tế được mở rộng. Ngoại tác tiêu cực Là hành động của một cá nhân hoặc công ty gây tác hại cho cá nhân hoặc các công ty khác. Trong việc cung cấp hàng hóa y tế cũng xuất hiện một vài ngoại tác tiêu cực, ví dụ như : - Trong các đợt trợ cấp cho người nghèo, do tham nhũng cửa quyền của một số cán bộ quản lý và những người thực hiện mà những người nghèo không được nhận thật sự đầy đủ những hàng hóa y tế mà họ đáng ra có thể nhận được. Điều này làm thất thoát ngân sách Nhà Nước trợ cấp cho y tế, gây nên sự bất công bằng trong xã hội, những người nghèo này nay còn nghèo hơn. - Ngoài ra có sự phân biệt đối xử giữa người mua trả tiền và người mua được hưởng các chế độ ưu đãi của Nhà nước. Những người trả tiền sẽ được ưu tiên giải quyết các dịch vụ khám chữa bệnh trước. Như vậy gây nên sự thiếu công bằng trong quá trình cung cấp hàng hóa y tế. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CUNG CẤP HÀNG HOÁ Y TẾ Ở VIỆT NAM 2.1 Hệ thống y tế Một hệ thống y tế hoàn chỉnh được hình thành bao gồm nhiều lĩnh vực: phòng bệnh, chữa bệnh – phục hồi chức năng, bảo hiểm y tế, y học cổ truyền, sản xuất cung ứng dược phẩm, thiết bị y tế, đào tạo huấn luyện, truyền thông giáo dục sức khỏe. Mạng lưới y tế trải rộng hắp nơi: từ Trung ương, tỉnh – thành, huyện – quận đến xã – phường, thôn – bản, các cơ quan, xí nghiệp, trường học. Đến nay cả nước có: 956 bệnh viện, 75 khu điện dưỡng – phục hồi chức năng, hơn 1000 phòng khám đa khoa và nhà hộ sinh khu vực, hơn 10000 trạm y tế xã và y tế cơ quan, 30 Viện, phân viện, 5 trung tâm nghiên cứu chuyên khoa, 7 trường đại học và cao đẳng, 60 trường trung học y tế. Hệ thống cung ứng dược gồm: 1 tổng công ty, 150 doanh nghiệp nà nước, 24 doanh nghiệp liên doanh, 220 doanh nghiệp tư nhân, 5100 nhà thuốc tư nhân, 8800 đại lý thuốc tuyến xã. Hệ thống cung ứng thiết bị y tế gồm: 1 tổng công ty, 8 doanh nghiệp Nhà nước, 3 doanh nghiệp liên doanh, 65 công ty vật tư thiết bị y tế. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở khám chữa bệnh phân bổ chưa hợp lý, tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện tuyến trên khá nặng nề. Có nơi một tỉnh miền núi có 8 bệnh viện cả chuyên khoa lẫn đa khoa trong khi tỉnh khác chỉ có duy nhất một bệnh viện đa khoa và chỉ đạt bình quân 9,3 giường bệnh/ 10000 dân, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung cả nước là 16 giường/ 10000 dân. Đó là chưa kể tình trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế rất thiếu, không đồng bộ và cũ nát, làm cho hiệu quả việc khám chữa bệnh kém. 2.2 Công tác khám chữa bệnh Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh ở các tuyến (đặc biệt là ở tuyến trung ương và ở các thành phố) đã cơ bản đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Nhiều kỹ thuật y học mới đã được thực hiện thành công Các hình thức khám chữa bệnh cho người nghèo : Công bằng thường đi đôi với đạo đức, đạo đức y tế đòi hỏi trách nhiệm cao của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, ứng xử với người nghèo cũng như người giàu. Xét về tổng thể người giàu vẫn được hưởng lợi nhiều hơn nguồn hỗ trợ của Nhà nước cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe so với người nghèo mặc dù chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã hướng vào người nghèo nhiều hơn trong những năm gần đây. Ở Việt Nam ta, công tác khám chữa bệnh cho người nghèo còn gặp nhiều khó khăn do chưa có nguồn ngân sách dành riêng cho khám chữa bệnh người nghèo. Hiện nay đã có nhiều hình thức khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trong đó cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo là hình thức có tính ưu việt nhất. Với hình thức này, cơ quan bảo hiểm y tế cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo bằng ngân sách nhà nước từ Quĩ xóa đói giảm nghèo, người bệnh nghèo được khám chữa bệnh như hình thức Bảo hiểm y tế bắt buộc. Ngoài ra các hình thức cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí, giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí, cấp sổ ngưới nghèo cũng được áp dụng ở nhiều địa phương. Một hình thức khám chữa bệnh miễn giảm phí nữa tương đối phổ biến ở hầu hết các bệnh viện là đơn xin miễn giảm phí do địa phương chứng nhận. Mặt khác, do kinh phí hạn hẹp nên thực tế số người nghèo được cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí vẫn còn ít và khác nhau giữa các tỉnh. Trạm y tế xã là nơi người nghèo thường hay sử dụng nhất khi cần phải khám chữa bệnh nhưng hầu hết lại không được miễn giảm phí khám chữa bệnh ở tuyến xã. Đây cũng chính là một số hạn chế việc sử dụng y tế ở tuyến cơ sở. Đối với cơ sở y tế tuyến trên, mặc dù được miễn giảm phí nhưng thực tế người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn do vẫn phải chi trả cho các chi phí khám chữa bệnh gián tiếp như ăn uống, đi lại. Do vậy, nhiều người nghèo được hưởng chế độ miễn giảm phí khám chữa bệnh nhưng vẫn không đến được cơ sở y tế. Theo thống kê của bộ y tế, tuyến y tế cơ sở là nơi đem lại lợi ích nhiều hơn cho người nghèo; các dịch vụ dự phòng và chăm sóc thai sản có tính “hướng nghèo” cao nhất, các dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú và phục hồi chức năng xảy ra nhiều bất công bằng nhất : bệnh nhân nghèo khi đi khám chữa bệnh ( nội trú và ngoại trú) được hỗ trợ thông qua hình thức miễn giảm là chính, tỷ lệ được bảo hiểm y tế thanh toán còn thấp, và được hỗ trợ khi đi khám chữa bệnh ngoại trú thấp hơn khám chữa bệnh nội trú; gánh nặng chi phí y tế chủ yếu do nằm viện và ở người nghèo lớn hơn người giàu; nhóm cận nghèo có tỷ lệ tự chi trả chi phí khám chữa bệnh nội trú cao nhất; các chính sách hỗ trợ người nghèo đã được các địa phương tích cực thực hiện song tỷ lệ “không bao phủ” hết còn tương đối cao. Chất lượng chăm sóc y tế và viện phí : Chất lượng chăm sóc y tế cho người nghèo kém hơn so với chất lượng của các bệnh nhân trả tiền. Ngày nằm viện của các bệnh nhân được miễn phí dài dơn số ngày nằm viện của những bệnh nhân trả tiền. Ngược lại, chi phí khám chữa bệnh cho các bệnh nhân này thấp nhất ở các địa phương. Trong khi đó, chi phí cho thuốc chiếm chủ yếu trong khi chi phí khám chữa bệnh. Do đó, những bệnh nhân này có thể đã được chữa bệnh với số lượng thuốc ít hơn và rẻ hơn so với những bệnh nhân trả tiền. Viện phí được xem như món tiền của người bệnh tự chi trả trực tiếp cho các cơ sở y tế sau khi “mua” các dịch vụ y tế. Khoản tiền này thường là khá lớn, vượt khả năng chi trả của các gia đình nghèo, nên sau khi chi trả như vậy, người nghèo thường sẽ nghèo hơn, và người thuộc tầng lớp trung lưu sẽ nhiều khả năng rơi xuống tầng lớp nghèo. Vì vậy, viện phí được xem như là “bẫy nghèo đói”. Một xu thế hiện nay khá phổ biến ở các bệnh viện là các bệnh viện (trừ các bệnh viện ở miền núi, nơi đại bộ phận là đồng bào dân tộc thiểu số được chính sách nhà nước hỗ trợ) đang có xu thế coi trọng nguồn thu là viện phí. Theo số liệu kiểm tra bệnh viện hàng năm của Bộ Y tế, thì tỷ trọng viện phí trong tổng số ngân sách của khối bệnh viện chiếm 32.8% (2000), 35.7% (2002) và 56.5% (2003). Theo một thống kê cuả Bộ Y tế, khoảng 73% tổng số tiền chi trả cho y tế Việt Nam ở giai đoạn hiện nay có được do người bệnh chi trả trực tiếp khi điều trị. Trên thực tế, công bằng và hiệu quả vốn mâu thuẫn nhau, hiện nay chính sách thu viện phí và cơ chế kinh tế thị trường đã đặt đồng tiền giữa người phục vụ là nhân viên y tế và người phục vụ là người bệnh. Nạn thu phí ngầm vẫn chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Chưa có những quy chế chặt chẽ để đảm bảo người bệnh được tôn trọng, phục vụ chu đáo và người thầy thuốc, các nhân viên y tế phục vụ không bị thoái hóa về y đức. Tình trạng phí ngầm nếu không được ngăn chặn có hiệu quả sẽ làm mục nát hệ thống y tế công lập, thoái hóa cán bộ, làm mất niềm tin của nhân dân, nhất là người nghèo. Công tác này cần được bắt đầu từ các bệnh viện Trung Ương và các bệnh viện tỉnh. 2.3 Nhân lực y tế Tính đến nay, cả nước có 95 cơ sở đào tạo cán bộ y tế (trong đó có 19 trường đại học và cao đẳng). Con số đó chưa phải là cao so với nước ngoài và trình độ, năng lực quản lý của cán bộ chưa tương xứng với nhu cầu, nhiệm vụ quản lý được giao. Hậu quả là tình trạng trì trệ vẫn diễn ra, năng suất phục vụ thấp, y đức sa sút, lãng phí tiền vật tư của Nhà nước… Bên cạnh đó, vẫn tồn tại sự mất cân đối trong phân bổ cán bộ y tế giữa các tuyến. Việc đưa bác sĩ về xã để người nghèo, vùng nông thôn tăng khả năng tiếp cận với kỹ thuật cao hơn vẫn còn đang trong quá trình giải quyết. Tình trạng nhiều bệnh viện thiếu cán bộ, thậm chí một bác sĩ khám chữa bệnh cho 200 bệnh nhân/ngày làm giảm chất lượng khám chữa bệnh cho người dân. Hiện nay, trên thị trường nổi cộm lên vấn đề thuê bằng dược sĩ mở tiệm thuốc tây. Theo quy định của Pháp lệnh về hành nghề y dược tư nhân, thì những dược sĩ đứng tên xin giấy phép phải có mặt tại nơi kinh doanh. Người đang làm việc trong các cơ sở y, dược Nhà nước chỉ được hành nghề dược ngoài giờ khi có sự đồng ý bằng văn bản của thủ trưởng cơ quan. Thế nhưng hàng loạt các nhà thuốc tư nhân mở cửa không đúng giờ và người bán thuốc không phải là người có tên trong giấy phép đăng ký kinh doanh. Việc cho thuê bằng hoặc để người không có trình độ bán thuốc có thể dẫn tới những hệ lụy tiêu cực đối với người tiêu dùng. Đó là bán thuốc không theo toa, bán quá giá quy định, thậm chí nguy hiểm hơn là bán nhầm thuốc. Điều này là hoàn toàn có khả năng xảy ra. Bởi nhiều người không để ý tới việc người bán thuốc có phải là dược sĩ hay dược tá không, cứ thấy khoác áo trắng là họ yên tâm. 2.4 Quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc Cung ứng thuốc năm 2007 tăng khoảng 20% so với năm 2006. Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm y tế tăng ở mức thấp hơn so với tỷ lệ tăng chỉ số giá tiêu dùng nói chung. Trong những thời điểm khó khăn như thiên tai, lụt bão, dịch bệnh xảy ra thì ngành y tế vẫn đảm bảo cung ứng kịp thời và đủ thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Tuy nhiên, khó khăn về ngân sách y tế và cơ sở hạ tầng kém phát triển, người dân khó có điều kiện để có thuốc khi cần. Điều này đã ảnh hưởng đến mục tiêu cốt yếu của kinh tế công là đảm bảo cho những tầng lớp dân cư nghèo khổ và khó khăn nhất vẫn có thuốc và dịch vụ y tế khi cần với giá cả có thể chấp nhận được. Mặt khác, sự bất cập về năng lực quản lý, việc thiếu cán bộ được đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở cũng ảnh hưởng đáng kể đến việc đảm bảo công bằng cung ứng thuốc, nhất là thuốc có chất lượng tốt cho nhân dân. Hơn nữa do tình trạng độc quyền về giá thuốc nên người dân đã phải chịu mua thuốc với giá cao. Vì vậy, trong nhiều năm, mặc dù có quy định, nhưng việc công bố và niêm yết giá thuốc của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chỉ mang tính hình thức. Việc chậm phá bỏ độc quyền trong phân phối cũng là nguyên nhân quan trọng khiến giá thuốc quá cao, nhất là đối với những thuốc đang còn trong thời gian bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Với những loại thuốc này, nước ta chỉ được phép nhập khẩu, nên ngay từ đầu, giá thuốc đã được định trước theo chủ ý của nhà sản xuất thuốc. Khi thuốc được cấp số đăng ký tại thị trường nước ta cũng có nghĩa là doanh nghiệp phân phối được độc quyền lưu hành thuốc. Đây là cơ hội lớn cho các nhà phân phối tự ý nâng giá thuốc theo ý muốn. Trong khi đó, công nghệ sản xuất thuốc trong nước lại quá lạc hậu và kém phát triển… đã khiến cho thuốc nhập ngoại chiếm lĩnh thị trường và quyết định giá cả. Đây chính là nguyên nhân gây chậm phá bỏ độc quyền trong sản xuất kinh doanh thuốc, bắt “chẹt” người tiêu dùng trong nước. Tình trạng sử dụng thuốc không an toàn – hợp lý, thuốc giả, kém hiệu quả cũng là một hiện tượng phổ biến để lại những hậu quả nghiêm trọng trên nhiều mặt: sức khỏe nhân dân, bệnh tật và lãng phí ngân sách. 2.5 Chính sách tài chính và đầu tư Bộ y tế tiếp tục thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng hưởng chính sách xã hội. Mức chi tiêu y tế bình quân đầu người của nước ta tăng nhanh, từ 23 USD/người ( năm 2003) lên 45 USD/người (năm 2006). Tuy nhiên, trong đó số tiền người bệnh tự chi chiếm tới 55% - 64%, nguồn tài chính công chỉ chiếm khoảng 40%. Thực tế, trong những năm qua, tỷ lệ ngân sách Nhà nước giành cho y tế trong tổng số chi ngày càng tăng, từ 4.98% (2002) lên 5.61%(2006) và chiếm 60% nguồn tài chính chi cho hệ thống y tế công lập. Nhiều bệnh viện được trang bị các kỹ thuật hiện đại như: CT – scan, chẩn đoán sinh học phân tử PCR… nhưng lại không đánh giá được chất lượng của thiết bị vì đội ngũ cán bộ sử dụng không bắt kịp tiến bộ kỹ thuật. Do vậy, chi phí cho trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh ở Việt Nam chiếm tới 51% tổng chi cho ngành nhưng hiệu quả vẫn thấp, trong khi tỷ lệ bình quân của thế giới chỉ ở khoảng 15% nhưng hiệu quả trội hơn hẳn. Thực tế lại cho thấy sự eo hẹp về đầu tư tài chính cho y tế trong khi nhu cầu đối với khám chữa bệnh của nhân dân ngày một cao. Trong cơ cấu ngân sách cho khu vực chữa bệnh có sự mất cân đối khá rõ. Cho dù Nhà nước ưu tiên đầu tư (Nguồn Ngân sách Trung ương) theo đầu người cao hơn cho vùng núi, vùng nghèo, song khả năng đóng góp của cộng đồng qua viện phí và bảo hiểm y tế lại rất hạn chế dẫn tới mức chi y tế bình quân đầu người chênh lệch giữa các vùng khá lớn. Vùng càng nghèo mức chi y tế bình quân càng thấp. Điều này thể hiện sự thiếu công bằng trong đầu tư và cả trong cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh. Bên cạnh đó, hiện tượng chi phân bổ nguồn lực y tế cho những vùng giàu thường cao hơn nhiều so với chi phí ở vùng nghèo trong khi những nhu cầu khám chữa bệnh ở những vùng nghèo lại cao hơn. Người nghèo, vùng nghèo khó tiếp cận với các dịch vụ y tế công so với những người có thu nhập cao hơn, vùng giàu hơn, giao thông phát triển hơn (chưa công bằng trong tiếp cận). Đồng thời, họ cũng phải hạn chế chi tiêu cho khám, chữa bệnh so với nhóm có thu nhập cao, cho dù họ thuộc nhóm có tình trạng sức khỏe yếu hơn và có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn (chưa công bằng trong khám chữa bệnh) Phân bổ nguồn lực tài chính theo yêu cầu: những nơi có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao, đơn giá chi phí cao thì cần nhận được mức phân bổ nguồn lực lớn hơn. Phân bổ nguồn lực tài chính theo mức độ người dân có thể chi trả: theo yêu cầu đâu là hình thức phân bổ ngân sách như trong thị trường, dẫn tới mất công bằng trầm trọng. Xu hướng người dân sử dụng trạm y tế xã và bệnh viện huyện đang tăng dần, tỷ lệ đến y tế tư nhân giảm đi cho thấy các dịch vụ y tế công đang phục hồi và có sức thu hút nhiều hơn. Sự thiếu công bằng khá rõ giữa nhóm giàu với nhóm nghèo trong sử dụng bệnh viện, nhất là khám dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú. Đối với các trạm y tế xã, tình trạng sử dụng dưới công suất vẫn còn khá rõ, cho dù Nhà nước và Bộ Y tế đã có nhiều cố gắng tăng cường đầu tư các nguồn lực. 2.6 Cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế Nhiều máy móc thiết bị y học hiện đại đã được trang bị cho các bệnh viện Trung ương, bệnh viện tỉnh, thành phố… để đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật cao trong chẩn đoán, điều trị bệnh tật của người bệnh trong nước và người nước ngoài. Có thể nói, trong một số lĩnh vực khoa học, y học nước ta đã sánh ngang tầm với nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Rất nhiều cơ sở y tế ở các địa phương đã được xây dựng sửa chữa, nâng cấp là nhờ vào nguồn lực của nhân dân. Ngành y tế đã đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho các cơ sở thuộc các lĩnh vực: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, y dược học cổ truyền, đào tạo nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc và trang thiết bị y tế. Đặc biệt các Trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, sử dụng nhiều phương tiện hiện đại trong khám, chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Công tác quản lý, sắp xếp và tổ chức lại hệ thống Công ty, Xí nghiệp thiết bị y tế, các Viện nghiên cứu và Trường đào tạo đã từng bước được đổi mới. Trật tự trong lĩnh vực kinh doanh, xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế thì bước đầu được lập lại. Một số nhà máy, xí nghiệp sản xuất trang thiết bị đã được đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ. Những trang thiết bị y tế thông thường, thiết bị nội thất bệnh viện sản xuất trong nước đã được tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của ngành Y tế và bước đầu xuất khẩu. Tại các bệnh viện tỉnh, các khoa chủ yếu như: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hóa, phòng mổ và hồi sức cấp cứu đã được trang thiết bị một số thiết bị cơ bản: máy X-quang cao tần – tăng sáng truyền hình, máy siêu âm, máy nội soi, máy xét nghiệm sinh hóa nhiều chỉ số, máy huyết học, máy gây mê, máy thở, máy sức tim, máy theo dõi bệnh nhân ... Tại 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều được trang bị đủ trang thiết bị để sàng lọc phát hiện bệnh nhân bị nhiễm HIV, viêm gan, một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong công tác truyền máu an toàn. Các Trung tâm y tế huyện đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán và xe Ô tô cứu thương. Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần thiết để phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân số và kế hoạch hóa gia đình. Tuy vậy, y tế nước ta vẫn tồn tại những thách thức trên con đường phát triển. Trang thiết bị y tế cùa Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực. Hầu hết trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chửa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới. Nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao. Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết công suất trang thiết bị hiện có. Năng lực của cán bộ kỹ thuật trang thiết bị y tế chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ. Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nguồn nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật thiết bị y tế còn thấp so với yêu cầu. Nhiều bệnh viện tỉnh chưa có phòng quản lý Vật tư – thiết bị y tế. Các xí nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế còn ít, chủng loại nghèo nàn, chất lượng sản phẩm chưa cao. Hệ thống kinh doanh, xuất nhập khẩu chưa hoàn chỉnh, thiếu vốn, thiếu thông tin, thiếu cán bộ có nghiệp vụ thương mại và trình độ kỹ thuật về trang thiết bị y tế. Mặc dù đã có những nỗ lực rất lớn, vấn đề thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh giữa nông thôn với thành thị, đồng bằng và miền núi, người giàu và người nghèo vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Vốn đầu tư, trang thiết bị và cơ sở vật chất, đào tạo và bổ nhiệm cán bộ, trình độ phát triển kinh tế xã hội và dân trí còn thấp,… CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH CÔNG BẰNG VÀ HIỆU QUẢ TRONG CUNG CẤP HÀNG HOÁ Y TẾ Để nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong cung cấp hàng hoá y tế, Chính phủ nên thực hiện những biện pháp sau: 3.1 Trợ cấp Trợ cấp có tác dụng làm tăng sản lượng hàng hóa cung ứng nên nó thường được dùng để khắc phục ngoại tác tích cực. Ngoài ra trợ cấp còn được dùng để nội hóa cả ngoại tác tiêu cực và bù lỗ cho độc quyền để khuyến khích các hãng độc quyền sản xuất tại mức sản lượng tự nhiên, sản xuất tại mức sản lượng tối ưu xã hội, trợ giúp cho những vùng sâu vùng xa hay những vùng có nền kinh tế còn non yếu. Vì thế, Chính phủ có thể sử dụng hình thức trợ giá hay bù lỗ để thực hiện các mục tiêu trên. Chẳng hạn, để khuyến khích chính quyền địa phương mở rộng cung cấp hàng hóa y tế, chính phủ có thể cam kết: cứ mỗi đồng chính quyền địa phương chi cho y tế sẽ được Chính phủ trợ giá theo tỷ lệ phần trăm nào đó. Thực chất của việc làm này sẽ làm “giá” hàng hóa y tế của địa phương giảm theo tỷ lệ tương ứng. Như vậy, ai cũng có thể tiếp cận các dịch vụ và thiết bị y tế một cách dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, chính phủ cũng có thể dùng hình thức trợ cấp bằng hiện vật như dược phẩm, thiết bị y tế. Trợ cấp chi phí dịch vụ y tế cho người dân sẽ giúp cho mọi người đều được khám và cấp thuốc, không kể địa vị xã hội, giàu sang, nghèo hèn, hay được phát thuốc miễn phí trong những trường hợp đặc biệt như : thương binh liệt sĩ, vùng sâu vùng xa, hộ gia đình thuộc diện khó khăn. 3.2 Xây dựng hệ thống y tế bền vững Nhà nước phải có những chính sách để xây dựng hệ thống y tế từng bước phát triển hoàn thiện hiện đại hướng tới công bằng và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe. Trong chiến lược về chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2010 – 2020 đề ra mục tiêu cụ thể, đó là : - Đầu tư phát triển mạng lưới y tế dự phòng đủ khả năng dự báo, giám sát, phát hiện và khống chế bệnh dịch, nhằm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh dịch gây ra. - Đầu tư sắp xếp lại mạng lưới khám chữa bệnh và phục hồi chức năng theo hướng phát triển cụm dân cư, đảm bảo tính hệ thống và liên tục trong hoạt động chuyên môn của từng tuyến điều trị và sự phát triển cân đối, hợp lý giữa các bệnh viện đa khoa và chuyên môn, các bệnh viện xây mới. - Nâng cấp phù hợp với kế hoạch chung bảo đảm đủ điều kiện xử lý chất thải y tế và khả năng chống nhiễm khuẩn để không ảnh hưởng tới người dân và môi trường sống. - Củng cố và hoàn thiện mạng lưới cơ sở, nâng cao khả năng tiếp cận của người dân với các dịch vụ y tế thiết yếu. Đến năm 2010, bảo đảm các xã có trạm y tế kiên cố 2 tầng và 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. - Củng cố nâng cao năng lực Nhà nước về dược phẩm, phát triển mạng lưới giao thông, phân phối và cung ứng thuốc để chủ động thường xuyên, đủ thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý và ổn định thị trường. 3.3 Nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lý Nâng cao vai trò và trách nhiệm của các cán bộ thanh tra trong việc quản lý nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho hàng hóa y tế. Phải đảm bảo nguồn trợ cấp của chính phủ được thực hiện đúng yêu cầu đặt ra, quyền lợi cuối cùng đến được tay người dân một cách đầy đủ và hiệu quả nhất 3.4 Giải pháp cho vấn đề thông tin bất cân xứng của hàng hoá y tế Để tránh tình trạng thông tin bất cân xứng giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ, có thể hình thành các dịch vụ tư vấn sức khỏe trực tuyến. Như vậy, vừa có thể làm giảm đi sự chênh lệch thông tin, vừa giúp bệnh nhân có thể tiết kiệm được thời gian và các khoản chi phí. - Ngoài ra, Chính phủ phải có những biện pháp thanh kiểm tra, hoặc thay vì buộc dược sĩ phải có mặt ở cửa hàng thì bắt họ phải chịu trách nhiệm với mọi hoạt động của cửa hàng. Như vậy sẽ hạn chế được những thiệt hại do tình trạng thông tin bất cân xứng gây ra. 3.5 Xây dựng cơ sở vật chất cho hệ thống y tế Để giải quyết bài toán bất công bằng trong khám chữa bệnh của người giàu và người nghèo, có thể thành lập những bệnh viện bình dân dành cho người nghèo. Ở đó mọi người đều được đối xử bình đẳng như nhau, với chi phí hợp lý và công tác khám chữa bệnh đảm bảo chất lượng. Đồng thời cần có những bệnh viện dành riêng cho người giàu ( cả tư nhân và nhà nước). Ở đó sẽ có những chất lượng phục vụ đặc biệt và tất nhiên là người bệnh phải trả giá cao hơn rất nhiều so với bệnh viện bình dân. Nguồn thu được từ các bệnh viện này sẽ có một phần để hỗ trợ cho các bệnh viện bình dân. Từ đó các bệnh viện sẽ từng ngày được cải thiện hơn. Với những bệnh nhân bảo hiểm y tế, những người đóng phí cao sẽ được vào các bệnh viện cao cấp tương ứng, cón người đóng phí thấp sẽ vào các bệnh viện bình dân. Nhưng để thực hiện điều này buộc Chính phủ phải có những chính sách kiểm tra trình độ tay nghề chuyên môn của các bác sĩ, để có sự phân phối đồng đều các bác sĩ có trình độ vào các tuyến, các bệnh viện một cách hợp lý. 3.6 Chống độc quyền trong cung cấp thuốc cho người dân Cần phải thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, chú trọng đầu tư, khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến… để tiến tới chủ động được nguồn thuốc, nhanh chóng xóa bỏ độc quyền trong sản xuất và phân phối thuốc. Nếu làm được như vậy, cùng với việc áp dụng những chế tài hiệu quả, thì dư luận sẽ không phải lo lắng về những đợt tăng giá thuốc làm đau đầu xã hội. KẾT LUẬN Quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước ta là hướng tới một nền y tế công bằng – hiệu quả, dân chủ văn minh. Đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề chăm sóc sức khỏe của người dân trong giai đoạn mới đòi hỏi phải có sự tổng kết, đánh giá thực trạng việc thực hiện công bằng trong cung cấp hàng hóa y tế. Từ đó, đổi mới mạnh mẽ từ quan điểm, nhận thức đến cách thức thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả hơn. Thực hiện công bằng – hiệu quả trong cung cấp hàng hóa y tế, xóa bỏ những bất cập trong việc cung cấp, đảm bảo cho mọi người dân đều được hưởng các hàng hóa y tế như nhau. Đó là mục tiêu của Nhà nước ta để đảm bảo một lực lượng lao động “tốt về chất, đông về lượng”. TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Thuấn (2005), “Kinh tế công cộng”, NXB Thống Kê-TP.HCM A.J. Culyer (1995). "Need — the Idea Won’t So — but We Still Need It" Social Science and Medicine, 40, pp. 727–730. 3. ‘Xây dựng và phát triển ngành y tế Việt Nam’, Website Bộ Y tế, , ngày truy cập 24/6/2009 4. ‘Chăm sóc sức khỏe và thị trường y tế’, Website Viện chiến lược và chính sách y tế, ngày truy cập 24/6/2009 3. ‘Xây dựng hệ thống y tế công bằng – hiệu quả và phát triển’, Website Báo Gia đình, ngày truy cập 26/6/ 2009 4. N.V.Hải, ‘Công bằng trong chăm sóc sức khỏe’, Website Trung tâm báo chí và hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI), ngày truy cập 25/6/2009 5. ‘Mất công bằng trong y tế’, Website Báo Pháp luật, ngày truy cập 26/6/2009 6. Thanh Trà, ‘Rủi ro thất bại thị trường’, Wsbsite báo Người đại biểu nhân dân, , ngày truy cập 26/6/2009 7. ‘Số cơ sở khám, chữa bệnh’, Website Tổng cục thống kê, ngày truy cập 29/6/2009 8. ‘Thông tin quản lý nhà nước về y tế’, Website Mạng thông tin y tế TP Hồ Chí Minh, ngày truy cập 29/6/2009 9. ‘Khám chữa bệnh’, Website Mạng thông tin y tế TP Hồ Chí Minh, ngày truy cập 29/6/2009 10. ‘Số liệu nhân lực y tế năm 2000 – 2008’, Website Mạng thông tin y tế TP Hồ Chí Minh, ngày truy cập 29/6/2009 11. ‘Số giường bệnh’, Website Tổng cục thống kê, ngày truy cập 29/6/2009 12. ‘Số cán bộ y tế, Website Tổng cục thống kê, ngày truy cập 29/6/2009

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận- hàng hóa công - kinh tế công- y tế công.doc
Luận văn liên quan