Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Bài tập học kỳ môn luật hôn nhân và gia đình

Gia đình - hạt nhân cốt lõi của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình lại càng tốt hơn. Sự tác động và chi phối lẫn nhau giữa gia đình và xã hội được khẳng định rõ nét trong hôn nhân. Bởi lẽ, nền tảng vững chắc để xây dựng gia đình chủ yếu là xuất phát từ quan hệ hôn nhân. Ngày nay, trong xu thế hội nhập - quốc tế hoá ngày càng được mở rộng thì hòa vào sự phát triển của nền kinh tế, quan hệ hôn nhân cũng được hình thành dưới nhiều góc độ khác nhau của xã hội, dựa trên những nguyên tắc nhất định. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trên cơ sở nguyên tắc tiến bộ, một vợ , một chồng bình đẳng. Cơ sở thiết lập quan hệ hôn nhân hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia, chịu tác động và chi phối bởi các yếu tố nước ngoài. Do tính chất phức tạp vốn có của quan hệ này, nhà nước đã kịp thời thừa nhận và bảo vệ bằng cách thông qua hình thức ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh và có những sửa đổi bổ sung để hoàn thiện nội dung của chế định trên thực tế.

doc38 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 27/02/2013 | Lượt xem: 4256 | Lượt tải: 22download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Bài tập học kỳ môn luật hôn nhân và gia đình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hể các tình trạng này được minh họa rõ nét trong hôn nhân. Hôn nhân ngày nay được thương mại hóa chính các chủ thể trong quan hệ đó. Được hình thành trên cơ sở tình yêu hầu như chiếm một tỷ lệ rất ít, thay vào đó là kết hôn để đạt được lợi ích kinh tế trước mắt. Hạnh phúc gia đình được đem ra mua bán trao đổi bằng những khoản tiền. Phổ biến là người phụ nữ do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, muốn thay đổi cuộc sống bằng việc kết hôn với người nước ngoài, họ sẵn sàng chấp nhận các cuộc hon nhân này dù không có tình yêu hay chênh lệch tuổi tác, người chồng bị dị tật…. 2.2.4. Thứ tư, kết hôn dưới tác động của hoạt động môi giới. Thực trạng đang tồn tại của hoạt động môi giới bất hợp pháp là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng tiêu cực đến đến kết hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay. Trước hết môi giới xuất hiện do nhu cầu khách quan của chính các chủ thể đăng ký kết hôn. Về bản chất hoạt động này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các bên nam nữ trong và ngoài nước tìm hiểu tiếp xúc lẫn nhau. Chỉ riêng hoạt động của hình thức này đã làm tăng đáng kể các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài trên thực tế. Một số cá nhân là tổ chức đã lợi dụng việc môi giới để kiếm lợi nhuận bằng chính thủ đoạn gian dối nhưng về hình thức lại là hợp pháp. Điều này đã đưa đến hậu quả sau hôn nhân đã làm ảnh hưởng đến các bên trong quan hệ đặc biệt là người phụ nữ. Nhìn theo một hướng khác, môi giới có thể dẫn đến hạnh phúc gia đình nếu các bên đến với nhau bằng tình yêu chân chính và vì mục đích tốt đẹp của hôn nhân. Nhưng ngược lại, phần đông các cuộc hôn nhân hiện nay chịu ảnh hưởng từ các yếu tố khách quan, chủ quan từ bên ngoài mà trong đó có việc giới thiệu về lợi ích tốt đẹp khi kết hôn với người nước ngoài của các đối tượng môi giới. Đây cũng là nguyên nhân của tình trạng các cặp vợ chồng chung sống với nhau chỉ trong một thời gian ngắn và sau đó là ly hôn, nền tảng của gia đình không được đảm bảo. 2.2.5. Thứ năm, về mặt pháp lý. Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên cơ sở những phát sinh thay đổi từ thực tế cuộc sống. Đây không chỉ đơn thuần mang tính chất nội bộ của vùng miền mà có liên quan đến vấn đề quốc gia dân tộc , mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trên thế giới nhà nước đã xây dựng một hành lang pháp lý cụ thể cũng là nguyên nhân thúc đẩy và làm phát sinh tình trạng kết hôn có tính chất nước ngoài. Bởi pháp luật được đặt ra không chỉ là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội mà còn là một trong những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân tại quốc gia đó. Tại thời điểm này cơ sở pháp lý của hôn nhân có yếu tố nước ngoài được ghi nhận cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như tại Nghị định số 68 và 69 của Chính phủ. Về mặt nội dung các văn bản này đã được nhà làm Luật xây dựng trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn. Ghi nhận những thay đổi của tình hình xã hội để điều chỉnh phù hợp đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng pháp luật lại nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân cũng như các chính sách của nhà nước, do tính chất biến đổi không ngừng của các hiện tượng trong xã hội. Một số cá nhân đã không tuân thủ quy định của pháp luật về kết hôn, đi ngược lại với tinh thần chung của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay. Tóm lại, tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài là một hiện tượng xã hội phát sinh từ nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Chính sự tác động của nguyên nhân này vào quan hệ hôn nhân và gia đình đã làm nảy sinh những hạn chế, phức tạp trong hoạt động kết hôn cần phải được khắc phục và giải quyết kịp thời.  2.3. Thực trạng việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/NĐ-CP.  Theo đánh giá của Ông Trần Thất- Vụ trưởng Vụ Hành chính Tư pháp trong Báo cáo chuyên đề công tác hành chính tư pháp tại Hội nghị giao ban công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2008, 2 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài là Nghi định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2007/NĐ-CP đã đưa công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói chung và việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng đi vào quỹ đạo ổn định, cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước, cũng như giải quyết thấu đáo được các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng không tránh khỏi những tồn tại có nguyên nhân từ vấn đề cơ bản nhất, vấn đề nhân sự. Theo tổng kết của Vụ Hành chính Tư pháp, khi giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, cán bộ Hộ tịch của các Sở Tư pháp có rất nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc áp dụng các quy định về thủ tục không thống nhất. Cùng một việc, nhưng địa phương này giải quyết dễ dàng, địa phương khác lại gây khó khăn, thậm chí không giải quyết, dẫn đến bức xúc trong dư luận. Chính vì vậy, đã có trường hợp, đương sự phải làm động tác chuyển hộ khẩu từ địa phương này sang địa phương khác mới được công nhận việc kết hôn. Một số cán bộ hộ tịch lại không cập nhật kịp thời những quy định mới, thậm chí không nghiên cứu kỹ những quy định hiện hành nên đã dẫn đến việc gây phiền hà cho các bên kết hôn. Nhiều khi, chính người đi làm thủ tục đăng ký kết hôn lại hiểu luật hơn cán bộ giải quyết việc đăng ký kết hôn. Nhưng vì tâm lý “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, nên họ vẫn phải đáp ứng đủ các giấy tờ mà cán bộ yêu cầu, dù biết rõ mười mươi rằng pháp luật không có quy định nào yêu cầu như vậy. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nước ta mở rộng giao lưu về nhiều mặt với các nước, người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống lâu dài ngày càng nhiều, bà con Việt kiều về nước thăm thân nhân, họ hàng, đầu tư kinh doanh đông hơn, két theo số lượng kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng tăng. Trong khi đó, pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài còn nhiều sơ hở. Quy định về công nhận và ghi chú việc kết hôn đã tiến hành ở nước ngoài còn lỏng lẻo, chưa cụ thể, thủ tục ghi chú khá đơn giản. Đương sự chỉ cần xuất trình giấy tờ hộ tịch đã đăng ký hợp lệ tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận và ghi chú vào sổ hộ tịch (tức là công nhận giá trị pháp lý giấy tờ hộ tịch đó tại Việt Nam). Trong khi đó, pháp luật về hôn nhân gia đình của phía Hàn Quốc quy định rất “thoáng”: Khi người đàn ông Hàn Quốc muốn kết hôn với phụ nữ Việt Nam, họ yêu cầu phía nữ gửi giấy xác nhận độc thân, bản sao khai sinh, chứng minh nhân dân để kê khai việc kết hôn và được nhập tên vào sổ hộ khẩu gia đình người chồng tại Hàn Quốc. Sau đó, họ tiếp tục đến lãnh sự quan Hàn Quốc tại TP. Hồ Chí Minh để được cấp giấy chứng nhận không cản trở việc kết hôn theo luật pháp Hàn Quốc và đến Sở Tư pháp làm thủ tục ghi chú. Điều đáng nói là suốt quá trình đó người phụ nữ Việt Nam vẫn chưa từng đến Hàn Quốc, mọi thủ tục tại Hàn Quốc do bên nam thực hiện. Phần lớn các cô gái lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc hiện nay đều xuất thân từ những gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa, không có việc làm và thu nhập ổn định. Hầu hết có trình độ học vấn thấp, không có điều kiện tiếp cận thông tin, càng không am hiểu pháp luật. Lợi dụng tình hình đó, nhiều tổ chức, cá nhân hoạt động môi giới kết hôn nhằm trục lợi đã ráo riết khai thác, đối tượng chính mà bọn chúng nhằm vào là phụ nữ nghèo ở vùng sâu. Một số trường hợp phụ nữ lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, đã theo chồng định cư ở nước ngoài và may mắn có được cuộc sống ổn định, có việc làm, sau đó lại đưa người nước ngoài về nước để giới thiệu, mai mối cho chị em, họ hàng và cứ thế ngày càng nhân rộng…Một bộ phận phụ nữ nông thôn ảnh hưởng lối sống thực dụng, đua đòi chạy theo xu hướng lấy chồng nước ngoài với hy vọng “đổi đời” đã dễ dàng chấp nhận sự mai mối để lấy chồng ngoại quốc. Trước thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài diễn biến phức tạp, những năm gần đây Chính phủ đã chỉ đạo chấn chỉnh công tác quản lý và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tại Long An, năm 2006 UBND tỉnh ban hành Quyết định số 52 quy định về thủ tục, trình tự và thời hạn giải quyết việc hộ tịch, lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp; chỉ đạo Sở Tư pháp tăng cường thực hiện quy định về phỏng vấn các bên kết hôn trong thủ tục đăng ký kết hôn và thủ tục ghi chú. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp đã thành lập đội ngũ cán bộ phỏng vấn độc lập với Phòng nghiệp vụ đăng ký hộ tịch, nên đã hạn chế tiêu cực, lạm quyền trong quá trình giải quyết và nâng chất lượng phỏng vấn. Tỉnh cũng chỉ đạo ngành Công an tăng cường thực hiện biện pháp xác minh để làm rõ các trường hợp kết hôn có nghi vấn. Công an xác minh, phỏng vấn đã giúp cho việc giải quyết đúng pháp luật, loại trừ các trường hợp kết hôn giả tạo thông qua môi giới kết hôn bất hợp pháp hoặc kết hôn nhằm mục đích khác. Đầu tháng 12/2007, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Chỉ thị về tăng cường quản lý quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó áp dụng nhiều biện pháp như tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho phụ nữ, ngăn chặn, triệt phá các đường dây môi giới kết hôn; Tăng cường công tác phỏng vấn, xác minh, mạnh dạn từ chối giải quyết với những trường hợp kết hôn qua môi giới, kết hôn vội vã hoặc hai bên chưa giao tiếp được với nhau. Tuy nhiên, mọi cố gắng của địa phương cũng chỉ là tạm thời, bởi hiện nay Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều hạn chế, không theo kịp diễn biến thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. 2.4. Những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng điều cấm (Điều 9 và Điều 10) của Luật Hôn nhân và Gia đình trong việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Theo quy đinh của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình năm 2000, thì điều kiện kết hôn (Điều 9 và Điều 10) chính là các quy định mang tính pháp lý bắt buộc mà Nhà nước đặt ra cho các bên nam, nữ khi kết hôn phải tuân thủ. Muốn xác lập một hôn nhân hợp pháp thì đòi hỏi phải có sự thừa nhận của Nhà nước tức là phải đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng điều kiện kết hôn, ta gặp không ít những khó khăn và vướng mắt khi áp dụng chúng.  Thực tế công tác tư pháp ở các Sở Tư Pháp cho thấy khi giải quyết đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài thì: nếu trường hợp pháp luật của hai bên kết hôn có sự tương đồng về điều kiện kết hôn thì khi giải quyết cho hai bên đăng ký kết hôn Sở Tư Pháp không gặp bất kỳ sự khó khăn và vướng mắc nào khi giải quyết cho đăng ký kết hôn. Sau khi nhận hồ sơ thì lúc đó Sở Tư Pháp mới xem xét đến phần các bên có điều kiện đăng ký kết hôn hay không. Thông thường khi các bên đến nộp hồ sơ thì họ hầu như đã chuẩn bị đầy đủ và phù hợp với các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam. Điều đáng nói ở đây chính là trường hợp khi Sở Tư Pháp nhận hồ sơ của các bên kết hôn mà phát hiện pháp luật hai nước của hai bên kết hôn có sự khác nhau về điều kiện kết hôn, tức là pháp luật hai nước có sự xung đột về điều kiện kết hôn. Đối với trường hợp này Sở Tư Pháp sẽ tiến hành trả hồ sơ đăng ký kết hôn của các bên và không chấp nhận cho đăng ký kết hôn.Vì đối với trường hợp này rõ ràng pháp luật hai nước của hai bên kết hôn có sự khác biệt về điều kiện kết hôn thì làm sao có thể tiến hành cho đăng ký kết hôn được. Điều này được xem là khó khăn và vướng mắc khi áp dụng điều kiện kết hôn khi tiến hành cho hai bên đăng kí kết hôn nên hầu như mọi Sở Tư Pháp đều từ chối cho đăng kí kết hôn. Sau đây sẽ là một vài phân tích để làm rõ những điều đã được nêu ở trên. 2.4.1 Thứ nhất, đối với trường hợp pháp luật hai nước của hai bên đăng ký kết hôn có sự tương đồng về điều kiện kết hôn. Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ giấy tờ hợp lệ của các bên kết hôn, Sở Tư Pháp sẽ xem xét và trải qua giai đoạn phỏng vấn nếu thấy hai bên kết hôn không vi phạm điều kiện kết hôn thì Sở Tư Pháp sẽ chấp nhận cho hai bên đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, thực tế của việc kết hôn này dù phù hợp với các điều kiện kết hôn do hai nước đặt ra nhưng không phải trường hợp kết hôn nào cũng dựa trên tình yêu chân chính và với mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc. Những năm gần đây những phương tiện truyền thông đại chúng liên tục phản ánh không ít trường hợp các cô gái Việt Nam lấy chồng ngoại nhưng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Họ bị đối xử bất công, bị đánh đập, thậm chí có nhiều người đã chết, có thể do tự tử hoặc trước sự đánh đập tàn nhẫn của người chồng. Điển hình gần đây nhất là trường hợp cô dâu Huỳnh Mai đã chết thảm khốc tại đất Hàn trong tầng hầm căn nhà của người chồng sau tám ngày bị giết với 18 chiếc xương sườn bị gãy. Đây là trường hợp điển hình cho thấy việc người vợ quá ít tuổi kết hôn với người chồng quá nhiều tuổi do họ không hiểu nhau cả về ngôn ngữ và lối sống. Đặc biệt là phương diện tình cảm họ không thấu hiểu được tâm lý mong muốn của nhau. Trường hợp trên là một trong vô số trường hợp cho thấy quá trình phỏng vấn theo quy định của pháp luật Việt Nam để biết được yếu tố tự nguyện của các bên, sự thấu hiểu lẫn nhau về lối sống… đang có vấn đề. Mặc dù giai đoạn phỏng vấn là vô cùng quan trọng giúp cơ quan nhà nước kiểm tra được việc kết hôn của hai bên là do tự nguyện hay do ép buộc, lừa dối hay vì mục đích vụ lợi khác; đồng thời phỏng vấn còn giúp kiểm tra được mức độ hiểu biết giữa hai bên, khả năng giao tiếp ngôn ngữ chung ra sao… nhưng vì thực tế Sở Tư Pháp các tỉnh đã làm không tốt giai đoạn này nên đã chấp nhận cho các bên đăng ký kết hôn một cách dễ dàng mặc dù họ thật sự không hiểu ngôn ngữ của nhau; Vì lý do dơn giản hơn nữa là các cô gái Việt Nam lấy chồng chỉ vì mục đích là kiếm được nhiều tiền từ việc kết hôn này.  Trước đây theo quy định của Nghị Định số 68/2002/NĐ-CP thì sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hôn của các bên, Sở Tư Pháp sẽ tiến hành thẩm tra xác minh hồ sơ, chỉ những trường hợp nào qua thẩm tra xác minh mà phát hiện thấy có nghi vấn hoặc có khiếu nại tố cáo về việc kết hôn thì mới tiến hành phỏng vấn các bên. Tuy nhiên theo Nghị Định sửa đổi số 69/2006/NĐ-CP thì tất cả các hồ sơ đăng ký kết hôn bắt buộc phải trải qua giai đoạn phỏng vấn. Trong vòng 20 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ, Sở Tư Pháp sẽ tiến hành phỏng vấn hai bên kết hôn nên bắt buộc các bên kết hôn phải có mặt tại Việt Nam để tham gia cuộc phỏng vấn này. Như vậy qua phỏng vấn sẽ giúp tránh được trường hợp đi đến kết hôn chóng vánh của hai bên chỉ qua môi giới, thậm chí hai bên không thể giao tiếp bằng ngôn ngữ chung với nhau, không hiểu biết rõ về hoàn cảnh gia đình của nhau. Qua phỏng vấn cơ quan Tư pháp cũng có thể từ chối cho đăng ký kết hôn nếu phát hiện kết hôn là giả tạo (thường nhằm mục đích xuất cảnh trái phép, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, bền vững, kết hôn nhằm mục đích mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác, kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam (như sự chênh lệch quá đáng về tuổi tác giữa hai bên: ông già 80 tuổi lấy cô gái 18 tuổi). Như đã nói ở trên pháp luật quy định như vậy, nhưng thực tế không ít các trường hợp kết hôn là giả tạo để xuất cảnh trái phép, hoặc vì lợi ích kinh tế mà kết hôn nhưng cơ quan Tư pháp vẫn giải quyết cho đăng ký kết hôn. Vậy có quy định giai đoạn phỏng vấn cũng chỉ là hình thức. Các bên có giả dối thì cán bộ Tư pháp cũng không biết. Có chăng chỉ biết được họ không thể giao tiếp được bằng ngôn ngữ để có thể hiểu thấu lẫn nhau mà từ chối cho đăng ký kết hôn. Tháng 4 năm 2006, có một bài viết đăng trên báo Chosun (Hàn Quốc) đề cập đến phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc (HQ), bài báo đã tạo nên một làn sóng dư luận phản đối dữ dội không chỉ ở Việt Nam mà cả ở HQ, vì nó không dừng ở lĩnh vực truyền thông đại chúng mà còn tác động đến cả lĩnh vực ngoại giao. Nhưng điều gì tạo nên làn sóng phản đối quyết liệt như vậy? Chúng ta thử xem, qua lăng kính báo chí nước ngoài nhìn nhận vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn có yếu tố nước ngoài như thế nào.  Có thể nói, người phụ nữ Việt Nam được xem như một món hàng rất dễ mua, qua các quảng cáo trên báo chí ở HQ. Hiện nay ở HQ, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo như “Cô dâu Việt Nam sẵn sàng, chỉ cần có ý định (của bạn)”. Không những vậy, việc lấy vợ Việt Nam vô cùng dễ dàng, cho dù đàn ông HQ là người thế nào cũng có thể cưới được vợ Việt Nam “Người già, người muốn tái hôn, người đã có con, người khuyết tật đều có thể lấy trinh nữ Việt Nam xinh đẹp”. Để thêm sức thuyết phục cho việc tiếp thị lấy vợ Việt Nam, những quảng cáo nói trên còn liệt kê chi tiết về những ưu điểm của con gái Việt Nam. Đó không chỉ hấp dẫn về hình thức như “dáng người đẹp nhất trên thế giới” và quyến rũ hơn so với phụ nữ một số nước trong châu lục “khác với phụ nữ Trung Quốc và Philippines, phụ nữ Việt Nam có mùi cơ thể dễ chịu” mà còn có những phẩm hạnh tuyệt vời như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên 4 đời”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng”. Trong bối cảnh báo chí nhìn nhận việc kết hôn với phụ nữ Việt Nam như vậy, cũng dễ hiểu vì sao nhật báo Chosun lại có thể “bình thản kể lại một câu chuyện bất thường mà như là bình thường” sau đây: “Trên bàn tiếp khách làm bằng tre, một người đàn ông HQ đang ngồi, 11 phụ nữ đang hồi hộp với ước mơ thoát khỏi cái nghèo. Người đàn ông HQ nhìn lướt qua một lượt khuôn mặt những cô gái đang ngồi xếp chân sang một bên. Sau 20 phút, ông ta quyết định không chọn nữa và nói “Ôi, thật ngại quá, không biết chọn ai bây giờ”. Người đàn ông HQ ngoài 35 tuổi, không nghề nghiệp, có mẹ đang điều hành một quán ăn. Trước khi xem mắt trực tiếp 11 cô gái này, ông ta đã xem qua ảnh của họ “ông chuyển qua phòng bên cạnh, mở đĩa CD có thời gian một tiếng rưỡi, thời gian ghi hình là tháng 4/2006. Trên màn hình lần lượt xuất hiện 150 cô gái có mã số. Ống kính quay từ khuôn mặt rồi đến toàn thân. Chỉ được 20 phút, ông lại bỏ cuộc. Có lẽ ông đã chọn được hai trong số 11 cô gái lúc nãy” Người đàn ông HQ này sang Việt Nam tìm vợ , với mục đích về để giúp bà mẹ của mình, như lời ông ta hỏi với cô gái được chọn “Tôi đang thất nghiệp nhưng sẽ xin việc làm. Mẹ tôi đã có tuổi và đang kinh doanh một cửa hàng thức ăn nhỏ. Có nuôi mẹ tôi được không?. Cũng chính vì mục đích lấy vợ về phục vụ gia đình, nên người đàn ông HQ này sau một lúc chần chừ cũng chọn Sen (cô gái xuất thân từ một vùng quê nghèo khó cách TP.HCM 4 giờ xe chạy) vì “Mẹ tôi dặn đi dặn lại là chọn cô nào có tướng tá to lớn để mai mốt còn phục vụ cơm nước cho bà”. Phải chăng vì lấy vợ Việt Nam dễ, giá thấp lại có chất lượng cao như trên, xu hướng đàn ông HQ lấy vợ Việt Nam ngày càng nhiều ? Theo cục thống kê HQ, chỉ trong vòng năm năm tỉ lệ kết hôn với nước ngoài của HQ tăng lên ba lần, trong đó lấy vợ Viêt Nam tăng 43 lần, năm 2001 là 143 người, đến năm 2005 là 5.822 người. Con số này chiếm 1/5 tổng số người HQ kết hôn với người nước ngoài, đứng thứ hai sau Trung Quốc (18.527 người). Nhưng hầu hết phụ nữ Trung Quốc này có gốc là người Hàn. Như vậy, chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số người nước ngoài mà đàn ông HQ kết hôn là phụ nữ Vệt Nam. Bên cạnh những quảng cáo cho việc lấy vợ Việt Nam như một món hàng dễ mua, cũng có những bài viết cho thấy sự khó khăn trong đời sống gia đình của những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài “phụ nữ Châu á đến Hàn Quốc để kết hôn và có cuộc sống mới đều gặp rất nhiều khó khăn vì sự khác biệt về mặt văn hóa và những định kiến ở Hàn Quốc” (Tuổi trẻ, ngày 5/5/2006). Đồng thời, người HQ cũng băn khoăn khi thấy không ít đàn ông HQ chỉ có thể lấy vợ nước ngoài “thật đáng buồn khi nghĩ đến chuyện thanh niên ở các vùng quê phải ra nước ngoài để kiếm vợ chỉ vì không thể kiếm vợ ở HQ” ( Tuổi trẻ ngày 5/5/2006). Những kiểu quảng cáo xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Việt Nam như vậy đã tạo nên làn sóng phản ứng dữ dội ở HQ và đặc biệt ở Việt Nam, bởi vì đó không đơn giản chỉ là “nỗi đau và trách nhiệm, mà đây còn là nỗi nhục hình hình ảnh phụ nữ Việt Nam dưới con mắt người nước ngoài” ( Võ Văn Kiệt). Có thể nói, dư luận HQ dẫu rằng có những phản ánh với nhật báo Chosun về bài viết của phóng viên Chae Sung Woo, nhưng cũng phủ nhận một thực tế những quảng cáo đó đang đáp ứng nhu cầu của một bộ phận nam giới HQ đang gặp khó khăn trong hôn nhân với phụ nữ trong nước và họ đến Việt Nam, một đất nước có thị trường hôn nhân lý tưởng, dễ có cơ hội kết hôn bởi vì có nhiều cô gái- đặc biệt ở các vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long- đang có giấc mơ đổi đời qua việc kết hôn với người nước ngoài. Thêm nữa, Việt Nam và HQ có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, con người nên thế hệ con cái mai sau sẽ không có những khác biệt so với người gốc HQ; như quan niệm của người HQ “vì sự tương đồng về dung mạo nên khi sinh con sẽ không khác gì lắm với người HQ” ( tuổi trẻ 25/4/2006). Ở Việt Nam, từ nhiều năm trước dư luận xã hội vá báo chí cũng đã nhiều lần lên tiếng và cảnh báo trước hiện tượng kết hôn với người nước ngoài ngày càng gia tăng. Từ năm 1995 đến nay, hàng trăm bài báo ở Việt Nam đã điều tra các đường dây tuyển các thôn nữ về thành phố Hồ Chí Minh nuôi nhốt trong những phòng trọ, cho những người đàn ông lớn tuổi, tật nguyền từ Trung Quốc, Đài Loan đến tuyển lựa. Chưa kể hàng trăm bài báo mô tả cảnh cô dâu Việt Nam ở Trung Quốc, Đài Loan bị ngược đãi, làm vợ tập thể trốn về nước ( phụ nữ 28/4/2006). Có thể nói, qua báo chí đã cho thấy một sự biến đổi chuẩn mực xã hội, giá trị xã hội trong quan niệm của các thôn nữ ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long về hôn nhân với người nước ngoài. Có ý kiến nhận xét về đặc điểm hôn nhân với người nước ngoài hiện nay là “Xu hướng lấy chồng HQ tăng lên, trẻ hóa cô dâu. Trước đây lấy chồng thì được tiền, nay các cô dâu thôn nữ bỏ tiền ra cưới chồng ngoại quốc”. báo chí cũng phản ánh một trường hợp cô gái trẻ ở phía bắc “ Cưới chồng” Đài Loan với số tiền quy ra 10 tấn thóc. Bởi lý do kết hôn là ra nước ngoài có việc làm. Đi lao động Đài Loan thì phải tốn tiền môi giới, mà hợp đồng lao động lại có hạn, chỉ phù hợp với những phụ nữ đã có gia đình. Nếu các cô gái lấy chồng, tờ hôn thú sẽ đảm bảo cho các cô ở lại Đài Loan làm việc tới… già. Thu nhập của các cô là niềm mong đợi của gia đình ở quê nhà. Đó là những cuộc hôn nhân 2 trong 1, vừa có chồng, vừa có việc làm. Số tiền các cô vay mượn bỏ ra mua chồng, sang đến Đài Loan, đi làm vài tháng là dư trả (Báo Phụ nữ TP HCM, ngày 23/6/2006). Ngoài ra, để cải thiện đời sống gia đình, “báo hiếu cha mẹ” cũng là một lý do quan trọng, như một nghiên cứu gần đây cho thấy động cơ kết hôn với người Đài Loan thì “Muốn giúp đỡ gia đình” chiếm tỷ lệ cao nhất 46.7%.  Có những luồng dư luận, ý kiến trái ngược nhau về vấn đề kết hôn với người nước ngoài. Có thể chia ra 2 quan điểm chính: ủng hộ và phản đối. Những ý kiến phản đối việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, vì đó thực chất là buôn bán phụ nữ: “Có cả một dịch vụ mua bán phụ nữ Việt Nam cho người nước ngoài diễn ra và vẫn còn tiếp tục diễn ra nhộn nhịp, phát đạt, vui vẻ, không hề giấu diếm, một ngành buôn người thật sự”. Ý kiến ủng hộ, nhìn từ bên ngoài: Trong bài viết của mình, Han Guk Yeom – Đại diện Trung tâm Nhân quyền của phụ nữ nhập cư tại Hàn Quốc – đăng trên báo Joong Ang, một tờ báo lớn của Hàn Quốc, đã viết rằng: “Sự thay đổi về cách nhìn nhận phụ nữ Châu Á là điều quan trọng nhất. Xem cuộc hôn nhân của phụ nữ nhập cư với đàn ông Hàn Quốc như “một cách chạy trốn đói nghèo” là một cách nhìn kỳ thị và sai lầm. Nếu mọi người tiếp tục nghĩ họ “lấy chồng vì tiền” thì sẽ rất khó ngăn chặn tình trạng vi phạm nhân quyền và nguy cơ buôn người…. Chúng ta nên nhìn nhận họ như những người tiên phong trong cuộc sống và tôn trọng họ” (Tuổi trẻ, ngày 5.5.2006) Có thể thấy, các quan chức nước ngoài cũng ủng hộ việc kết hôn của nam giới Hàn Quốc với phụ nữ Việt Nam, qua cái nhìn tích cực của tùy viên báo chí và thông tin đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam “Hàn Quốc phải cảm ơn Việt Nam vì đã cho chúng tôi những cô dâu ngoan và tuyệt vời”, bởi lẽ khó khăn trong hôn nhân của đàn ông Hàn Quốc đang là một vấn đề xã hội “Một vấn đề xã hội lớn hiện nay tại Hàn Quốc là nhiều người đàn ông, nhất là ở nông thôn, rất khó lập gia đình. Nên đàn ông Hàn Quốc muốn lấy vợ Việt Nam vì họ có thể chia sẻ việc chăm sóc cha mẹ già yếu, và chung sức lo cho gia đình” (Báo Lao Động 27.4.2006). Theo số liệu của Văn phòng thống kê quốc gia Hàn Quốc “ 35,9% thanh niên Hàn Quốc ở các làng nông thôn và chài lưới kết hôn trong năm ngoái đều lấy vợ nước ngoài” (Tuổi Trẻ 5.5.2006). Sự tán đồng từ trong nước: Nguyên tổng biên tập báo Tuổi trẻ Lê Văn Nuôi cho rằng “Hôn nhân với người khác quốc tịch trong bối cảnh nước ta quan hệ đa phương và hội nhập toàn cầu là chuyện bình thường. Nhưng chỉ bình thường và đáng ủng hộ khi họ quan hệ hôn nhân bình đẳng, đến với nhau qua một quá trình giao tiếp, có tình yêu thật sự và cô dâu Việt Nam có đủ trình độ về văn hóa để hội nhập văn hóa xứ người” (Tuổi trẻ ngày 6/5/2006). Hiện nay ở một số tỉnh thành ở miền Tây Nam bộ rộ lên tình trạng các cô dâu muốn lấy chồng ngoại thì sẽ chuyển hộ khẩu đi các tỉnh khác để xin đăng ký kết hôn. Lý do là tỉnh nhà khắt khe trong việc giải quyết cho đăng ký kết hôn với người nước ngoài. Điển hình là tại Đồng Tháp từ năm 2000 đến năm 2005, mỗi năm Đồng Tháp có hơn 2000 trường hợp cô gái Việt Nam kết hôn với người nước ngoài nhất là Đài Loan và Hàn Quốc. Nhận thấy nhiều trường hợp kết hôn không phải vì mục đích hôn nhân đúng nghĩa nên Sở Tư Pháp tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng biện pháp phỏng vấn kết hôn. Qua đó phát hiện các trường hợp kết hôn do thật sự yêu nhau rất ít, đa số vì mục đích kinh tế. Do Đồng Tháp nổi tiếng là nơi phỏng vấn rớt nhiều hơn đậu nên các cò bày mẹo cho các cô muốn lấy chồng ngoại thì cắt chuyển hộ khẩu sang tỉnh khác để né phỏng vấn và được giải quyết thông thoáng hơn. Nhiều cô gái đã làm theo cách này và đã thành công. Sau khi được kết hôn thì các cô gái chuyển hộ khẩu sang tỉnh khác lại nhập hộ khẩu về tỉnh cũ. Không chỉ như vậy để tránh phỏng vấn, các cô dâu Việt Nam thường lách quy định này bằng cách gởi hồ sơ đăng ký kết hôn sang nước mà họ sẽ lấy chồng để đăng ký kết hôn, sau đó mới gởi về Việt Nam và chúng ta chỉ còn cách là công nhận việc kết hôn này (vì Nghị định số 68 hướng dẫn quản lý hôn nhân có yếu tố nước ngoài lại không cấm). Lợi dụng sơ hở này các đầu nậu môi giới hôn nhân bất hợp pháp trong nước kết hợp với các Công ty môi giới hôn nhân phía nước ngoài đã có nhiều phụ nữ Việt Nam sang nước ngoài không phải vì mục đích hôn nhân. Ngoài ra ở nhiều địa phương cán bộ hộ tịch đã có nhiều hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, vòi vĩnh trong khi giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Trong đó, có nhiều yếu kém, tiêu cực xảy ra. Chẳng hạn tại thủ tục phỏng vấn để làm rõ việc kết hôn của hai bên có tự nguyện hay không nhiều địa phương đã thực hiện rất hình thức, chiếu lệ, có nơi còn móc nối với cò để đưa ra kịch bản phỏng vấn suông sẻ. Như vậy là ở giai đoạn phỏng vấn có nhiều bất cập xảy ra. Cần báo động là có cán bộ hộ tịch đã lợi dung quy định về phỏng vấn để gây khó khăn cho hai bên kết hôn. Như để được xếp lịch phỏng vấn, các bên phải tìm cách “gặp gỡ” cán bộ hộ tịch, có trường hợp cố tình không xếp lịch phỏng vấn để hai bên phải chờ đợi, kéo dài thời gian ở Việt Nam. Từ những tiêu cực thực tế đã xảy ra như vậy thì những trường hợp kết hôn với nhau sau đó không hiểu biết nhau dẫn tới khó khăn trong cuộc sống hôn nhân của cả hai bên kết hôn, một phần cũng do lỗi của cán bộ hộ tịch thiếu trách nhiệm. Khâu quan trọng nhất trong tiến trình cho đăng ký kết hôn để thấy rõ họ thực sự yêu thương nhau, đến với nhau vì tình yêu chân chính, không vụ lợi chính là khâu phỏng vấn nhưng xem ra nó đã bị coi nhẹ đi rất nhiều. Qua phân tích ở trên cho thấy rằng tiến trình phỏng vấn kết hôn không được tuân thủ một cách nhất quán theo tinh thần chung của nó theo cách nó phải được áp dụng trong phạm vi của cả nước mà mỗi vùng, miền, mỗi địa phương có cách làm khác nhau. Có nơi thực hiện khắt khe, có nơi lại thực hiện lỏng lẻo, hình thức. Và như vậy tương lai tình trạng cô dâu Việt bị đánh đập, nhốt trong nhà như một người tù, thậm chí bị giết… vẫn có thể xảy ra mà không có gì đảm bảo cho cuộc sống của họ sẽ được hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không thể đạt được đối với một số lượng lớn các vụ kết hôn có yếu tố nước ngoài. 2.4.2. Thứ hai, trường hợp pháp luật hai nước của hai bên kết hôn có sự mâu thuẫn về điều kiện kết hôn. Ta thấy rằng một khi quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phát sinh thường làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật. Xung đột pháp luật được thể hiện trong các quan hệ về kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, đặc biệt là các quyền về tài sản, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái và cuối cùng là các quan hệ về nuôi con nuôi, giám hộ. Theo nguyên tắc chung, xung đột pháp luật trong lĩnh vực này được giải quyết bằng cách ký các điều ước quốc tế hoặc xây dựng quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia. Trong phạm vi tiểu luận này tôi xin phân tích trường hợp pháp luật hai nước có sự mâu thuẫn về điều kiện kết hôn và trong đó không tồn tại bất kỳ một Hiệp định tương trợ tư pháp nào để giải quyết xung đột về điều kiện kết hôn. Thực tế tại các Sở Tư pháp các tỉnh trong quá trình tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hôn, thông thường thì khi xác định pháp luật hai nước của hai bên kết hôn có xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn thì cán bộ Sở Tư pháp sẽ trả hồ sơ đăng ký kết hôn và không chấp nhận cho đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 103 khoản 1 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 10 Nghị định số 68/CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp kết hôn. Như vậy, khi kết hôn với công dân Việt Nam người nước ngoài phải tuân theo các quy định của pháp luật của nước mà người đó là công dân về điều kiện kết hôn. Theo Điều 103 thì trong việc kết hôn ở nước ngoài giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn. Quy định này có một số nhược điểm như sau: Nếu công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài với công dân của một nước còn tồn tại chế độ đa thê, thì pháp luật Việt Nam phải công nhận việc kết hôn này. Bởi lẽ, mỗi bên đã tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn. Cũng theo Điều 103 thì khi người nước ngoài kết hôn ở Việt Nam với công dân Việt Nam thì họ phải tuân theo pháp luật nước mình đồng thời phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. Nhược điểm của quy định này là sẽ dẫn tới cách hiểu: Nếu họ đạt điều kiện kết hôn theo pháp luật nước họ, nhưng không đạt điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam, thì họ không được kết hôn; nếu họ đạt điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam nhưng không đạt điều kiện kết hôn theo pháp luật nước họ thì họ cũng không được đăng ký kết hôn. Trong trường hợp này phía công dân nước ngoài phải xin đăng ký kết hôn ở nước họ hoặc ở nước thứ ba. Đã đành pháp luật Việt Nam không thể rập khuôn theo pháp luật các nước, nhưng có thể khẳng định rằng theo nội luật các nước, theo Hiệp định song phương, Công ước đa phương, theo tất cả các Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa nước ta với nước ngoài đều áp dụng công thức “Luật theo quốc tịch”, có nghĩa là, bên kết hôn là công dân nước nào thì phải tuân theo luật nước ấy. Câu hỏi được đặt ra: có phải là khi công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài với công dân nước ngoài thì công dân Việt Nam chỉ phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, còn công dân nước ngoài kết hôn ở Việt Nam, thì phía công dân nước ngoài vừa phải tuân thủ pháp luật nước mình, vừa phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn hay không? Cũng theo Điều 103, khi kết hôn ở Việt Nam giữa công dân nước ngoài với nhau, thì họ chỉ phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. Như vậy họ chỉ cần đạt điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam, mà không cần đạt điều kiện kết hôn theo pháp luật nước họ, thì chính quyền nước ta vẫn đăng ký kết hôn cho họ. Theo quy định này có một số nhược điểm mà chúng ta cần phải tính đến khi tiến hành đăng ký kết hôn cho họ: Pháp luật nước ta coi việc kết hôn này là hợp pháp, nhưng pháp luật nước họ lại coi là bất hợp pháp, bởi lẽ pháp luật hầu hết các nước đều quy định là bất cứ kết hôn ở đâu thì mỗi bên cũng phải đạt điều kiện kết hôn theo pháp luật nước mình. Mà như chúng ta đã biết điều kiện kết hôn theo pháp luật của mỗi nước là khác nhau.v Nếu chỉ căn cứ vào pháp luật Việt Nam để xác định công dân nước ngoài đủ điều kiện kết hôn ở Việt Nam, thì chính quyền nước ngoài có thể không cấp các giấy tờ chứng nhận cần thiết khi chính quyền nước ta yêu cầu. Ví dụ: làm thế nào chúng ta biết được họ là người chưa vợ, chưa chồng, là những người có quan hệ dòng máu gần… Như vậy chúng ta chỉ căn cứ vào lời khai của họ.v Khi đăng ký kết hôn, người vợ xin được mang họ của chồng để ghi vào giấy công nhận kết hôn. Đây là pháp luật và truyền thống lâu đời của họ và tất nhiên là chính quyền nước ta sẽ từ chối, vì theo pháp luật Việt Nam, việc kết hôn không thể thay đổi họ của mỗi bên kết hôn.v Như vậy, nếu luật của chúng ta quy định là việc kết hôn ở Việt Nam giữa hai công dân nước ngoài với nhau phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, thì họ không dám đăng ký kết hôn ở Việt Nam. Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG TỒN TẠI TRONG KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước và khả năng thực thi của pháp luật vào thực tế, tôi thấy rằng: Việc khắc phục những tồn tại hiện nay trong tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài là một đòi hỏi cấp bách. Bởi lẽ, đây là vấn đề mang tính chất xã hội, liên quan đến nhân tố con người cũng như những giá trị nhân thân của chính chủ thể này. Trong khi đó thực trạng xã hội hiện nay một phần ảnh hưởng đến ổn định và trật tự xã hội, làm phát sinh nhiều tiêu cực tác động đến cuộc sống và hạnh phúc của cá nhân nói riêng và tập thể nói chung. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn của vấn đề, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp góp phần làm hạn chế những biểu hiện tiêu cực, đưa hoạt động kết hôn có yếu tố nước ngoài vào một trật tự nhất định. 3.1. Tăng cường vai trò trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội. Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có từ lâu, và thực sự rầm rộ trong khoảng mươi năm trở lại đây. Tuy nhiên, từ phía cộng đồng, xã hội chưa thật sự quan tâm và các đoàn thể dường như cũng bỏ qua, không thấy có vai trò và trách nhiệm trong chuyện này. Ngay cả Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị xã hội của phụ nữ mà cũng chưa thật quan tâm đến số phận các thành viên của Hội kết hôn với người nước ngoài. Có thể thấy điều này trong thư của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi Chủ Tịch Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam Hà Thị Khiết; “ Tôi đã nhiều lần có thư nhắc nhở, kêu cứu đến các cơ quan chức năng, các địa phương có nhiều chị em làm dâu xứ người. Cả một hệ thống chính trị của Đảng từ trung ương đến các địa phương không thấy có định hướng tác động gì, cứ thế mạnh ai nấy làm một cách tự phát” (Tuổi trẻ 28/4/2206) chúng ta cần tìm lời giải cho câu hỏi của nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt “ Ai có trách nhiệm phải giữ gìn truyền thống của phụ nữ Việt Nam và ai là người có trách nhiệm trước nỗi nhục này, có khả năng làm giảm nỗi đau này chăng ? (Tuổi trẻ 20/4/2006). Nhưng chúng ta biết rằng nhiều Bộ, Ngành còn thiếu trách nhiệm trước hiện tượng kết hôn với người nước ngoài. Ví dụ, trong khi Cục Thống kê Hàn Quốc có số liệu cụ thể những trường hợp kết hôn với người nước ngoài, thì ở Việt Nam “Cục Thống kê dường như không thèm nắm lấy mấy con số lặt vặt” đó. Bộ Tư pháp cũng không phân tích số liệu phụ nữ Việt Nam lấy chồng các nước, Tòa án tối cao không thống kê tỷ lệ ly hôn với người nước ngoài, phân tích nguyên nhân. Sở Tư Pháp cấp giấy kết hôn với người nước ngoài, nhưng đến xin số liệu phải đợi tách ra từng nước” (Phụ nữ 28/4/2006). Qua đó có thể thấy, các tổ chức xã hội, các ngành chức năng còn thiếu quan tâm đến hiện tượng hôn nhân có yếu tố nước ngoài của phụ nữ Việt Nam, và chưa có đơn vị xã hội nào coi đó là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. 3.2. Vai trò của gia đình . Giáo dục gia đình, nếp sống và gia phong của mỗi nhà rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng tới việc hình thành nhân cách của con cái, mà còn trang bị cho con cáí sự hiểu biết, bản lĩnh sống, khả năng thích ứng trước những biến động, rủi ro của cuộc đời. Với con gái, nếu người mẹ không quan tâm giáo dục con mình về “công ,dung, ngôn, hạnh” về “Nữ công gia chánh” mà lại chỉ mong gả bán con gái mình cho người ngoại quốc, thì nguy cơ với con gái họ thật khó lường. 3.3. Hành trang cho phụ nữ Việt Nam kết hôn vời người nước ngoài. Có một thực tế, “làn sóng” kết hôn với người nước ngoài những năm gần đây đa số là các cô gái từ các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, học vấn thấp, ít hiểu biết. Vì thế, không thể bỏ mặc họ ra đi làm dâu xứ người với hai bàn tay trắng, chỉ với ước mơ đổi đời. Cần chuẩn bị cho các cô hành trang thật tốt để đi làm dâu xứ người. Theo quan điểm của chúng tôi, hành trang cho các phụ nữ có nguyện vọng kết hôn với người nước ngoài bao gồm: 3.3.1. Thông tin thực trạng về đời sống hôn nhân của những cô dâu Việt Nam ở nước ngoài: Cần cung cấp cho những phụ nữ có mong muốn lấy chồng là người nước ngoài những thông tin thực trạng về đời sống hôn nhân của những cô dâu Việt Nam ở nước ngoài để các phụ nữ này có suy nghĩ chín chắn trước khi quyết định. Trên thực tế, vì hầu hết các phụ nữ lấy chồng nước ngoài có trình độ thấp, nhiều người chưa bao giờ tiếp cận với các phương tiện truyến thông đại chúng, nên việc thiếu thông tin, hoặc có thông tin sai lệch ( qua môi giới) khiến cho không ít người đã vỡ mộng và nuối tiếc vì quyết định sai lầm của mình. Có những thông tin đầy đủ và chính xác về người chồng tương lai, về gia cảnh người chồng , về địa phương mà các cô đến sẽ sinh sống với vai trò người vợ, người con dâu trong gia đình cũng sẽ góp phần giúp các cô và gia đình cân nhắc trước khi quyết định lấy chồng nước nào, ở đâu cho phù hợp với mình. 3.3.2 Các cô gái cần được đào tạo, được học làm vợ, làm dâu ở nước ngoài: Với một số nội dung cơ bản, có thể là: Về luật pháp, phong tục, tập quán của các vùng, miền của nước mà các cô gái sẽ đến làm dâu. Theo ông Nguyễn Quốc Cường, Phó vụ trưởng vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp thì “Hầu hết trong 3 năm đầu, các cô dâu Việt Nam rất khó mà hòa nhập với gia đình chồng vì không biết tiếng, chưa hiểu gia phong tập quán, phong tục”. Về điều này, lời khuyên của tùy viên báo chí và thông tin Đại sứ quán Hàn Quốc rất đáng để cho phụ nữ Việt Nam đã, đang và sẽ có ý định lấy chồng nước ngoài nói chung và lấy chồng Hàn Quốc nói riêng tham khảo “Tôi nghĩ trước khi có quyết định lấy chồng Hàn Quốc họ nên chuẩn bị cho những cách biệt văn hóa, ngôn ngữ và suy nghĩ. Hàn Quốc tuy phát triển hơn Việt Nam, nhưng cũng có những người phải sống rất khó khăn. “Các cô gái trẻ mang giấc mơ lấy chồng Hàn Quốc để đổi đời cần suy nghĩ chín chắn, vì thực tế không phải lúc nào cũng vậy” (Báo Lao Động ngày 27/4/2006). Về kỹ năng nội trợ, sử dụng các đồ dùng trong gia đình: các cô gái cần được sử dụng các đồ dùng, tiện nghi trong gia đình nước ngoài, biết nấu các món ăn cho người nước ngoài, nơi mà các cô sẽ đến làm dâu. Thực tế cho thấy, có những trường hợp hôn nhân tan vỡ vì cô dâu không làm tròn bổn phận của mình. Như trường hợp một người đàn ông Hàn Quốc 45 tuổi sau hai tháng lấy cô dâu Việt Nam 19 tuổi đã đòi ly dị và kiện Viện Bảo hộ nguời tiêu dùng người Hàn Quốc, đòi lại chi phí thủ tục kết hôn vì cô vợ 19 tuổi dậy muộn, không lo bữa ăn sáng cho con trai đang học cấp 3 của chồng. Hay một ví dụ khác, một cô gái quê ở Đồng Tháp lấy chồng hai năm mà không biết nấu món ăn Hàn Quốc cho nhà chồng. Rõ ràng, công việc tề gia nội trợ là một nhiệm vụ không thể thiếu được khi lấy chồng nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan. Vì thế, học để làm nội trợ phục vụ gia đình cũng rất cần thiết, và làm tốt điều này là yếu tố đảm bảo hôn nhân bền vững ở xứ người. Về ngôn ngữ: sẽ khó có thể làm tốt vai trò làm vợ, làm dâu ở nước ngoài nếu các cô gái không được học ngôn ngữ của nước đó. Vì thế, các cô gái trước khi kết hôn cần phải học ngôn ngữ của quốc gia mà các cô có ý định lấy chồng. Dù chúng ta không hy vọng các cô gái học vấn thấp (thậm chí có cô còn không biết đọc, biết viết) nhưng ít ra cũng dạy cho các cô biết được giao tiếp tối thiểu, có thể gọi tên các đồ vật/phương tiện sinh hoạt trong gia đình, … Đây là tiền đề cho các cô gái có thể dần dần vượt qua được rào cản ngôn ngữ, dần dần hội nhập vào cuộc sống gia đình ở nước ngoài.  Chỉ có thể như vậy, chúng ta mới góp phần làm giảm thiểu những rủi ro đối với các cô gái lấy chồng nước ngoài và mới xây dựng được những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài có được hạnh phúc gia đình. Đó cũng là điều quan trọng mà dư luận xã hội cần hướng tới. Cũng nhằm mục đích xây dựng đó, tôi nghĩ không chỉ ở những nước của “cô dâu” mà cả ở những nước của chú rể” cũng cần có sự uốn nắn của dư luận xã hội đối với những quan niệm lệch lạc về hạnh phúc con người.  3.4. Về quản lý nhà nước đối với kết hôn có yếu tố nước ngoài. Hiện nay trước những vấn đề phức tạp đã và đang nảy sinh trong thực tế cuộc sống, quá trình giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền khi các cá nhân đến đăng ký kết hôn cũng có một số tồn tại nhất định. Ở những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh trình độ của các cán bộ Sở Tư Pháp tương đối đáp ứng được yêu cầu công việc. Số còn lại đặc biệt là ở những vùng nông thôn thì kiến thức của các cán bộ còn nhiều hạn chế , chưa kịp thời nắm bắt được sự thay đổi của tình hình xã hội. Việc quản lý về kết hôn có yếu tố nước ngoài rất khó để thực hiện vì phạm vi tác động của quan hệ này không còn nằm trong khuôn khổ của một quốc gia.  Do đó để vận dụng những quy định của pháp luật vào đời sống một cách hiệu quả, một trong những nhân tố quan trọng đó là khả năng của con người. Trước hết, cần có sự phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước với nhau. Ngoài Bộ Tư pháp có trách nhiệm chính trong việc quản lý về tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài , các cơ quan khác như: Bộ Ngoại Giao, Bộ Công An, các tổ chức đoàn thể… sẽ có những hỗ trợ nhất định để giải quyết những vần đề phát sinh hiện nay. Bởi vì, mục đích chủ yếu và quan trọng trong hoạt động của các cơ quan này là đảm bảo trật tự xã hội. Cụ thể khi tiến hành công nhận mối quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải có sự xem xét đầy đủ về điều kiện kết hôn của các chủ thể cũng như có những biện pháp xử lý kịp thời nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Việc thực hiện những nội dung này nếu chỉ đơn thuần do một cơ quan đảm trách sẽ không đạt hiệu quả và sẽ rất dễ dẫn đến sai sót. Ngoài ra, cần có một chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ có chuyên môn phù hợp để đảm nhiệm những công việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình. Những người này phải đáp ứng những điều kiện về trình độ pháp luật, có những hiểu biết nhất định về pháp luật quốc gia cũng như tinh thần về Luật Quốc tế nói chung. Trên cơ sở đó việc áp dụng pháp luật sẽ được thực hiện một cách đúng đắn và hiệu quả hơn. 3.5. Hình thành và phát triển các khu Trung tâm tư vấn hôn nhân, bãi bỏ hoạt động môi giới. Cơ sở pháp lý cho việc hình thành các trung tâm môi giới hôn nhân đã quy định rất cụ thể trong Nghị định số 68 của Chính phủ. Thông qua đó các Trung tâm này hoạt động chủ yếu theo hướng phi lợi nhuận với sự quản lý của Hội Liên Hiệp Phụ nữ. Trên thực tế khả năng thực hiện quy định này còn nhiều hạn chế. Hiện nay mô hình các Trung tâm hỗ trợ kết hôn vẫn chưa được phổ biến, số lượng chỉ dừng lại ở con số rất khiêm tốn và chủ yếu được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ở những tỉnh khác thì rất ít. Một số ý kiến cho rằng việc giao độc quyền môi giới hôn nhân cho Hội Liên Hiệp Phụ nữ quản lý hoạt động khó hiệu quả. Quản lý nhà nước đối với hoạt động này cũng chưa chặt chẽ làm xuất hiện nhiều hiện tượng môi giới bất hợp pháp. Một số người đã lợi dụng vào việc hướng dẫn hỗ trợ kết hôn để kiếm lời từ khách hàng có nhu cầu. Nghiêm trọng hơn là hành vi buôn bán phụ nữ, lừa đảo ẩn sau việc đăng ký kết hôn là dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự Để khắc phục những hiện tượng tiêu cực đang diễn ra hiện nay và áp dung đúng nội dung của quy định pháp luật về hỗ trợ kết hôn thì trước hết cần thấy hai khái niệm môi giới và tư vấn có nội hàm không trùng khớp với nhau. Tư vấn chỉ mức độ đưa thông tin còn môi giới có thể tham gia làm trung gian. Theo tôi trong quản lý nhà nước đối với vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài chưa có sự ổn định và chặt chẽ thì đối vớí hoạt động môi giới kết hôn nên bãi bỏ. Ở đây cần tập trung vào việc xây dựng các trung tâm Tư vấn hỗ trợ kết hôn. Do tính chất của công việc này không đòi hỏi khả năng hay trình độ chuyên sâu mà chủ yếu là hướng dẫn trợ giúp những thông tin cần thiết cho những người có nhu cầu kết hôn. Để thực hiện có hiệu quả Hội Liên Hiệp Phụ nữ cần xem xét để có sự phối hợp trợ giúp từ các cơ quan nhà nước có chức năng liên quan như cơ quan Tư pháp, cơ quan Ngoại vụ, Đoàn Thanh niên, Trung tâm văn hóa thông tin… Tổ chức nhiều hình thức: * Lớp học về văn hóa nước ngoài, về phong tục tập quán các nước đặc biệt là ngôn ngữ. * Hỗ trợ về kiến thức pháp luật cho các cá nhân có nguyện vọng kết hôn thông qua các buổi sinh hoạt, phổ biến, các cuộc thi… Đây là những trợ giúp mang tính chất “tiền hôn nhân”, là cơ sở để đảm bảo sự hòa hợp sau này. Bên cạnh đó cần quan tâm hơn đến những đối tượng là phụ nữ. Một trong những đối tượng chịu hậu quả từ môi giới bất hợp pháp, ảnh hưởng đến dư luận, nhân phẩm và cuộc sống của họ. 3.6. Cần phải ký kết nhiều hơn nữa các Hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia trên thế giới. Đây là một giải pháp mang tính chiến lược lâu dài nhưng rất cần thiết trong lĩnh vực pháp luật. Hoạt động tương trợ tư pháp giữ vai trò quan trọng trong tình hình đang có nhiều biến động hiện nay, đặc biệt là khi Tòa Án và các cơ quan Nhà nước giải quyết các sự việc phát sinh có yếu tố nước ngoài, trong đó có vấn đề kết hôn. Chủ yếu của hoạt động này là do các cơ quan Tư pháp của các quốc gia thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực. Trong kết hôn có yếu tố nước ngoài thông qua việc đăng ký kết hôn các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa các quốc gia sẽ giải quyết được nhiều vấn đề đang tồn tại bất cập. Cụ thể là việc xem xét tính hợp pháp của hôn nhân, điều kiện kết hôn của các chủ thể có đáp ứng được hay không, cũng như việc theo dõi cuộc sống sau hôn nhân. Vì đối tượng trong quan hệ này thường tồn tại trên những khu vực lãnh thổ khác nhau. Đa số các vấn đề tiêu cực nảy sinh sau kết hôn, quyền và nghĩa vụ các bên bị xâm phạm, đặc biệt về phía người phụ nữ. Qua nghiên cứu xã hội về cuộc sống của các cặp nam nữ sau khi kết hôn có yếu tố nước ngoài phần lớn đều thiếu hạnh phúc và có khả năng dẫn đến ly hôn. Trong đó về người phụ nữ bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm mà không có sự hỗ trợ từ phía pháp luật. Pháp luật nước sở tại cũng như pháp luật Việt Nam vẫn chưa có cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người nước ngoài. 3.7. Luật hôn nhân và đình cần có quy định riêng về điều kiện kết hôn trong kết hôn có yếu tố nước ngoài. Hiện nay, chỉ có mỗi luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) là có quy định về các điều kiện kết hôn. Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ dừng lại ở các quan hệ hôn nhân trong nước và từ đó áp dụng chung cho cả các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Theo đó. Cần phải có những quy định riêng về các điều kiện kết hôn với người nước ngoài . Cụ thể, phải có đủ một số điều kiện (không chênh lệch quá về tuổi tác, có hiểu biết lẫn nhau) và mục đích hôn nhân phải là tự nguyện, tiến bộ. KẾT LUẬN Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, các vấn đề xã hội mới nảy sinh ảnh hưởng đến xu hướng phát triển chung của cả đất nước. Quy luật của Thị trường và sự vận động không ngừng của xã hội đòi hỏi bất kỳ một Quốc gia nào cũng cần có một chính sách cụ thể để điều tiết cho phù hợp. Chúng ta có thể đánh giá một nước phát triển dựa vào trình độ văn hóa nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò của xã hội mà trọng tâm là vấn đề con người. Gia đình là một tập hợp những con người có liên kết gắn bó với nhau về vật chất lẫn tình cảm. Do đó, khi thiết lập quan hệ hôn nhân đặc biệt là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; một trong những mục tiêu quan trọng được xác định là phải xây dựng một gia đình no ấm, trên cơ sở tình yêu chân chính. Các hoạt động kết hôn có yếu tố nước ngoài đã và đang làm biến đổi những giá trị truyền thống trong hôn nhân, làm ảnh hưởng đến lối sống và suy nghĩ của con người về gia đình. Tình trạng kết hôn giữa công dân trong nước với người nước ngoài thường không dựa trên cơ sở tình yêu mà thay vào đó là những mục đích kinh tế để đáp ứng nhu cầu cuộc sống. hôn nhân không còn giữ được những giá trị như ban đầu mà được thương mại hóa, quốc tế hóa từ nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội một phần cũng do những nguyên nhân khách quan từ thực tế, nhưng chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nhận thức của con người. Bài tiểu luận này thực hiện dựa trên cơ sở tìm hiểu những quy định pháp luật hiện hành (Điều 9 và Điều 10) của Luật Hôn nhân và Gia đình, thực trạng của việc áp dụng chúng và từ đó đưa ra những giải pháp đối với tồn tại trong tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay. Mặc dù đây chưa hẳn đã là những giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết những khó khăn, vướng mắc đang tồn tại nhưng tôi hy vọng rằng với việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp, tiểu luận này sẽ góp phần thiết thực, tạo ra những cơ sở nhất định cho việc xây dựng chiến lược lâu dài trong việc kết hôn có yếu tố nước ngoài này. Bởí trên thực tế đây là vấn đế mang yếu tố tâm lý tình cảm cần phải được tác động từ nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Tuy nhiên phạm vi của tiểu luận này chỉ phản ánh ở một nội dung nhất định trong khi kết hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay đang bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan bên ngoài thì pháp luật với vai trò là công cụ để nhà nước quản lý xã hội sẽ có những tác động tích cực lên quan hệ này để đảm bảo cho trật tự và ổn định xã hội nói chung.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài bài tập học kỳ môn luật hôn nhân và gia đình.doc
Luận văn liên quan