Tiểu luận Những tác động của xuất khẩu đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay

LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triền mạnh mẽ kéo theo sự đi lên tất yếu của các hoạt động trao đổi buôn bán thương mại giữa các nhóm, các khu vực kinh tế hay giữa các quốc gia trên Thế giới. Ngày nay, trong mạch chảy không ngừng nghỉ đó, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Từ những thập niên gần đây và đặc biệt là từ năm 2008 đến nay, các hoạt động xuất nhập khẩu ở nước ta đã diễn ra sôi nổi trên tất cả các quy mô lớn, vừa và nhỏ với tốc độ phát triển nhanh chóng. Điều này góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy nền kinh tế, tận dụng được những lợi thế so sánh của nước ta, đồng thời nâng cao vị thí của Việt Nam trên trường quốc tế. Chính vì tầm quan trọng như vậy của Xuất nhập khẩu đến sự phát triển kinh tế, bài tiểu luận đã đi sâu vào nghiên cứu nhằm rút ra mối quan hệ biện chứng của hoạt động này và nền kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, bài tiểu luận này tập trung tìm hiểu về một mặt của vấn đề trên: đó chính là Những tác động của xuất khẩu đến sự phát triền kinh tế ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay. Nội dung đầu tiên mà bài tiểu luận đề cập đến là đưa ra một bức tranh toàn cành về thực trạng xuất khẩu ở Việt Nam những năm từ 2008 đến nay, kết hợp vận dụng với những lý thuyết kinh tế vĩ mô để nêu lên mối quan hệ giữa chúng. Nội dung tiếp theo là nghiên cứu cụ thể hơn những tác động của xuất khẩu đến phát triển kinh tế Việt Nam, trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Điều quan trọng cuối cùng chính là từ tất cả những con số, dữ liệu thu thập được từ lý thuyết và thực tế nền kinh tế, bài tiểu luận xin đưa ra một số đề xuất nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, tăng cường những tác động tích cực của xuất khẩu đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam. Bài tiểu luận của chúng em chắc chắn sẽ không thể đi sâu đến tất cả các khía cạnh của vấn đề và gặp phải những thiếu sót. Chúng em rất mong được sự góp ý, sửa đổi, giúp đỡ của cô giáo cùng các bạn để có thể rút ra những kinh nghiệm quý báu cho bài tiểu luận này và những bài tập sau được hoàn thiện và thành công hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn!

docx31 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/05/2013 | Lượt xem: 1487 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Những tác động của xuất khẩu đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ập khẩu và tỉ lệ nhập khẩu/ xuất khẩu 2008 – 2011 Năm 2008 2009 2010 2011 Xuất khẩu (tỉ USD) 62,69 57,10 72,19 84,70 Nhập khẩu (tỉ USD) 75,50 65,40 79,30 92,10 Nhập khẩu/ Xuất khẩu (%) 120,43 114,54 109,85 108,74 Nguồn: Tính toán dựa trên nguồn của Tổng cục Thống kê. Tỉ trọng nhập khẩu/ xuất khẩu ngày càng giảm, từ 120,43% năm 2008 xuống 108,74% năm 2011 chứng tỏ trong những năm gần đây, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu đã đáp ứng được một phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu. Có thể thấy xuất khẩu luôn là một nguồn ngoại tệ lớn nhất và rất quan trọng, bên cạnh những nguồn ngoại tệ khác. Mặt khác, các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài hay viện trợ, vay nợ tuy cũng rất quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở các thời kì sau, nếu phụ thuộc quá nhiều vào các nguồn này thì chúng ta sẽ dễ gặp phải những rủi ro nhất định. Chính vì vậy, vốn ngoại tệ thu từ xuất khẩu lại càng trở nên quan trọng hơn phục vụ cho nhập khẩu và công nghiệp hóa đất nước. Giải quyết việc làm cho người lao động và cải thiện đời sống nhân dân Tình hình lực lượng lao động nước ta trong thời kỳ 2008 đến nay Năm 2008 - 2009 được đánh giá là ảnh hưởng của suy thoái kinh tế lao động nên khó tìm kiếm việc làm trong khi nhu cầu tiêu dùng không giảm, thậm chí còn được kích cầu để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Lao động mất việc làm, được hưởng trợ cấp mất việc nhiều lên. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, thì đó không phải là rào cản lớn nhất mà sự mất cân đối nghiêm trọng của lực lượng lao động hiện đang gây khó khăn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam. Theo báo cáo mới nhất về thực trạng cung - cầu lao động được Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội công bố thì cả nước hiện có trên 48 triệu lao động, trong đó 73% số lao động trên tập trung ở nông thôn. Đặc biệt, trong số 44/48 triệu lao động có việc làm thì 70% số đó có làm việc không ổn định, là lao động tự do, dễ bị Tổn thương, dễ bị rơi vào tình trạng nghèo đói. Thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các dự án, các hoạt động thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm năm 2010 đã tạo việc làm cho 1,610 triệu lao động (100,6% kế hoạch), trong đó tạo việc làm trong nước cho khoảng 1,525 triệu lao động (100,7% kế hoạch). Nhìn chung, năm 2010 lĩnh vực việc làm, thị trường lao động, bảo hiểm thất nghiệp được triển khai hiệu quả, hoàn thành chỉ tiêu được giao. Các hoạt động giao dịch việc làm được diễn ra với tần suất thường xuyên hơn, quy mô mở rộng hơn, hiệu quả kết nối cung – cầu lao động cao hơn. Công tác phân tích, dự báo thị trường lao động bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, hoàn thành việc xây dựng Báo cáo xu hướng việc làm năm 2010 phục vụ cho hoạch định chính sách thị trường lao động. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp cũng được triển khai tích cực, đang đi vào cuộc sống, góp phần tích cực vào việc giữ gìn an sinh xã hội. Mục tiêu được đề ra trong năm 2011 là: tạo việc làm cho 1,6 triệu lao động, trong đó tạo việc làm trong nước cho 1,513 triệu người, xuất khẩu lao động 87 ngàn người; giải quyết việc làm cho 200 nghìn lao động thông qua dự án vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm; đầu tư nâng cao năng lực cho 32 trung tâm giới thiệu việc làm; hỗ trợ tổ chức sàn giao dịch việc làm cho 30 tỉnh, thành phố; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động bị thất nghiệp… Tích cực đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, mở rộng quy mô sản xuất, từ đó giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đẫn tới hững thành tựu đã đạt được trong công tác giải quyết nạn thất nghiệp, ổn định thu nhập và cuộc sống cho người lao động như trên. Sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam Số liệu được đưa ra trong Báo cáo “Xu hướng việc làm Việt Nam 2010” cho thấy đang có sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam từ những việc làm trong ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp, đòi hỏi nhiều lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn, được đầu tư công nghệ và tài chính nhiều hơn. Cũng theo báo cáo trên do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội công bố ngày 24/1, ngành chiếm nhiều lao động nhất ở Việt Nam là ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản với gần 23 triệu lao động (năm 2008). Nhưng trong hầu hết các dự báo, việc làm trong ngành nông nghệp, lâm nghiệp và thủy sản có chiều hướng giảm và sẽ ở mức 21,1 triệu lao động vào năm 2020. Người lao động có trình độ và kỹ năng cao hơn sẽ là chất xúc tác cho quá trình chuyển đổi này, cũng như sự tăng trưởng thành công của Việt Nam trong vai trò là quốc gia có thu nhập trung bình. Các số liệu trong báo cáo cho thấy, trong giai đoạn 2007-2009, Việt Nam gặp nhiều thách thức do tác động của nền kinh tế toàn cầu bị suy giảm với những ảnh hưởng rõ rệt đến thị trường lao động. Báo cáo cũng chỉ ra một số xu hướng quan trọng về việc làm như Việt Nam đã đạt được các mục tiêu của Chương trình việc làm bền vững, đó là một yếu tố quan trọng để chống đói nghèo. Tỷ trọng việc làm dễ bị tổn thương giảm xuống 4,3% do sự gia tăng tỷ trọng lao động làm công ăn lương (2,9%) và gia tăng lao động tự làm (8,2%). Tuy nhiên, lại có sự gia tăng tỷ trọng lao động gia đình không được trả công (4,0%), đi ngược lại với xu hướng trên. Việt Nam cũng là nước có tỷ lệ việc làm tính trên dân số tương đối cao, ứng với gần 75% dân số từ 15 tuổi trở lên. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bất ổn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam đã giảm trong giai đoạn 2007-2009. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng đối với nam giới và nữ giới trong độ tuổi 15-19 (từ 37,1% năm 2007 lên 43,8% năm 2009) cho thấy đã có một lực lượng lớn thanh thiếu niên rời bỏ nhà trường để tìm việc kiếm sống và hỗ trợ gia đình. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đấy sản xuất phát triển Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế.Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng và thành phần kinh tế. Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ở nước ta là chuyển dich theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại – dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp). Xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây đã đem đến nhiều tác động tích cực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng được nội dung và yêu cầu cơ bản của quá trình chuyển dịch mà Đảng và Nhà nước đã đề ra - góp phần làm giảm tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp, đồng thời, làm tăng đáng kể tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong GDP. Trước tiên là vài nét về tình hình xuất khẩu năm 2008 Các sản phẩm đóng tầu thuyền, sản phẩm từ gang thép, cao su đều có mức tăng trưởng cao so với năm 2007 và là những mặt hàng có triển vọng tăng nhanh trong thời gian tới. Một số mặt hàng chủ lực tuy khối lượng xuất khẩu giảm nhưng do giá tăng mạnh trên thị trường thế giới nên trị giá vẫn tăng như dầu thô tăng 23,1%, than đá tăng 44%, cao su tăng 14,6%. Tựu chung, xuất khẩu cả năm đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5 % so với năm 2007, trong khi chỉ tiêu chỉ có 22%. Với tổng kim ngạch trên, bình quân một tháng năm 2008, xuất khẩu đạt được kim ngạch 5,25 tỉ USD, tương đương kim ngạch xuất khẩu cả năm 1995 (5,4 tỉ USD). Tổng kim ngạch xuất khẩu trên đã vượt xa mức dự định cho năm 2009, tiến gần mục tiêu vào năm 2010 trong “Đề án xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010”. Với tốc độ tăng nói trên, chỉ số tăng xuất khẩu năm nay gấp 4,7 lần so với tốc độ tăng GDP, trong khi năm 2007 chỉ có 2,6 lần. (Theo Tapchicongsan) Một số thống kê trong năm 2011 Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2011, dự kiến sẽ đạt khoảng 78 tỷ USD, tăng hơn 10% so với năm 2010, trong đó xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt khoảng 38 tỷ USD, chiếm khoảng 48,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 13 % so với năm 2010.  Thủy sản dự kiến kim ngạch đạt khoảng 6 tỷ USD; lượng gạo xuất khẩu 6,5 triệu tấn; cà phê 1,1 triệu tấn, cao su 800.000 tấn. Nhiều sản phẩm công nghiệp và nhóm hàng hóa mới sẽ có nhiều khả năng tăng trưởng nhanh trong giai đoạn tới do kết quả của quá trình thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm gần đây tăng mạnh (lĩnh vực điện tử, linh kiện điện tử, máy tính, sản phẩm cơ khí…) Trong năm 2010, nhóm mặt hàng hạn chế xuất khẩu như: khoáng sản, dầu thô… đã giảm trên 8,5% về giá trị so với cùng kỳ và xu hướng này sẽ còn tiếp diễn trong những năm tới. Trong khi đó, theo các chuyên gia, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong câu lạc bộ tỷ USD như: gạo, cà phê, thủy sản… đã tới ngưỡng nên việc nâng cao chất lượng, giảm dần số lượng sẽ làm đòn bẩy nâng kim ngạch xuất khẩu năm 2011. Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng: Mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2010 tăng hơn 16,6% so với năm 2009 nhưng do cách đặt mục tiêu xuất khẩu năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước nên dễ bị nhà nhập khẩu ép giá. Bởi vậy,  từ giai đoạn 2011-2015 sẽ phải thay thế lại cơ cấu xuất khẩu đó là xuất khẩu sẽ theo hướng xuất được nhiều tiền hơn nhưng sản lượng sẽ giảm xuống. (Theo VOVNews) Dựa trên những số liệu đã nêu của 2 năm 2008 và 2011, ta có thể đưa ra một vài nhận xét cơ bản về tác động chuyển dịch cơ cấu mà xuất khẩu mang lại, đồng thời cũng là định hướng đẩy mạnh xuất khẩu trong nước hiện nay như sau: Đặc biệt đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có kim ngạch lớn, có khả năng tăng trưởng cao. Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục được chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng xuất khẩu thô. Phát triển công nghiệp với giá trị gia tăng cao và công nghiệp hỗ trợ là khâu trung tâm trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta. Và phần công việc không kém phần khó khăn, phải đảm bảo ổn định nhập khẩu có kiểm soát các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; đưa ra các biện pháp chặt chẽ kiểm soát nhập khẩu những mặt hàng trong nước đã sản xuất được và các mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu, giảm dần nhập siêu”. Bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, truyền thống vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng, đã xuất hiện những mặt hàng tiềm năng có triển vọng tăng trưởng nhanh mà chưa gặp rào cản cũng như ngưỡng hạn chế nào. Bên cạnh việc khai thác tối đa thị trường trọng điểm, chúng ta vẫn tiếp tục giữ vững thị trường truyền thống, đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, giảm bớt thị trường trung gian, nhiêù chủng loại hàng hoá đã vào được các thị trường mới. Đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu vào thị trường châu Phi tăng tới 95% so với năm 2007. Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhậpvào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn. Cơ cấu lao động Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi. Cụ thể hơn, cơ cấu lao động theo ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực như sau: Tỷ trọng lao động nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản đã giảm (từ 73% năm 1990 xuống còn 71,3% năm 1995; khoảng 51,9% năm 2009 và năm 2010 khả năng còn dưới 51% gần đạt mục tiêu đề ra). Tỷ trọng lao động nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tăng liên tục (từ 11,2% năm 1990 lên 11,4%, lên khoảng 13,1% năm 2000, lên 18,2% năm 2005, lên 21,5% năm 2009). Tỷ trọng lao động nhóm ngành dịch vụ tăng liên tục và nhanh nhất (từ 15,8% năm 1990, lên 17,4% năm 1995, lên khoảng 21,8% năm 2000, lên 24,7% năm 2005 và lên 26,6% năm 2010). (Theo Chinhphu.vn) Mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước Quan hệ kinh tế đối ngoại ở đây được hiểu là tổng thể các mối quan hệ về thương mại, kinh tế và khoa học kĩ thuật giữa một quốc gia này với một quốc gia khác hay một tổ chức quốc tế. Như vậy trong quan hệ kinh tế đối ngoại đã bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như xuất nhập khẩu hàng hóa, đầu tư quốc tế, du lịch, dịch vụ (ví dụ: vận tải đường biển, hàng không, đường bộ, bảo hiểm, thanh toán quốc tế), xuất khẩu lao động… Qua đó cho ta thấy được mối quan hệ tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực hoạt động này nói chung và giữa hoạt động xuất khẩu với các lĩnh vực của kinh tế đối ngoại nói riêng. Hoạt động xuất khẩu với chức năng là kênh lưu thông hàng hóa giữa thị trường trong nước và thị trường ngoài nước là bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại. Nó tạo điều kiện thúc đẩy các lĩnh vực khác của quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển Đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia luôn có mối quan hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau trong đó đầu tư quốc tế bao gồm đầu tư của nước khác vào nước mình và đầu tư từ nước mình ra nước ngoài. Khi hoạt động xuất khẩu hàng hóa của một nước phát triển, các nhà đầu tư có thể thấy được tiềm năng, thế mạnh của nước này, uy tín của quốc gia trên thị trường quốc tế được nâng lên, nhờ vậy các nhà đầu tư càng có lòng tin hơn khi đầu tư, từ đó làm tăng dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam qua thời kỳ đổi mới đã tăng lên rất nhanh đặc biệt là mấy năm gần đây khi mà kinh tế Việt Nam nói chung, xuất khẩu Việt Nam nói riêng có những bước tiến mạnh mẽ. Đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài cũng tăng lên đáng kể nhờ một phần tác động của xuất khẩu hàng hóa. Thông qua hoạt động xuất khẩu hàng hóa, các nhà đầu tư Việt Nam có thể tìm hiểu được nhu cầu thị trường, môi trường đầu tư nươc ngoài, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư ra nước ngoài giúp cho hoạt động này dễ thành công hơn. Đây chính là hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa: xuất khẩu tư bản. Không những thế, xuất nhập khẩu còn đóng vai trò như một phương tiện quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế, thu hút dòng khách tới Việt Nam tham quan, tìm hiểu cơ hội làm ăn, thúc đẩy du lịch. Ngoài ra, xuất khẩu cũng góp phần phát triển các dịch vụ như vận tải giao nhận, thanh toán quốc tế, bảo hiểm… đây là những dịch vụ không thiếu một khi xuất khẩu hàng hóa phát triển mạnh. Những dịch vụ này phát triển đến lượt nó lại tác động, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa. Một khi những tiền đề về quan hệ thương mại được thiết lập, chúng ta sẽ nhanh chóng đi tới được những hiệp định thương mai song phương, đa phương, tiến tới việc gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, từ đó lại càng tạo điều kiện thúc đẩy thương mại hàng hóa nói chung, xuất khẩu nói riêng phát triển mạnh mẽ. Việt Nam trước năm 1990 mới chỉ có quan hệ thương mại với 40 nước mà đến nay đã có quan hệ thương mại với hơn 220 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước trong đó có Hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với EU (1992), Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (2001), tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã lần lượt trở thành thành viên và có những đóng góp quan trọng trong nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998)… Tháng 11/2006, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức thành công Hội nghị cấp cao Diễn đàn châu Á – Thái Bình Dương APEC. Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là ngày 7/11/2006, Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu sự hội nhập hoàn toàn của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu, mang đến những cơ hội to lớn về thương mại và đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam. Thức hiện nhất quán chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ, Việt Nam vẫn không ngừng mở rộng và phát triển từng bước đưa quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, nhất là với các nước láng giềng khu vực, các nước lớn, các trung tâm kinh tế chính trị quan trọng trên thế giới. Qua đây có thể thấy, xuất khẩu thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước và lại càng tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu phát triển. 2. Những tác động tiêu cực của xuất khẩu đến phát triển kinh tế của Việt Nam Xuất khẩu tăng trưởng chưa vững chắc ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Như đã trình bày ở trên, xuất khẩu của Việt Nam chiếm một tỉ lệ khá cao trong cơ cấu GDP, do đó, một sự biến động của xuất khẩu sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong việc kích tích tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực này, nó cũng gây ra một số hiệu ứng tiêu cực khác. Trong xu thế hội nhập thế giới, nền kinh tế Việt Nam không thể nào không hướng đến xuất khẩu.Tuy nhiên sự kỳ vọng quá nhiều vào thị trường thế giới đã mang lại không ít thất vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam khi kinh tế thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, lâm vào tình trạng bất ổn.Cuộc khủng khoảng kinh tế năm 2008 đã có những ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Việt Nam.Việc quay trở lại thị trường nội địa và 2 nước Lào, Campuchia đã giúp các doanh nghiệp xuất khẩu cầm cự qua thời gian khủng khoảng kinh tế toàn cẩu. Chính phủ Việt Nam cũng đã có chủ trương tăng cường xuất khẩu để giảm nhập siêu, khẳng định rõ ràng chiến lược phát triển dựa trên xuất khẩu của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên khi nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng, kim ngạch nhập khẩu cũng gia tăng nhanh chóng. Nhiệm vụ tăng xuất khẩu để giảm nhập siêu là một nhiệm vụ đầy khó khăn khi các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam cũng đang gặp nhiều khó khăn và thách thức. Khó khăn là bởi xuất khẩu ở Việt Nam tăng trưởng chưa vững chắc ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Tác động tiêu cực đầu tiên của xuất khẩu tới nền kinh tế Viêt Nam đó là các doanh nghiệp Việt Nam quá say sưa xuất khẩu, ít quan tâm đến thị trường trong nước, để cho hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường nội địa. Điều này cho thấy, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào thị trường bên ngoài, kém chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, nền kinh dễ bị tổn thường bởi các “cú sốc” từ bên ngoài và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong tương lai của Việt Nam. Cuộc khủng khoảng Tài chính tiền tệ Châu Á là một minh chứng cho điều này. Vụ kiện cá tra, cá basa của Việt Nam ở Mỹ cách đây 8 năm đã khiến cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm này gặp không ít khó khăn. Lúc này, doanh nghiệp mới nghĩ tớ việc hướng vào thị trường trong nước. Nhờ vậy, người tiêu dung trong nước, đặc biệt là người phía Bắc mới được biết đến mùi vị cá tra, cá bas a. Mặt khác, do mặt hàng này cũng có sẵn thương hiệu ở các nước phát triển nên người dân trong nước ngay lập tức sẵn sang tiếp nhận và sức tiêu thụ mặt hàng này tăng lên đáng kể. Chỉ tới lúc đó các nhà sản xuất và kinh doanh cá tra, cá bas a mới nhận ra sức tiêu thụ của thị trường trong nước đối với sản phẩm này và mới nghĩ tới việc quảng bá sản phẩm này tại thị trường trong nước. Một ví dụ khác nữa là hàng dệt may, một trong những mặt hàng chủ lực của xuất khẩu Việt Nam, mỗi năm kinh ngạch thu về vài ba tỉ USD nhưng tại thị trường trong nước, hàng nhập lậu lại hoàn toàn chiếm lĩnh. Những năm qua ngành dệt may tuy đã thành lập được các trung tâm thương mại thời trang, cửa hàng giới thiệu sản phẩm may mặc tại nhiều thành phố, khu đô thị lớn nhưng thị phần còn khiêm tốn. Những hang may mặc có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp như Nem, An phước, Ninomax… lại có giá đắt, không phù hợp với túi tiền hầu hết dân Việt Nam. Các hàng may mặc khác có giá rẻ thì mẫu mã không đẹp, không theo kịp xu hướng. 2 năm gần đây xuất hiện các chuỗi cửa hàng Made in Vietnam giá cả phải chăng, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp là điểm khởi sắc trong thị trường may mặc nội địa, người tiêu dung trong nước cũng được sử dụng sản phẩm tốt hơn mà giá cả rẻ hơn. Ta thấy nếu các doanh nghiệp có chiến lược đầu tư quảng bá, giới thiệu sản phẩm đối với thị trường trong nước, xây dựng cho mình một thị trường vững chắc thì chắc chắn sẽ hạn chế được những rủi ro từ thị trường nước ngoài Tác động tiêu cực thứ hai đó là xuất khẩu và sản xuất chưa thực sự gắn kết với nhau tạo sự mất cân bằng cung cầu, ảnh hưởng tới nền kinh tế. Các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ lo thu mua sản phẩm để xuất khẩu, không có trách nhiệm trong việc quy hoạch sản xuất dẫn đến tình trạng cung cầu mất cân bằng. Lại lấy ngành dệt may làm ví dụ. Việt Nam đang được xếp hạng ở mức 16/153 nước xuất khẩu dệt may của thế giới, kim ngạch xuất khẩu được đánh giá là lớn, tuy nhiên lợi nhuận ròng đem lại là rất thấp. Các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam phần lớn là các đơn vị nhận gia công cho nước ngoài. Một thực tế đó là các nguyên phụ liệu cho ngành này chủ yếu trông chờ vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ mới đáp ứng được một phần rất nhỏ: bông xơ sản xuất trong nước mới đảm bảo 5% nhu cầu, tơ sợi tổng hợp phải nhập 30%, vải cho công nghiệp may phải nhập 52%, nguyên phụ liệu nhập 34%... Hiện nay, Việt nam vẫn chưa dành một sự quan tâm đầu tư thích đáng vào sản xuất nguyên liệu cho ngành công nghiệp dệt. Cơ cấu thị trường xuất khẩu chưa thực sự hợp lý cũng gây tác động tiêu cực tới xuất khẩu từ đó gián tiếp tác động tới tăng trưởng: Xuất khẩu nếu như quá phụ thuộc vào một thị trường thì sẽ rất dễ bị ảnh hưởng khi thị trường đó có biến động.Những số liệu xuất khẩu của nước ta thời gian sau khi các nước Đông Âu sụp đổ, sau cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu Á, và sau sự kiện cuộc khủng bố 11/9/2001 ở Mỹ là những minh chứng rất rõ cho điều này. Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian vừa qua khá hợp lý, tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát ta thấy: xuất khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thị trường châu Á (khoảng trên 50%) và đang có xu hướng dịch chuyển mạnh sang thị trường Hoa Kỳ, ít quan tâm đến các thị trường khác. Do đó, mỗi khi có sự biến động của các thị trường châu Á hay Mỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu của Việt Nam và làm cho nền kinh tế tăng trưởng kém bền vững.Hơn nữa, các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là các nước ở Đông – Nam Á có cùng lợi thế cạnh tranh với nhiều hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.Vì vậy, khả năng tăng xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường này là có giới hạn. TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đề nghị cần có cái nhìn thẳng thắn vào sự thật để thấy rằng, xuất khẩu của chúng ta trong giai đoạn vừa qua phát triển không bền vững, cơ cấu xuất khẩu chậm chuyển biến: “Qua từng ấy năm mà vẫn xuất khẩu sản phẩm nông lâm, thô…Cứ đà lạm phát như hiện nay, tôi cho rằng, 5 năm tới xuất khẩu dệt may của chúng ta sẽ không thể cạnh tranh với Bangladesh, Malaysia…Lý do là vì chúng ta đã ký hợp đồng từ mấy tháng trước và với sự tăng vọt của mức chi tiêu nội địa, mất ổn định vĩ mô thì xuất khẩu dệt may chắc chắn sẽ bị đe doạ”, ông Doanh lấy ví dụ. Theo vị Tiến sĩ kinh tế này, sự thiếu bền vững trong xuất khẩu là một trong những minh chứng cho thấy tuy Việt Nam đã hội nhập nhưng đó là sự hội nhập thụ động.“Chúng ta không có những sự lựa chọn chủ động.Đó là điều hết sức nguy hiểm”, ông Doanh nhận định. Có thể nói Việt Nam đang chuyên môn hóa vào “các thị trường đang đi xuống” – khi mà xuất khẩu của Việt Nam vượt quá tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của các thị trường này, trong đó đáng chú ý là thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức,Anh và Italia.Trong khi đó, Việt Nam đang giảm thị phần đối với các thị trường đang phát triển mạnh mẽ như Trung Quốc, Singapore hay Hà Lan và Hàn Quốc, nơi mà tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn khả năng nhập khẩu của các quốc gia này. Biến động thị trường Nhật đã khiến nhiều doanh nghiệp nghĩ đến việc thay đổi thị trường xuất khẩu. Những diễn biến bất lợi tại Nhật, thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong nhiều năm qua, do thảm họa động đất - sóng thần, khiến nhiều doanh nghiệp bắt đầu nghĩ đến việc điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu, nhằm giảm thiểu những khó khăn ở thị trường này. Bên cạnh đó, phải đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe hơn ở thị trường châu Âu và Mỹ. Hai thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam là Mỹ và EU ngày càng “khó tính”, bằng những rào cản phi thuế quan, tiêu chuẩn nhập khẩu khắt khe hơn. Các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước cần sớm nắm bắt những quy định mới này. Theo ông Lê Văn Đạo, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), ngoài những vấn đề về chất lượng, giá cả, năm 2011, các nhà nhập khẩu EU sẽ nhập khẩu hàng hóa có chọn lọc hơn. Chẳng hạn sản phẩm nhập khẩu vào EU phải đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, các chất độc hại không được dùng trong sản xuất hàng may mặc theo quy định EU, áp dụng tiêu chuẩn về an toàn đối với các sản phẩm dùng cho trẻ em. Ngoài ra, doanh nghiệp xuất khẩu buộc phải tuân thủ những quy định về ghi nhãn mác, môi trường (xử lý nước thải), trách nhiệm xã hội... mới có thể xuất khẩu vào thị trường này. Mỹ là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.Thị trường này cũng có những thay đổi quan trọng trong năm 2011, gây khó khăn và trở ngại cho hàng xuất khẩu trong nước.Theo ông Nguyễn Duy Khiên, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Mỹ thuộc Bộ Công Thương, kinh tế Mỹ phục hồi chậm, tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao, sức mua của thị trường này có thể giảm sút trong năm nay. Bên cạnh đó, đang có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất nội địa và các quốc gia xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Chính sách bảo hộ của Mỹ như đạo luật Farm Bill cho mặt hàng thủy sản, Lacey cho sản phẩm gỗ... sẽ tiếp tục gây khó khăn cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, để duy trì sức mua của thị trường này, doanh nghiệp cần có những chiến lược dài hạn dựa trên việc đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng tăng trưởng cao nhưng chiếm thị phần thấp ở Mỹ. Quan trọng hơn, doanh nghiệp nên tìm ra những phân khúc thị trường mới thông qua cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài. Ngoài ra, chất lượng hàng xuất khẩu kém và quy mô xuất khẩu còn nhỏ cũng là những yếu tố góp phần ảnh hưởng xấu tới xuất khẩu của nước ta trong tương lai và cũng là những vấn đề cần được xem xét. Tác động xấu tới tài nguyên thiên nhiên môi trường Tác động của xuất khẩu tới nguồn tài nguyên thiên nhiên Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của VN từ lâu đã là một vấn đề được Nhà nước quan tâm. Trong thời kì đổi mới, chúng ta đã có nhiều chính sách thúc đẩy cơ cấu này chuyển dịch theo hướng tích cực tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch còn chậm, cho đến nay, vẫn chưa có sự thay đổi nào được xem là đáng kể. Trong cơ cấu này, tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản luôn chiếm một tỷ trọng khá cao, nhiều năm gần đây đã giảm nhưng vẫn duy trì trên mức 20%. Điều đáng nói đó là các mặt hàng này được xuất khẩu dưới dạng thô, không qua chế biến nên giá trị gia tăng thấp hơn rất nhiều. Mặt hàng khoáng sản và nguyên liệu xuất khẩu chủ yếu là dầu thô và than đá. Trong chiến lược Khai thác than được Chính phủ phê duyệt ngày 29/11/2003, sản lượng khai thác trong năm 2005 chỉ được 16-17 triệu tấn, năm 2010 là 22-24 triêu tấn và năm 2020 là 29-30 triệu tấn. Vậy mà tính riêng trong năm 2006, ngành than đã khai thác hơn 30 triệu tấn, trong đó xuất khẩu 16 triệu tấn, với lập luận rằng, do giá than trong nước thấp, nên lấy xuất khẩu để bù lỗ lượng than tiêu thụ trên thị trường trong nước. Nếu như trong tương lai, tăng trưởng của Việt Nam vẫn tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu tài nguyên và nhiên liệu như hiện nay thì kinh tế Việt Nam có nhiều nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi mà nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt dần và đặc biệt sẽ cạn kiệt một cách nhanh chóng khi chúng ta không có kế hoạch khai thác và sử dụng một cách hợp lý. Một thực trạng trong ngành khai thác khoáng sản xuất khẩu đó là việc khai thác một các bất chính của các tổ chức, cá nhân.Tình hình này trước đây đã rộ lên và được các cơ quan chức năng đôn đốc, gần đây có phần yên ắng.Tuy nhiên, chính quyền địa phương vẫn cần phải đặt nhiều chú ý hơn khi mà hiện nay, giá của các mặt hàng như dầu mỏ, than đá trên thế giới cũng như trong nước đang tăng cao. Hiện tại, chúng ta cũng đã đưa ra các chiện lược sủ dụng nguồn tài nguyên, Nhà nước cũng đã có rất nhiều biện pháp nhằm hạn chế lượng xuất khẩu tài nguyên khoáng sản. Đến năm 2010, phấn đấu giảm tỷ lệ xuất khẩu nhóm hàng khoáng sản và nguyên liệu xuống còn 9,6%.. Tác động của xuất khẩu tới môi trường Xuất khẩu Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới và đặc biệt trong những năm gần đây liên tục được đẩy mạnh. Và do mục đích khai thác tài nguyên cũng như sản xuất sản phẩm để xuất khẩu, nhằm đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, đạt được lợi nhuận cao, nhiều doanh nghiệp đã bất chấp tất cả, không quan tâm tới vấn đề môi trường, khiến cho tình trạng ô nhiễm hiện nay càng trở nên trầm trọng hơn. Ngành thủy, hải sản là một minh chứng điển hình. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 10 nước có kim ngạch xuất khẩu thủy sản đứng đầu thế giới. Song do kỹ thuật và công nghệ khai thác, chế biến, nuôi trồng thủy sản lạc hậu, công tác quản lý còn yếu kém nên đã và đang làm suy thoái môi trường ven biển, dẫn đến nguồn lợi thủy sản gần bờ ngày càng cạn kiệt một cách nhanh chóng. Theo báo cáo của Hội khoa học kĩ thuật biển Việt Nam thì khoảng hơn 70% các chất ô nhiễm từ nguồn lục địa thải ra vùng cửa sông và ven biển, sau đó các chất nguy hại này bị tích lũy lại với hàm lượng ngày càng cao tại ven bờ. Theo các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia, ở những khu vực lân cận thuộc các cảng biển, tỷ lệ nước biển ở đây ô nhiễm dầu, mỡ đều vượt chuẩn cho phép. Chẳng hạn như Đà Nẵng 24,6 mg/lít, Ninh Thuận 18,1 mg/lít, Phú Yên 14,7 mg/lít, Khánh Hòa 14,6 mg/lít… đó là chưa kể đến những vụ tai nạn tràn dầu ra biển hàng chục nghìn tấn, bình quâ nước ta mỗi năm xảy ra từ 5-7 vụ tai nạn tràn dầu như thế. Ô nhiễm môi trường ven biển gia tăng, cộng thêm phương pháp đánh bắt theo lối hủy diệt như dùng hóa chất độc hại, sử dụng chất nổ, lưới mắt nhỏ, khai thác tôm cá trái vụ… đang làm giảm mạnh chất lượng hệ sinh thái biển. Trong đó 17 loài cá biển, 57 loại cá nước ngọt có nguy cơ tuyệt chủng; các rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn dần biến mất mà nguyên nhân ở đây là do việc phát triển kinh tế một cách tràn lan không có kế hoạch ở các vùng ven biển và trên lưu vực các con sông gây ra. Cũng do nuôi trồng thủy sản ở nước ta phát triển theo lối tự phát, thiếu hẳn quy hoạch vững bền, nên nó vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm của tình trạng ô nhiễm. Bởi hầu hết những vùng nuôi trồng thủy sản đều không có hệ thống thủy lợi hoặc hệ thống xử lý chất thải dư thừa, làm cho những chất độc này đọng lại,hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp, lượng chất hữu cơ tăng lên, chất sunphuahydro vượt ngưỡng cho phép hàng chục lần. và chất lượng môi trường nuôi trồng bị giảm đi một cách nghiêm trọng. Chỉ sau một năm sử dụng, các đầm, ao nuôi thả thủy sản đều giảm năng suất rõ rệt, đồng thời gây bùng phát các dịch bệnh làm cho vật nuôi chết hàng loạt trên phạm vi rộng lớn. Hàng vạn hộ gia đình ven biển Cà Mau, Phú Yên, Đà Nẵng, Khánh Hòa… thua lỗ nặng nề, nợ nần chồng chất, không ít hộ buộc phải bỏ hoang phá đầm, ao do họ không thể xử lý đc nguồn nước nuôi trồng bị ô nhiễm nặng.Hoặc trong hoạt động khai thác than, việc nước thải mỏ thải ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước xung quanh cũng là một vấn đề nổi cộm đang được nhiều người quan tâm. Nếu chúng ta không kịp thời có những biện pháp bảo vệ và quản lý một cách hợp lý thì tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng kéo dài đến một lúc sẽ không những ảnh hưởng tới tình hình kinh tế mà còn kéo theo ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân. CHƯƠNG 3 Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực của xuất khẩu đến phát triển kinh tế của Việt Nam 1. Phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực Khoa học công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và trong đẩy mạnh xuất khẩu nói riêng. Khoa học công nghệ phổ biến hơn trong các ngành từ sản xuất đến xuất khẩu sẽ giúp nước ta nâng cao được năng suất, tiết kiệm được các chi phí không cần thiết và thời gian, từ đó hiệu quả sản xuất cũng như xuất khẩu sẽ được nâng cao. Trong xuất khẩu, khoa học công nghệ giúp các bên tham gia vào thương mại tiến hành việc tìm hiểu đối tác tiến tới thương lượng và mua bán một cách dễ dàng , giúp đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập khẩu khi áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí xuất nhập khẩu,… Chính vì vậy, việc phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ hơn nữa trong các nhành sản xuất và xuất khẩu sẽ góp một phần lớn nâng cao hiệu quả sản xuất trên thị trường cả về chất lượng lẫn giá thành, giúp đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển kinh tế một cách bền vững hơn. Để tạo điều kiện cho khoa học công nghệ phát triển, Nhà nước cần tạo lập một thị trường cho khoa học công nghệ và có các chính sách ưu đãi về thuế, về tín dụng để khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần lập thêm những quĩ hỗ trợ cho khoa học công nghệ đẩy nhanh quá trình phát triển của ngành khoa học công nghệ của Việt Nam, bắt kịp trình độ phát triển của thế giới. Với cơ cấu xuất khẩu như nước ta hiện nay, điều cần thiết phải làm là tập trung đầu tư có chọn lọc khoa học công nghệ cho các ngành sản xuất các mặt hàng công nghiệp để sản xuất và đầu tư phát triển khoa học công nghệ cho ngành công nghiệp chế biến, góp phần nâng cao tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp trong cơ cấu hàng xuất khẩu đồng thời nâng cao giá trị tăng thêm cho các sản phẩm nông sản – một trong những thế mạnh của nước ta. Ngoài ra, tăng cường ứng dụng những thành tựu ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật trong công tác hành chính, giúp đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho cả Nhà nước lẫn doanh nghiệp xuất khẩu. Đi đôi với khoa học công nghệ, việc phát triển nguồn nhân lực cũng là một điều không thể thiếu. Khi trang thiết bị máy móc thiết bị hiện đại cho sản xuất pahir nghĩ tới những cán bộ kỹ thuật giỏi và công nhân lành nghề có thể điều khiển được các trang thiết bị máy móc đó. Hiện nay, nước ta rất thiếu cán bộ kĩ thuật và công nhân kĩ thuật có tay nghề cao. Do đó khả năng cạnh tranh quốc tế hóa chưa cao. Để khắc phục tình trạng này Việt Nam cần tổ chức nhiều chương trình đào tạo chuyên sâu cho các cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật thuộc các lĩnh vực để tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề trong các ngành chế tạo, sản xuất chế biến. Trong đó, cần cập nhật chương trình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường.Bên cạnh đó, cần gắn bó chặt chẽ việc đào tạo với cơ sở sản xuất với nhiều hình thức hiệu quả, thích hợp. Đồng thời Việt Nam nên tăng cường hợp tác quốc tế trong sản xuất và trong đào tạo nguồn nhân lực với nhiều hình thức phong phú như: có thể kết hợp đưa công nhân đi đào tạo, có thể tranh thủ các nguồn tài trợ, các dự án của các tổ chức quốc tế, các công ty nước ngoài hoặc mời các chuyên gia sang đào tạo,…từ đó vừa tận dụng được khoa học công nghệ của nước bạn, vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nước mình. Ngoài việc chú trọng đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật, Việt Nam cần phải quan tâm đào tạo để có đội ngũ cán bộ thương mại giỏi hỗ trợ đắc lực trong việc đưa sản phẩm có chất lượng cao thâm nhập được vào mọi thị trường, kể cả các thị trường khó tính của thế giới. Trong việc phát triển nguồn nhân lực cho xuất khẩu, chúng ta nên chú ý đào tạo ứng dụng các kỹ năng nghiên cứu thị trường, marketing, kỹ năng đàm phán quốc tế, nghiệp vụ kỹ thuật ngoại thương, nâng cao trình độ ngoại ngữ, ứng dụng tin học, nâng cao tay nghề, nâng cao hiểu biết về pháp luật kinh tế quốc tế và của các nước… Việc đào tạo này cần được phát triển theo hai hướng, trước mắt, đối với người lao động cần thuần thcuj về kỹ năng và chuyên môn hóa sâu. Mặt khác, phải chú trọng đặc biệt tới đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, có khả năng ứng dụng và tích hợp khoa học công nghệ của nhân loại cho phát triển của Việt Nam về lâu dài. Bên cạnh vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, chúng ta cần phải chú ý tới vấn đề lương bổng và chế độ đãi ngộ đối với cá nhân tài.Hiện nay, ở ngay trên đất nước chúng ta đang xảy ra tình trạng chảy máu chất xám. Rất nhiều cán bộ, kỹ sư giỏi đều bị thu hút vào các công ty nước ngoài vì ở đó họ nhận được nhiều quyền lợi hơn. Chúng ta nên có biện pháp thu hút đội ngũ trí thức và duy trì được một đội ngũ nhân lực chất lượng cao đó trong công cuộc xây dựng tổ quốc, bao gồm cơ chế chính sách, sự khuyến khích về tài chính và tinh thần như đãi ngộ về lương bổng, thuế, nhà cửa và các giải thưởng…Ngoài ra chúng ta cần tạo điều kiện để khai thác tối đa tiềm năng khao học kỹ thuật của đội ngũ các nhà khoa học cũng như các quản lý giỏi. 2. Tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp và một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực giúp đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Cơ cấu xuất khẩu của nước ta hiện nay vẫn còn đang rất lạc hậu và mặc dù trong nhiều năm qua đã có những chuyển dịch theo hướng tích cực tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm. Cơ cấu xuất khẩu của nước ta chủ yếu vẫn phụ thuộc vào mặt hàng khoáng sản, các sản phẩm nông lâm, thủy sản; các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu thì chủ yếu vẫn mang tính chất gia công, giá trị gia tăng không cao nên thu lợi nhuận về so với các nước trên thế giới còn thấp..Do đó, việc cần thiết cho Việt Nam là phải có một chiến lược tập trung đầu tư cho sản xuất hàng công nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu ngành hàng này. Không chỉ đơn thuần giúp chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, khi chúng ta tập trung phát triển có kế hoạch cho ngành công nghiệp như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH cũng sẽ được thúc đẩy diễn ra nhanh hơn. Từ việc tập trung cho đầu tư sản xuất hàng công nghiệp chúng ta có thể xây dựng một cơ cấu mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực vừa lớn về quy mô từng mặt hàng, vừa phong phú về chủng loại nhưng lại theo đúng định hướng hiện đại tiên tiến. Cụ thể: Trước mắt, theo đúng định hướng của chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, cần tập trung đầu tư phát triển mạnh các ngành công nghiệp đang có lợi thế cạnh tranh, có thị trường và giải quyết nhiều lao động nhất đó là ngành công nghiệp chế biến như chế biến nông – lâm – thủy sản, chế biến thực phẩm, gia công cơ khí, lắp ráp điện tử, vật liệu xây dựng…Ngành công nghiệp chế biến phát triển mạnh sẽ giúp nâng cao giá trị tăng thêm trong các sản phẩm nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đem lại lợi nhuận xuất khẩu cao hơn, giúp giảm tỉ trọng hàng thô sơ chế trong cơ cấu xuất khẩu, sẽ nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế.Ngoài ra nhà nước cũng cần phải có những chính sách khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư trong avf ngoài nước đầu tư vào những ngành này. Tăng cường liên kết công nghiệp trong đó chú trọng phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ. Các nhà đầu tư nước ngoài khi đâì tư sản xuất tại Việt Nam luôn mong muốn Việt Nam có một ngành công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh để hỗ trợ cho họ. Chính vì vậy, ngành này đóng góp một vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Đối với các ngành lắp ráp phương tiện vận tải, điện tử, dệt may thì công nghiệp hỗ trợ lại càng không thể thiếu và góp phần giảm giá thành đáng kể cho doanh nghiệp. Tuy nhiên thực trạng phát triển của ngành này ở nước ta rất đáng buồn. Tuy so với mấy năm trước, ngành này cũng tiến bộ đôi chút song sản phẩm vẫn đơn giản, thô sơ và chất lượng cũng không cao. Đầu tư phát triển những ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm truyền thông, tạo mốt, thương mại, quảng cáo..Đây là một ngành có khả năng phát triển nhanh hơn rất nhiều so với các ngành công nghiệp chế tạo; nhất là khi đầu tư nguồn lực cho công nghiệp sáng tạo không quá lớn, chủ yếu là đầu tư trí óc nhưng lại đem lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt khi đã có thương hiệu. Thêm vào đó, khi những ngành này phát triển mạnh sẽ nâng cao hình ảnh của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, tạo điều kiện cho hàng Việt Nam tiếp cận được những thị trường tiềm năng trên toàn thế giới. 3. Nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam Nhằm nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam, bên cạnh các biện pháp đầu tư cho khâu sản xuất như đầu tư về công nghệ và nhân lực, quy hoạch sản xuất các sản phẩm đầu vào, chúng ta cũng cần phải có được một hệ thống tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng sản phẩm. Các thị trường các nước đang phát triển ngày càng có những đòi hỏi cao hơn về sản phẩm. Chính vì vậy, để thâp nhập được vào các thị trường khó tính này, chúng ta cần xây dựng và áp dụng một hệ thống tiêu chuẩn để kiểm tra chất lượng sản phẩm một cách đồng bộ đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng đòi hỏi phải khác nhau thì sản phẩm thâm nhập vào từng thị trường phải đáp ứng được từng hệ thống kiểm tra chất lượng khác nhau. Chính phủ cũng cần có những biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các hệ thống kiểm tra chất lượng sản phẩm tùy vào từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như HACCP, ISO9000, ISO14000, SA8000…để việc thâm nhập các thị trường trở nên dễ dàng hơn. Như đã phân tích ở trên, cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam tuy đã có những chuyển biến tích cực trong thời gian qua tuy nhiên vẫn chưa hợp lí. Trong thời gian tới, để tránh rủi ro xuất khẩu khi phụ thuộc quá nhiều vào các thị trường truyền thống, chúng ta cần phải tiến hành đa dạng hóa thị trường, một mặt tiếp tục duy trì và mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc như Châu Á, Châu Âu… Mặt khác tích cực thâm nhập, mở rộng, khai thác tốt hơn các thị trường mới có nhiều tiềm năng như thị trường Trung Đông, Châu Phi….tiến tới giảm dần tỷ trọng thị trường Châu Á, tăng dần tỷ trọng của các thị trường Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Phi, Châu Đại Dương… Đối với từng thị trường, ngoài việc phát triển các mặt hàng chủ lực nhằm chiếm lĩnh thị trường, chúng ta cần phải đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu vào thị trường đó. Bên cạnh đó, chúng ta phải tiếp tục duy trì và phát triển kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng quen thuộc. Cần đặc biệt chú trọng xây dựng và phát triển trị trường xuất khẩu cho các mặt hàng công nghiệp, một trong những mặt hàng mà chúng ta muốn tăng tỷ trọng trong cơ cấu xuất khẩu, từ đây sẽ có những tác động tích cực tới cơ cấu xuất khẩu, giúp cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa nhanh hơn. 4. Tăng cường các mối quan hệ hợp tác kinh tế và đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Hoạt động xúc tiến xuất khẩu sang các thị trường xuất khẩu là công việc chính của doanh nghiệp, tuy nhiên sự hỗ trợ của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và quan trọng Hỗ trợ của nhà nước trong công tác xúc tiến xuất khẩu sang các trị trường Nhà nước cần đẩy mạnh việc phát triển thị trường thông qua việc tăng cường các mối quan hệ hợp tác kinh tế, đàm phán, ký kết các hiệp định, thỏa thuận thương mại song phương và đa phương với nhiều quốc gia, khu vực, tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia hội chợ việc làm hoặc hội thảo chuyên đề thị trường giúp các doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp thị trường, trực tiếp tìm hiểu nhu cầu của thị trường và trực tiếp giao dịch với các nhà nhập khẩu chính của thị trường ví dụ như tổ chức cho các đoàn thương mại đi khảo sát thị trường, mở showroom, website, tham gia các triển lãm, hội chợ…hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc xúc tiến và tiếp cận thị trường. Trong các chuyến viếng thăm hữu nghị hay đàm phán các hiệp định thương mại với các quốc gia, khu vực, nên mang theo các đoàn doanh nghiệp theo tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận tìm hiểu thị trường. Đẩy mạnh công tác dự báo thị trường và xúc tiến thương mại trên quy mô lớn hơn: Công tác thị trường bao giờ cũng là một trong những khâu quan trọng nhất bao gồm nhiều kỹ thuật phức tạp đòi hỏi nhiều chi phí.Bên cạnh các nỗ lực của doanh nghiệp, Chính phủ cần chú trọng nhiều hơn đến công tác xúc tiến thương mại ở cấp độ quốc gia, ngành sản xuất, vùng sản xuất từ đó hỗ trợ thêm cho doanh nghiệp. Công tác dự báo, thông tin thị trường cũng cần phải được tăng cường và nhanh chóng hơn. Việc các cơ quan nghiên cứu của Chính phủ, các tổ chức xúc tiến thương mại cung cấp kịp thời các dự báo về xu hướng tiêu dùng, tình hình thị trường là một yếu tố hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc lập và điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh linh hoạt theo các thay đổi của môi trường kinh doanh, tránh tình trạng sản xuất thừa dẫn đến việc giá các sản phẩm bị kéo tụt gây thua lỗ cho doanh nghiệp sản xuất. Ngoài ra, việc phổ biến, tư vấn luật pháp, tập quán thương mại, các chính sách, lộ trình hội nhập quốc tế của quốc gia…cũng là một đòi hỏi cấp thiết của doanh nghiệp hiện nay. Chính phủ nên hỗ trợ thêm cho doanh nghiệp trong vấn đề này bằng cách hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu trang Web chủ của các Bộ ngành, tăng cường phát hành các tài liệu theo chuyên đề… Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam sang các thị trường xuất khẩu Cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, các doanh nghiệp cũng cần phải chủ động tích cực trong công tác xúc tiến xuất khẩu Ngoài việc chú trọng nâng cao chất lượng và tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cũng cần phải nang cao năng lực tiếp thị, tích cực thực hiện hoạt động quảng bá sản phẩm của mình tới các thị trường, tăng cường xúc tiến xuất khẩu. Chủ động tìm kiếm đối tác chào hàng thông qua việc tham gia hội chợ, triển lãm và hội thảo chuyên đề tổ chức tại Việt Nam hoặc tại các thị trường xuất khẩu, hoặc thông qua tham tán thương mại của Việt Nam tại các nước và qua văn phòng các nước tại việt Nam. Tìm hiểu và nghiên cứu thị trường về mọi mặt cũng như thông tin về các đối tác thương mại bằng cách trực tiếp hoặc thông qua phòng thương mại các nước tại Việt Nam, phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cục xúc tiến thương mại bộ thương mại…Đây là những cơ quan có thể cung cấp cho các doanh nghiệp nguồn thông tin hết sức hữu ích, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thông tin, tránh được rủi ro có thể gặp phải khi doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu về thị trường, nhất là các doanh nghiệp nhỏ. Các nghiệp vụ marketing cũng cần được nghiên cứu, nâng cao và ứng dụng một cách triệt để, hiệu quả nhất để phát hiện nhiều mặt hàng mới có khả năng tiêu thụ tại các thị trường và lên kế hoạch thâm nhập thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải duy trì củng cố uy tín của hàng hóa Việt Nam đối với người tiêu dùng trong từng thị trường xuất khẩu bằng các cách khác nhau như tổ chức các hoạt động dịch vụ trước và sau bán hàng… 5. Hoàn thiện hành lang pháp lí tạo điều kiện tối đa cho xuất khẩu Trở thành một thành viên chính thức của WTO cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam chính thức gia nhập sân chơi chung của thế giới, trong đó, Việt Nam phải đảm bảo được một hệ thống chính sách, cơ chế phù hợp với những yêu cầu, nguyên tắc chung và thông lệ quốc tế, đảm bảo được sự công bằng hợp lí. Vì vậy, chúng ta cần rà soát lại hệ thống luật lệ, điều chỉnh các quy định không phù hợp hoặc chưa rõ ràng để từ đó có thể cân nhắc xóa bỏ đi những qui định bất lợi, đưa ra được những qui định có lợi cho doanh nghiệp trong nước nhưng vẫn không vi pahmj nguyên tắc của WTO. Cụ thể hơn, chúng ta nên tăng cường cử dụng các công cụ phi thuế “hợp lệ” như hàng rào kỹ thuật, hạn ngạch, thuế quan, thuế tuyệt đối, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp; khắc phục triệt để những bất hợp lí trong chính sách bảo hộ… Ngoài ra chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại, phấn đấu tạo môi trường thông thoáng, minh bạch, dễ tiên đoán và ổn định môi trường, tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp yên tâm bỏ vốn đầu tư lâu dài. Để thực hiện chủ trương cải cách hành chính, ngoài việc ban hành, bỏ sung các quy chế, quy trình tác nghiệp chúng ta cần tổ chức lại bộ máy làm việc, thiết lập kỉ cương nghiêm đối với người thực hành, cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin, tạo thuận lợi cho hàng hóa lưu trong kho bãi, trên đường vận chuyển, qua cửa khẩu nhằm giảm chi phí, tiền bạc, thời gian của doanh nghiệp. KẾT LUẬN Bằng sự tìm tòi nghiên cứu của các thành viên trong nhóm, bài tiểu luận đã được trình bày xong với đề tài mang tên: Những tác động của xuất khẩu đến sự phát triển Kinh tế ở Việt Nam trong những năm 2008 đến nay. Qua những số liệu, bảng biểu, phân tích trong bài tiểu luận, chúng ta có thể thấy được rõ nét hơn mối quan hệ không thể tách rời giữa hoạt động xuất khẩu đến nền kinh tế của Việt Nam. Thực tế trong những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu đã góp phần không nhỏ trong quá trình ổn định xã hội, phát triển kinh tế trong nước, tăng cường giao lưu hợp tác với thị trường quốc tế. Tuy nhiên, nếu Nhà nước, mỗi nhà doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân những người sản xuất không biết cách điều hoà, quản lý nguồn nguyên vật liệu theo quy tắc kinh tế bền vững sẽ gây ảnh hưởng vô cùng to lớn đến môi trường sống của chúng ta. Giải pháp thực sự cho vấn đề này không phải chỉ nằm ở chính sách do Chính phủ nhà nước ban hành, mà phải được quán triệt trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những tổ chức, doanh nghiệp,... trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nguồn hàng xuất khẩu của nước ta. Nắm rõ được những tác động tích cực cũng như tiêu cực của xuất khẩu đến nền kinh tế là một nhiệm vụ rất quan trọng vì qua đó chúng ta sẽ đưa ra được những quyết định kinh doanh sản xuất phù hợp, biến hoạt động xuất khẩu thành một công cụ kinh tế đắc lực, vừa đem lại lợi nhuận, vừa đẩy mạnh sự phát triền kinh tế xã hội. Điều này còn góp phần tằng cường các mối quan hệ hợp tác kinh tế và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đem lại vị thế cho Việt Nam trên thị trường thế giới.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxNhững tác động của xuất khẩu đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay.docx