Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội

MỞ ĐẦU 1.Sự cần thiết của đề tài 2. Tình hình nghiên cứu 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Những đóng góp của luận văn 7. Kết cấu của luận văn CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1. Tiếp cận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1.1. Khái niệm 1.1.2. Đặc điểm 1.1.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.2. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế 2 1.2.1. Đối với nước đầu tư 1.2.2. Đối với nước nhận đầu tư 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.4.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc 1.4.2. Kinh nghiệm của Singapore 1.4.3. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 1.4.4. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 1.4.5.Các bài học rút ra cho Hà Nội trong thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI 2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Nội ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.2. Tình hình kinh tế 2.1.3. Kết cấu hạ tầng 2.1.3. Môi trường hành chính-pháp luật 2.1.4. Về lao động 2.1.5. Môi trường văn hóa – xã hội 2.1.6. Về an ninh, chính trị 2.1.7. Khoa học – công nghệ 2.2. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội 2.2.1. Tình hình cấp giấy phép các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.2.2. Cơ cấu ngành của các dự án đầu tư 2.3. Đóng góp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội 2.3.1. Đóng góp của FDI vào tăng trưởng kinh tế 2.3.3. Đóng góp FDI vào tạo việc làm cho người lao động 2.3.4. Tác động của FDI vào hội nhập quốc tế của Hà Nội 2.4. Những hạn chế trong thu hút FDI và nguyên nhân của hạn chế CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 3.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội 3.1.1. Bối cảnh quốc tế 3.1.2. Bối cảnh trong nước 3.2. Các chủ trương trong phát triển kinh tế - xã hội và thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội 16 3.3. Giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội trong thời gian tới 3.3.1. Giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút FDI 3.3.2. Nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thu hút FDI 3.3.3. Nâng cao và hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ thu hút FDI 3.3.4. Tiếp tục cải cách hành chính 3.3.5. Tăng cường phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chức năng KẾT LUẬN

doc106 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2759 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hế chính sách, thông tin về các dự án kêu gọi đầu tư, các dự án đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Xây dựng cơ chế chính sách, tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào xây dựng và phát triển hạ tầng các khu công nghiệp theo quy hoạch; tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhanh chóng xây dựng nhà xưởng, lấp đầy các khu, cụm công nghiệp. Công khai quy trình trên trang web của Thành phố và một số sở, ban, ngành liên quan, đồng thời rút ngắn thời gian, giảm chi phí trong việc hoàn tất thủ tục hồ sơ giao đất, cho thuê đất trong các khu công nghiệp cho doanh nghiệp. Cần giảm bớt số lượng các cơ quan, các khâu và các cấp trong quá trình xét duyệt cho doanh nghiệp thuê đất, nhấn mạnh cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính. Thực hiện có hiệu quả công tác huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, cấp thoát nước trong các khu công nghiệp thông qua nguồn thu từ đất và từ nhà đầu tư. Khuyến khích, định hướng cho doanh nghiệp đầu tư vào khu, cụm công nghiệp tập trung để có điều kiện đầu tư hạ tầng đồng bộ phục vụ và hỗ trợ tốt cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Đảm bảo tốt việc cung cấp cho doanh nghiệp về điện, nước, xử lý chất thải và dịch vụ thông tin liên lạc theo hướng hiện đại, tiện ích cao. c, Chính sách lao động Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn làm cơ sở đẩy mạnh công tác xã hội hóa, kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển các trường dạy nghề trên địa bàn. Khuyến khích, ưu tiên xây dựng các trường có đầy đủ trang thiết bị phục vụ đào tạo những ngành nghề sử dụng công nghệ cao đáp ứng được yêu cầu phát triển của Thành phố. Phối hợp với Trung ương, tăng cường hợp tác với các tổ chức nước ngoài để đào tạo, nâng cao, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề. Xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực cho cả lực lượng lao động sẵn có và lực lượng lao động dự bị, đáp ứng được yêu cầu hiện tại, đồng thời phù hợp với định hướng ưu tiên phát triển các ngành sử dụng công nghệ cao, trình độ cao của thành phố. Chương trình đào tạo cần nghiên cứu xây dựng và phát triển trên cơ sở nhu cầu lao động của từng ngành kinh tế, tập trung vào chương trình dạy nghề, giúp phần nào giảm gánh nặng cho doanh nghiệp. Phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp, các cơ quan Trung ương, các Viện, Trường đại học triển khai các chương trình hỗ trợ đào tạo lãnh đạo cấp cao cho các doanh nghệp Hà Nội, trang bị tầm nhìn và những kiến thức mới trong môi trường toàn cầu hóa, cung cấp những công cụ và thông lệ tốt đang được các công ty, tập đoàn kinh tế thế giới áp dụng. Xây dựng chương trình và tổ chức các khóa đào tạo giám đốc điều hành cho doanh nghiệp với sự tham gia của các chuyên gia, các giám đốc điều hành có kinh nghiệm và uy tín trong khu vực và trong nước. Tiếp tục tích cực triển khai Chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hỗ trợ kinh phí đào tạo, cập nhật và bổ sung kiến thức cho các nhân viên, người lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quá trình đào tạo lao động ngoài việc hướng dẫn những kỹ năng chuyên môn cần chú ý giáo dục ý thức, kỷ luật lao động, hiểu biết của những người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của mình. Hoàn thiện các loại văn bản quy định áp dụng đối với người lao động trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Các văn bản đặc biệt chú trọng là quy định về tuyển dụng, lựa chọn lao động, chức năng các cơ quan quản lý lao động, chính sách tuyển dụng, đào tạo, khen thưởng và đãi ngộ, các văn bản xử lý tranh chấp về lao động, tiền lương. Hoàn thiện bộ máy thi hành pháp luật về quản lý lao động trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, thành lập tòa án lao động để xử lý tranh chấp lao động cá nhân và lao động tập thể. Tăng cường hiệu lực các quy định Nhà nước về lao động đặc biệt là quy định về ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, xử lý nghiêm minh những trường hợp làm sai quy định về trả công lao động, tính thuế thu nhập cho người nước ngoài. Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp, công đoàn là người đại diện hợp pháp cho người lao động và bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Công đoàn cần thực hiện tốt vai trò phổ biến và giáo dục pháp luật cho người lao động đồng thời cần có tiếng nói đề xuất với các cấp, các ngành, các nhà đầu tư về việc xây dựng đề án về nhà ở và phúc lợi công cộng phục vụ lao động trong các khu công nghiệp. Tránh tình trạng hoạt động của công đoàn đi ngược lại với lợi ích của người lao động. Phát huy vai trò của cơ quan thanh tra lao động trong việc kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách lao động và tiền lương của các dự án đầu tư nước ngoài, đồng thời sửa đổi các chính sách về lao động và tiền lương cho thích hợp. d, Chính sách thị trường Vấn đề định hướng thị trường và tiêu thụ sản phẩm cho các dự án đầu tư nước ngoài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Thị trường cho các dự án này cần được nhìn nhận cả thị trường “đầu vào” và thị trường đầu ra. Đối với thị trường đầu vào cần chú trọng các loại máy móc, thiết bị công nghệ được đưa vào đầu tư với thế hệ mới, hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường đồng thời có chính sách khuyến khích các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thu mua nguyên liệu của địa phương sản xuất. Đối với thị trường “đầu ra” cần chú trọng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm cả ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Đẩy mạnh các hoạt động mở rộng thị trường cho các dự án đầu tư nước ngoài thông qua việc khuyến khích xuất khẩu và xúc tiến thương mại. Khai thác các thế mạnh của bên nước ngoài trong hoạt động nghiên cứu thị trường để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Định hướng tiêu thụ sản phẩm theo khuôn khổ pháp lý thích hợp để tránh tình trạng cạnh tranh về giá cả dẫn đến việc bán phá giá, bán hàng kém chất lượng ra thị trường. Cần nhanh chóng xây dựng và thông qua Luật cạnh tranh, Luật chống đầu cơ, chống bán phá giá hàng hóa… Tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý thị trường, chống các hiện tượng buôn bán hàng lậu, hàng giả, lừa đảo trong kinh doanh, vi phạm bản quyền và gian lận thương mại…, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp theo các cam kết WTO. e, Chính sách khoa học và công nghệ Để đạt được mục tiêu thu hút công nghệ hiện đại trong thời gian tới, điều đầu tiên cần phải thực hiện là xây dựng một chính sách thu hút công nghệ hữu hiệu. Chính sách này phải chỉ ra được lộ trình dài hạn cho việc thu hút công nghệ nước ngoài với các biện pháp và công cụ khác nhau, đặc biệt là việc xây dựng các chính sách thu hút công nghệ hợp lý với điều kiện của Việt Nam. Cần coi trọng việc hình thành các khu công nghệ cao, công nghệ sạch ở những vùng thích hợp trong nước với hệ thống quy chế rõ ràng, tạo điều kiện hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các loại máy móc, thiết bị đưa vào góp vốn đầu tư hoặc nhập khẩu từ nước ngoài cần phải thực hiện việc giám định chất lượng và giá cả một cách nghiêm minh theo các quy định của pháp luật để tránh tình trạng nhập khẩu hoặc chuyển giao thiết bị, máy móc lạc hậu với giá cả cao. Bên cạnh đó, thúc đẩy việc hình thành thị trường khoa học và công nghệ, đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ của Thành phố trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp nói chung và nguyên vật liệu đầu vào phục vụ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng. Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học công nghệ, nghiên cứu mô hình liên kết hiệu quả giữa các trường, viện nghiên cứu với các doanh nghiệp trong việc xác định nhu cầu, triển khai và chuyển giao ứng dụng kết quả nghiên cứu. Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư, sớm xây dựng cơ sở vật chất nghiên cứu khoa học, hạ tầng cung cấp, trao đổi mua bán thông tin và công nghệ trên địa bàn. Tổ chức và tham dự định kỳ các chợ thiết bị và công nghệ tại Hà Nội và các tỉnh, đồng thời xây dựng phát triển chợ công nghệ ảo trên mạng. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về vai trò của việc đổi mới kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Phối hợp với các bộ, ngành, Trung ương, các tổ chức, hiệp hội ngành nghề để thúc đẩy triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ, nâng cao năng lực kỹ thuật, công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Triển khai Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp theo quyết định số 68/2005/QĐ-TTg ngày 04/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng hệ thống quản lý quyền sở hữu trí tuệ, đăng ký chất lượng, nhãn mác, in mã số, mã vạch sản phẩm. Tuyên truyền nâng cao nhận thức, hỗ trợ đào tạo các doanh nghiệp về xây dựng, khai thác phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ; ưu tiên các doanh nghiệp có sản phẩm chiến lược. Hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO, TQM…). Khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành; ứng dụng hệ thống quản lý theo mục tiêu; nghiên cứu, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ và các phương pháp quản lý tiên tiến.. 3.3.2. Nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thu hút FDI Mỗi địa phương đều có tổ chức xúc tiến đầu tư riêng, ở Hà Nội có trung tâm xúc tiến đầu tư trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội chính là cơ quan phụ trách thông tin về xúc tiến đầu tư. Cơ quan này là đầu não vạch kế hoạch chiến lược thu hút FDI, chịu trách nhiệm tập hợp những đối tác có năng lực trong hoạt động xúc tiến, các nguồn thông tin hiện tại, cơ sở pháp lý, chuyên gia và nhà tư vấn trong và ngoài nước, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cũng như tin tức cập nhật về Hà Nội. Tất cả những vấn đề này cần được cung cấp cho các cơ quan và tổ chức khác cùng hoạt động xúc tiến, tạo ra sự lưu thông thông tin nhiều chiều giữa các cơ quan hoạt động liên quan. Trung tâm xúc tiến đầu tư cần xây dựng mạng lưới hoạt động tại các quốc gia mục tiêu. Các cơ sở xúc tiến ở nước ngoài sẽ chịu sự điều phối của Sở Kế hoạch và Đầu tư. Những cơ sở này đảm nhiệm thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm: Xây dựng mối quan hệ với hãng truyền thông, phát hành đều đặn thông cáo báo chí, giới thiệu về địa điểm kinh tế Hà Nội, chuẩn bị chuyến đi của phái đoàn Việt Nam sang nước sở tại, xây dựng và củng cố các mối quan hệ với hiệp hội ngành nghề, phòng Công nghiệp và Thương mại, công ty hỗ trợ kinh tế và cơ quan trung gian khác như ngân hàng và nhà tư vấn cũng như trực tiếp với doanh nghiệp tích cực có chuyến thăm và có thể tham gia tại các cuộc tổ chức thông tin về Châu Á và những hội chợ chuyên ngành quan trọng. Văn phòng này đóng vai trò trung gian giữa các doanh nghiệp nước sở tại muốn làm việc với doanh nghiệp Hà Nội và ngược lại. Việc xây dựng và quản lý mạng lưới hoạt động nêu trên, cũng như bảo đảm cho hoạt động xúc tiến có hiệu quả cần cử đại diện am hiểu về quốc gia sở tại, có thể xây dựng một đại diện lâu dài hoặc tạm thời làm việc luân phiên tại nước ngoài với văn phòng riêng cho hoạt động xúc tiến hoặc giao nhiệm vụ cho một cơ quan nước ngoài hoặc một công ty tư vấn (điểm này có lợi là doanh nghiệp nước sở tại có thể hiểu rất rõ mọi điều hơn là đại diện Hà Nội thường trú và họ có thể tận dụng mối quan hệ sẵn có). Bên cạnh đó, cán bộ làm việc trong bộ phận trực tiếp liên quan đến hoạt động thúc đẩy FDI nhất thiết phải biết ngoại ngữ, hiểu biết về nền kinh tế thị trường, hiểu biết về các quốc gia và kinh nghiệm ở nước ngoài, có kinh nghiệm tiếp thị hoặc xúc tiến. Hiện tại đào tạo và tái đào tạo đội ngũ chuyên trách này rất cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì công tác này đặc biệt quan trọng. Về dài hạn, chính quyền Thành phố cần phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục và Đào tạo để xây dựng một chương trình đào tạo phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Sử dụng người nước ngoài từ các thị trường mục tiêu làm chuyên gia tư vấn cũng đem lại nhiều ưu thế. Họ hiểu biết về chính văn hóa bản địa, lối sống, tập quán kinh doanh,.. Trước khi xúc tiến đầu tư, cần tạo ra được một hình ảnh Hà Nội thật ấn tượng, một điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư. Việc thiết kế hình ảnh cần được làm bởi một công ty quảng cáo chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. Thiết kế và tạo dựng hình ảnh là công việc khó khăn, có ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động thu hút FDI nói riêng cũng như phát triển kinh tế nói chung của Thành phố. Hình ảnh phải ấn tượng, tác động mạnh mẽ đến nhu cầu đầu tư, phải làm nổi bật ba tiêu chí: lợi nhuận mà nhà đầu tư nước ngoài có được khi họ đầu tư trên địa bàn Thành phố, sự trợ giúp hiệu quả từ phía chính quyền Thành phố, những ưu thế nổi bật của Hà Nội so với địa phương khác. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời nhằm gây ấn tượng, thu hút sự chú ý. Về dài hạn, muốn lôi kéo nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng và giữ chân nhà đầu tư hiện tại chính quyền Thành phố cần thực hiện cải cách hành chính công thực sự hiểu quả như những tiêu chí này. Lợi nhuận là động lực chính thúc đẩy mọi nhà đầu tư, khi đặt lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài lên hàng đầu thì sẽ có tác động tích cực, gây ấn tượng mạnh đến nhu cầu tìm hiểu môi trường đầu tư ở Hà Nội, điều quan trọng là phải chỉ ra đây là nguồn lợi ích lâu dài, bền vững. Nêu bật vị trí địa lý Hà Nội: “Hà Nội-Thủ đô nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, sẽ được nhà đầu tư đánh giá là vùng đất có vị trí quan trọng, ghi dấu ấn đậm nét trong tâm trí nhà đầu tư, sẽ nâng cao được vị thế cạnh tranh, nhiều nhà đầu tư sẽ quan tâm đến ưu thế này. Thêm vào đó, việc làm nổi bật sự trợ giúp hiệu quả từ phía chính quyền hàm ý một chính quyền năng động, hướng đến phục vụ doanh nghiệp, thủ tục hành chính được cải cách theo cơ chế một cửa, tại chỗ góp phần tạo ra sự đơn giản và minh bạch thủ tục hành chính với cơ chế quản lý thông thoáng hơn. Và để nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư cần có sự kết hợp thực hiện tốt các cách xúc tiến sau: Bảng 3.2: Các cách xúc tiến thu hút đầu tư Xây dựng hình ảnh Tạo nguồn đầu tư Dịch vụ đầu tư 1. Quảng cáo trên các phương tiện truyền thông chung. 2. Tham gia các cuộc triển lãm, hội thảo đầu tư. 3. Quảng cáo trên các phương tiện tuyên truyền riêng của ngành hay khu vực. 4. Các đoàn khảo sát tới nước, vùng, địa phương có nguồn đầu tư và ngược lại. 5. Hội thảo thông tin chung về cơ hội đầu tư. 6. Tham gia các chiến dịch qua điện thoại hoặc qua thư tín. 7. Phái đoàn tham quan riêng về ngành hoặc khu vực từ nước, vùng, địa phương đầu tư sang nơi có ý định đầu tư và ngược lại. 8. Hội thảo thông tin về ngành hay một khu vực cụ thể. 9. Tham gia nghiên cứu những công ty cụ thể. 10. Cung cấp các dịch vụ tư vấn đầu tư. 11. Xem xét giải quyết các đơn xin đầu tư và giấy phép đầu tư. 12. Cung cấp các dịch vụ sau đầu tư. Khi quảng cáo cần quan tâm đến tài liệu thông tin quảng cáo, đây là ấn phẩm quảng cáo, được phát miễn phí, cần thu hút được sự chú ý cũng như khái quát thông tin. Thông tin phải tổng hợp nét đặc thù, nổi bật và những lợi thế quan trọng nhất cho một thoáng nhìn với sự trình bày phù hợp, bắt mắt để đánh thức mối quan tâm, tò mò đi sâu hơn nữa vào môi trường đầu tư Hà Nội. Việc cung cấp địa chỉ liên hệ cho những thông tin là rất cần thiết. Những thông tin ban đầu không nên quá chi tiết mà chỉ tóm lược những nét quan trọng nhất. Sử dụng đĩa CD, DVD sẽ có đủ dung lượng để lưu trữ các thông tin chi tiết. Thông tin chi tiết về địa điểm kinh tế Hà Nội cần trình bày mạch lạc và đơn giản. Nội dung chính nên gồm: Quy trình cấp phép đầu tư, cơ quan cấp phép đầu tư, thông tin về từng khu, cụm điểm công nghiệp, danh sách địa chỉ những nơi cung cấp thông tin và các doanh nghiệp tư vấn, hệ thống thuế các chương trình thu hút đầu tư ưu đãi, các quy định của pháp luật, các nghiên cứu thị trường đang có, sự trợ giúp của chính quyền như thế nào khi doanh nghiệp gặp khó khăn khi phát sinh cần giải quyết, cơ quan nào sẽ giải quyết, thành công của các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn...Tài liệu này cần trình bày có tính chuyên nghiệp với thiết kế kiểu cách phù hợp, sử dụng song ngữ Anh-Việt. Ngoài những ưu điểm được nêu thì những nhược điểm cũng phải được đề cập. Điều này giúp nâng cao độ tin cậy và tránh khỏi những thất vọng của nhà đầu tư. Việc biên soạn nội dung tài liệu cần được thực hiện bởi một công ty tiếp thị chuyên nghiệp, soạn thảo bằng ngôn ngữ kinh tế. Không những vậy, trước khi xây dựng tài liệu thì bắt buộc phải biết rõ nhóm mục tiêu nào nên tiếp cận và nhu cầu thông tin của nhóm đó. Những tài liệu này phải được gửi tới tay người nhận. Phương thức phát hành tài liệu có thể là: Phân phát tại cuộc hội thảo, triển lãm về thu hút FDI, những cuộc gặp mặt nhà đầu tư, họp báo chí với các cơ quan thông tấn trong và ngoài nước, gửi thư điện tử, để trên website trang thông tin điện tử Hà Nội mà người đọc có thể tải về,… Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động để tạo dựng chính xác hình ảnh một Thành phố Hà Nội thực sự là điểm đến của các nhà đầu tư là công việc của từng ngành, từng địa phương… Cùng với việc xây dựng kế hoạch kêu gọi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng cần xây dựng các dự án cụ thể và có biện pháp bố trí đối tác, cán bộ giải pháp tài chính. Mặt khác, cần nghiên cứu thành lập các tổ chức tư vấn đầu tư chuyên ngành ở từng địa phương để tư vấn các dịch vụ triển khai dự án khi được cấp giấy phép đầu tư tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư. Nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp năng động, hiệu quả của các trung tâm xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và xúc tiến du lịch của Thành phố. Có kế hoạch xúc tiến hướng vào thị trường và sản phẩm cụ thể, lấy đối tượng khách hàng là doanh nghiệp làm trọng tâm. Tăng cường liên kết, phối kết hợp giữa các cơ quan xúc tiến thương mại với xúc tiến đầu tư, xúc tiến du lịch của Thành phố với các hiệp hội ngành hàng, tổ chức quốc gia và quốc tế (VCCI, …), thương vụ Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, các cơ quan truyền thông đại chúng và doanh nghiệp. Phối hợp với các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trong cả nước, các tổ chức xúc tiến đầu tư thương mại du lịch của các nước trong khu vực và quốc tế, tổ chức các hội chợ thương mại kết hợp với hội chợ du lịch, xúc tiến đầu tư. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác xúc tiến thương mại: kho ngoại quan, hạ tầng công nghệ thông tin để xử lý thông tin thương mại, phục vụ giao dịch trực tuyến…Tập trung xây dựng các trung tâm hội chợ triển lãm, hội nghị quốc tế chuyên nghiệp có quy mô lớn, trang bị hiện đại, gắn liền với các khu dịch vụ phụ trợ khác. Các sở, ngành cùng một tờ báo của Thành phố triển khai thực hiện chuyên trang, nhằm hỗ trợ thông tin về kế hoạch xúc tiến quảng bá thương mại – dịch vụ- đầu tư cho doanh nghiệp. Trên cơ sở quy hoạch ngành, sản phẩm, lãnh thổ, danh mục dự án ưu tiên, khuyến khích, kêu gọi đầu tư đã được chuẩn bị kỹ; các Sở, Ban, Ngành cần chủ động tiến hành vận động, xúc tiến đầu tư một cách cụ thể, trực tiếp đối với từng dự án, trực tiếp với từng tập đoàn, công ty và nhà đầu tư có tiềm năng. Chú ý xúc tiến mạnh mẽ vào các nhà đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp, lĩnh vực xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, các nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản. Công tác vận động xúc tiến đầu tư cần được đổi mới cơ bản về nội dung và phương thức thực hiện. Trước hết, cần xác định xúc tiến đầu tư cũng như xúc tiến thương mại là nhiệm vụ và trách nhiệm của các Sở, Ban, Ngành; đồng thời thành lập bộ phận chuyên trách xúc tiến đầu tư của ngành. Đối với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn, Thành phố cần bố trí một phần thỏa đáng kinh phí cho công tác xúc tiến đầu tư. Cần có quan hệ chặt chẽ với các tham tán thương mại của Đại sứ quán nước ta ở nước ngoài thông qua Bộ Ngoại giao để xây dựng được mạng lưới thông tin kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài và kiểm tra nắm chắc các đối tác nước ngoài và có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn đối với nhà đầu tư trá hình, lừa đảo có ý đồ xấu, phá hoại kinh tế - chính trị của Thành phố. 3.3.3. Nâng cao và hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ thu hút FDI Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật không chỉ là điều kiện cần để tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư triển khai dự án và các kế hoạch đầu tư của mình, mà đó còn là cơ hội để nước ta tăng thu hút vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực cơ sở vật chất, hạ tầng, kỹ thuật. Thành phố cần có vai trò chủ yếu và chủ động trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng vì đầu tư vào kết cấu hạ tầng hết sức tốn kém, yêu cầu vốn lớn, thu hồi vốn chậm. Cần đặc biệt coi trọng việc nâng cấp và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng như mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống điện, cấp nước, đường giao thông, sân bay, bến cảng, kho tàng, bến bãi, xử lý chất thải và vệ sinh môi trường. Trước mắt cần tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật năm khu vực đô thị vệ tinh, tạo đòn bẩy tăng trưởng nhanh cho nền kinh tế Thành phố và dân số sẽ bớt tập trung ở khu vực nội thành thủ đô. Bên cạnh đó, quy hoạch các dự án đầu tư nói chung và dự án đầu tư nước ngoài nói riêng phải đảm bảo các nguyên tắc: phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố; quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; đảm bảo sự liên kết trong phát triển kinh tế giữa các Quận, huyện thông qua các trục đường phát triển kinh tế và khai thác giá trị từ quỹ đất hai bên đường; gắn với quy hoạch ngành, lãnh thổ trên cơ sở quy hoạch các vùng nguyên liệu. -Trong quy hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần chú ý xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp cơ bản. Quy hoạch từ một đến hai khu công nghiệp, có quy mô mỗi khu khoảng 1000-1500ha dành riêng cho thu hút FDI hoặc dành riêng cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ có đầy đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng. Các khu công nghiệp có quy mô lớn như trên nên quy hoạch và xây dựng nằm dọc trục đường phát triển kinh tế phía nam Thành phố như địa bàn huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Oai, Ứng Hòa, Mỹ Đức. Đây là những địa phương có vị trí chiến lược thuận lợi cho lưu thông hàng hóa theo đường bộ (đường Hồ Chí Minh) và đường biển (cảng Hải Phòng) đồng thời là những địa bàn có lợi thế độ dốc về địa hình sẽ giảm bớt chi phí đầu tư trong lĩnh vực cấp, thoát nước và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trên cơ sở đó, tiến hành mời gọi các tập đoàn, công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia…vào đầu tư kinh doanh hạ tầng để khai thác các khu công nghiệp trên. - Nghiên cứu, đề xuất ban hành Quy chế quản lý khu công nghiệp dành riêng cho đầu tư nước ngoài, trong đó cần nghiên cứu xây dựng các quy định về hàng rào kỹ thuật ngay từ khi lập quy hoạch có liên quan đến việc xem xét tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp dành riêng cho FDI, xác định rõ hướng ưu tiên về đối tác đầu tư, vùng và lĩnh vực ưu tiên kêu gọi vốn đầu tư, tiêu chí lựa chọn dự án và nhà đầu tư, tính khả thi của phương án đầu tư, các giải trình kinh tế - kỹ thuật, chứng minh năng lực tài chính, đóng góp ngân sách, khả năng thu hút và đào tạo lao động địa phương, các phương án bảo vệ môi trường, sự đảm bảo về an ninh–quốc phòng. Đồng thời Thành phố cần xây dựng định hướng những điều kiện hỗ trợ về cơ sở hạ tầng – kỹ thuật trong đó có việc quy hoạch và phân lô các lô đất; tiêu chuẩn của lô đất với quy mô, diện tích, cơ sở hạ tầng – kỹ thuật phù hợp với tiêu chí và điều kiện của dự án được tiếp nhận; xác định đơn giá các lô đất và phí hạ tầng để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư tiếp cận với thông tin và triển khai thực hiện dự án đầu tư. Tổ chức rà soát toàn diện tiến độ, khả năng triển khai của các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cũng như dự án đầu tư khu công nghiệp, đôn đốc nhà đầu tư đảm bảo đúng tiến độ, đồng thời xem xét năng lực tài chính, khả năng triển khai của các dự án để có biện pháp hỗ trợ, kiên quyết thu hồi đất các dự án không có khả năng triển khai.  - Thực hiện phân công và xác định rõ trách nhiệm cụ thể việc quản lý các vùng quy hoạch đã được phê duyệt cho địa phương. Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, Chính quyền địa phương có trách nhiệm thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng hoặc giao cho doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng thực hiện. Mặt khác, xây dựng sẵn đơn giá cho thuê đất, chi phí hạ tầng,..để có sẵn các thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư tìm hiểu về môi trường đầu tư của Hà Nội. Tiến hành lập danh mục dự án, địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu tư, các lĩnh vực đầu tư có điều kiện để kêu gọi thu hút vốn đầu tư trên cơ sở các quy định của Nhà nước để cụ thể hóa cho địa phương. Trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng ngoài việc thực hiện thủ tục đền bù và chi trả tiền đền bù theo quy định của pháp luật, chính quyền Thành phố và chủ đầu tư cần phải quan tâm tới việc đảm bảo nghề nghiệp và cuộc sống lâu dài của người dân có đất bị thu hồi, đặc biệt là người nông dân. Để phát huy vai trò của khu công nghiệp cần nghiên cứu tạo điều kiện cho người nông dân ở khu vực đất nông nghiệp kém hiệu quả chuyển đổi nghề nghiệp, làm việc trong khu công nghiệp hoặc dịch vụ khu công nghiệp để nâng cao đời sống của người dân. - Trên cơ sở quy hoạch hàng năm, Hà Nội cần bố trí lượng vốn nhất định giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng các ngành có liên quan xây dựng các danh mục dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài phù hợp với nhu cầu các nhà đầu tư, đồng thời dành một tỷ lệ đáng kể trong cân đối và bố trí vốn từ ngân sách tỉnh để tập trung đầu tư xây dựng và hoàn thiện các công trình ngoài hàng rào các khu công nghiệp. Đảm bảo mức độ sẵn sàng tối đa trong điều kiện cho phép về hạ tầng kỹ thuật, tránh tình trạng khi có các đối tác nước ngoài đến rồi mới chuẩn bị các điều kiện, như vậy vừa mất thời gian, bị động vừa bỏ lỡ mất cơ hội đầu tư. 3.3.4. Tiếp tục cải cách hành chính Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước đối với FDI: -Tiếp tục kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy của các cơ quan có liên quan trực tiếp tới đầu tư, rà soát, tăng cường bổ sung đội ngũ cán bộ, công chức trẻ có năng lực, kiến thức pháp luật, ngoại ngữ, tin học, đảm bảo phẩm chất nhất là đội ngũ cán bộ trực tiếp xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường đầu tư mà trước hết là tại các ngành Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Tài chính, Thuế, Phòng kinh tế hạ tầng, các Ban quản lý dự án, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho đội ngũ cán bộ công chức…đi đôi với việc phải kiên quyết không bố trí các công việc có liên quan đến đầu tư đối với những cá nhân có sai phạm về phẩm chất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ thấp không đáp ứng được yêu cầu. - Tăng cường cải tiến thủ tục hành chính, giảm các thủ tục đối với doanh nghiệp và công dân; thực hiện tốt cơ chế một cửa và “một cửa liên thông” trong việc xem xét, tiếp nhận các dự án đầu tư, giao đất, cấp phép xây dựng và các công việc có liên quan khác. Coi trọng công tác tư vấn đầu tư, tạo điều kiện cho các đơn vị tư vấn, không phân biệt trong và ngoài Thành phố được chủ động liên hệ tiếp xúc với các chủ dự án để lập hồ sơ dự án, qua đó nâng cao chất lượng hồ sơ. - Cần tăng cường hiệu lực pháp lý của các quyết định hành chính để cán bộ các cấp, người dân và doanh nghiệp cùng thực hiện trách nhiệm của mình theo đúng quy định. Những vướng mắc của doanh nghiệp cần được các cấp cính quyền tháo gỡ kịp thời. - Thành lập bộ máy thường trực của thành phố, quận, huyện trong xử lý nhanh chóng và có hiệu quả các vấn đề liên quan đến đất đai đối với thu hút đầu tư như thủ tục cấp đất, đền bù, giải tỏa, giải phóng mặt bằng, tạo sẵn quỹ đất sạch, đảm bảo tính ổn định của khu đất sẵn sàng mời đón nhà đầu tư. - Tiếp tục rà soát, không ngừng hoàn thiện, đơn giản hóa các thủ tục hành chính một cách toàn diện, triệt để theo hướng minh bạch, quy định rõ ràng thời gian nhận và xử lý hồ sơ, trách nhiệm của các cơ quan chức năng; kịp thời xử lý vướng mắc, tạo tâm lý yên tâm cho doanh nghiệp. Quan tâm trước hết đến các quy trình, thủ tục trong lĩnh vực quy hoạch đất đai, đầu tư xây dựng, thành lập doanh nghiệp,…Lãnh đạo sở, ngành, quận, huyện xem xét, giải quyết kịp thời các vướng mắc của doanh nghiệp theo thẩm quyền. Nếu thuộc thẩm quyền của cấp trên, các cấp, các ngành cần phối hợp với doanh nghiệp, kiến nghị Thành phố hay Trung ương giải quyết. - Tập trung xây dựng và thực hiện các kế hoạch cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan chủ trì, phối hợp trong việc hoàn thiện những thủ tục hành chính quan trọng: + Thủ tục thành lập doanh nghiệp: các đơn vị: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, Công an Thành phố tiếp tục chủ động nghiên cứu, thực hiện sáng tạo các hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương trong phối hợp giữa cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh, đăng ký mẫu dấu và đăng ký mã số thuế. Đồng thời khẩn trương nghiên cứu hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn, giúp doanh nghiệp dễ dàng nắm bắt, hiểu rõ quy trình thủ tục, giảm thời gian mà doanh nghiệp phải sửa chữa. hoàn thiện hồ sơ giấy tờ. Rà soát, đề xuất hợp lý hóa các khâu tổ chức, cải tiến loại bỏ những khâu công việc, thủ tục bất hợp lý, giảm bớt giấy tờ không cần thiết thông qua việc ứng dụng tin học hóa trong các khâu thủ tục thành lập doanh nghiệp. Tăng cường cơ sở vật chất các cơ quan giải quyết thủ tục đăng ký kinh doanh. + Về các loại giấy phép: các Sở, ngành Thành phố rà soát các giấy phép, giấy chứng nhận, quyết định chấp nhận…xóa bỏ những loại không cần thiết, hiệu quả quản lý không cao. Giao Sở Tư pháp là đầu mối của Thành phố theo dõi quá trình xây dựng, ban hành các quy định liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, có trách nhiệm báo cáo ngay cho UBND Thành phố về những trường hợp ban hành “giấy phép con” hoặc các quy định vi phạm Luật Doanh nghiệp của các cấp, các ngành để kịp thời giải quyết. -Tăng cường và đa dạng hóa hoạt động đối thoại công tư, đẩy mạnh việc công khai minh bạch hóa thông tin cho doanh nghiệp. Đối thoại công – tư là sự đối thoại có tổ chức giữa khu vực tư nhân và khu vực công cộng để cải thiện môi trường đầu tư, đối thoại không chỉ là các kỹ thuật để hoàn thiện bộ máy tổ chức, tăng cường trao đổi thông tin, xây dựng sự đồng thuận hay tháo gỡ vướng mắc. Đối thoại dựa trên nguyên tắc là lời nói và việc làm phải thực sự đi đôi với nhau. Các hoạt động đối thoại có thể được triển khai dưới nhiều hình thức như đối thoại giữa UBND Thành phố với khu vực doanh nghiệp hoặc đối thoại của từng cơ quan chức năng với các doanh nghiệp. Đối tượng tham gia có thể tương đối hẹp như giữa một bên là chính quyền với một bên là các doanh nghiệp, hoặc có thể mở rộng ra bao gồm các tổ chức xã hội nghề nghiệp (các hiệp hội nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hội của người tiêu dùng…), các chuyên gia tư vấn, các cơ quan truyền thông và các nhà tài trợ nước ngoài. Khi thiết lập và triển khai hoạt động đối thoại công – tư cần chú ý tới các yếu tố sau: Khởi động đối thoại; thu hút các đối tượng tham gia; cơ cấu tổ chức và quy chế đối thoại; thiết lập mục tiêu và thực hiện mục tiêu; vai trò của các nhà tài trợ; chiến lược truyền thông. Để cho các hoạt động đối thoại công tư mang lại hiệu quả, cần tuân thủ những nguyên tắc sau: + Văn hóa của khu vực công cần phải phản ánh sự thay đổi từ hành chính sang phục vụ trong việc cung cấp các dịch vụ hành chính công. + Khu vực công phải cân đối giữa yêu cầu về kỹ năng hành chính với các kỹ năng phát triển kinh tế và kinh tế - xã hội. + Khu vực công phải đi xác định và sử dụng những thông tin phản hồi tích cực lẫn chưa tích cực. + Các tổ chức tự chủ cần được hỗ trợ và khuyến khích tham gia đối thoại. + Sự tham gia của nhiều đối tượng sẽ được áp dụng để tránh khó khăn về vấn đề ai là người ra chủ đề đối thoại. + Quá trình đối thoại cần được chuẩn bị, tổ chức và điều hành một cách công khai. + Những người tham gia đối thoại phải được biết, chia sẻ, thảo luận và đồng ý về một loạt các biện pháp nhắm giải quyết một loạt các vấn đề. + Các mối liên hệ cộng tác phải được phát triển giữa các cơ quan hành chính giữa các nước, các vùng, địa phương. + Tất cả các công chức phải được khuyến khích để phản hồi những thông tin từ thực tiễn. Các công chức trực tiếp làm việc với doanh nghiệp cần được khuyến khích thu thập, phản hồi và kiểm nghiệm đề xuất thông qua các cuộc đối thoại trong quá trình làm việc. + Các cơ quan đại diện của chính quyền sẽ đảm bảo không mang tính chất chính trị (không được vì lợi ích của một nhóm cụ thể nào đó) để duy trì một sự ủng hộ rộng rãi cho tất cả các bên đối thoại. + Các nhà ra chính sách phải tham gia trực tiếp vào đối thoại trên cơ sở thúc đẩy và tăng cường hiệu quả của đối thoại. + Đối thoại cần được kết hợp với các phương pháp định lượng để tạo ra kết quả cao nhất. + Quá trình đối thoại cần được quảng bá rộng rãi và chu đáo. + Cần có bản hướng dẫn người phụ trách và nhóm phụ trách đối thoại để có cùng sự hiểu biết thống nhất về các sáng kiến, cách thức tiến hành, các kết quả là cơ sở chung cho các kết luận về chính sách mang tính xây dựng. + Tạo điều kiện cho doanh nghiệp được đối thoại trực tiếp nói lên tiếng nói của mình. Tổ chức định kỳ những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc giữa doanh nghiệp và chính quyền. Chính quyền biết lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp. Thành phố cần xây dựng quy chế về đối thoại công – tư trong đó lãnh đạo của Thành phố phải có phản hồi ý kiến doanh nghiệp trong vòng 1 tuần thông qua báo chí. Thể chế hóa và tăng cường thực hiện cơ chế lấy ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp trước khi ban hành những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp. Tạo dựng cơ chế thông tin hai chiều thường xuyên, tăng cường các diễn đàn trao đổi giữa chính quyền với doanh nghiệp, xây dựng và đổi mới hoạt động của Cổng giao tiếp điện tử Thành phố thành phương tiện trao đổi thông tin hiệu quả giữa Thành phố với người dân và doanh nghiệp. Sở Công thương phối hợp với các hiệp, hội ngành nghề xây dựng hệ thống cung cấp thông tin tổng hợp cho doanh nghiệp. Triển khai phân loại thông tin, hướng dẫn chi tiết cụ thể về các lĩnh vực kinh doanh, hàng hóa xuất khẩu, những địa chỉ các cơ quan cấp các giấy chứng nhận…; xây dựng và cập nhật thường xuyên hệ thống thông tin các doanh nghiệp cũng như hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn, tạo cơ sở để các doanh nghiệp tự tìm để liên kết trong sản xuất kinh doanh. Tổ chức hội thảo các chuyên đề giúp doanh nghiệp lĩnh hội thông tin kịp thời về chính sách, chế độ pháp lý trong kinh doanh. Chú trọng phổ biến những kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế liên quan đến các hiệp định kinh tế - thương mại – đầu tư song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết. Hướng dẫn doanh nghiệp xuất khẩu các biện pháp để tự bảo vệ khi có những tranh chấp thương mại (kiện chống bán phá giá…). Tổ chức việc tiếp nhận các vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp một cách đơn giản, dễ dàng thông qua nhiều hình thức như qua Trang điện tử của Thành phố, qua báo chí, qua thư, công văn phản ánh, đường dây nóng, thư điện tử, qua đối thoại trực tiếp giữa chính quyền với doanh nghiệp hay các hiệp hội…nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trực tiếp phản ánh, kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền về những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Lãnh đạo thành phố, các sở, ngành liên quan tổ chức thường xuyên đối thoại trực tiếp, gặp gỡ doanh nghiệp để kịp thời nắm bắt được và giải quyết những vấn đề bức xúc của doanh nghiệp. Nghiên cứu tổ chức các cuộc giao lưu trực tuyến định kỳ hằng năm giữa lãnh đạo Thành phố với cộng động doanh nghiệp nhân ngày Doanh nhân Việt Nam thông qua truyền hình, qua mạng internet. Tạo mối quan hệ gần gũi thân thiện giữa chính quyền lãnh đạo với cộng đồng doanh nghiệp. Cải tiến về nội dung, chất lượng các chương trình tôn vinh doanh nhân và doanh nghiệp, xây dựng các giải thưởng về chất lượng quản lý doanh nghiệp. 3.3.5. Tăng cường phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chức năng Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chức năng đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận với nguồn lực, các điều kiện lợi thế của Thành phố và nhanh chóng thực hiện, triển khai dự án đầu tư. Trọng tâm của công tác xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng là xây dựng chương trình kế hoạch hành động chung, bao gồm các bước đi cụ thể, các chính sách, hoạt động và lịch trình mà Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công nghiệp, các Sở, Ban, ngành khác, các địa phương và các khu công nghiệp cần thực hiện để thu hút khối lượng lớn vốn đầu tư. Trong đó Sở Kế hoạch và Đầu tư cần chú trọng vào khâu xúc tiến thu hút đầu tư, thu hút các nhà đầu tư theo kế hoạch, sáng tạo và đổi mới quy trình cấp phép và trợ giúp nhà đầu tư triển khai dự án đầu tư; địa phương và các khu công nghiệp cần cải thiện môi trường đầu tư ở địa phương, lựa chọn nhà đầu tư phù hợp với địa phương và có năng lực phát triển kinh tế địa phương; Sở Công nghiệp và các Sở, Ban ngành khác cần đưa ra được quy hoạch ngành, lĩnh vực cho Thành phố để Sở Kế hoạch và Đầu tư căn cứ vào đó thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, ngoài ra Sở Công nghiệp và các Sở ban ngành khác cũng cần chú tâm nâng cấp cơ sở hạ tầng, thực hiện vận động thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực đã đưa ra trong quy hoạch. Chương trình hành động chung nhằm tăng cường phối hợp thu hút vốn đầu tư theo một chiến dịch tổng thể của công tác xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, chức năng và UBND Thành phố, các quận, huyện, thị xã trong việc thu hút, tiếp nhận và quản lý các dự án đầu tư nói chung và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng trên địa bàn Thành phố như minh họa ở sơ đồ dưới đây: Hình 3.1. Sơ đồ về sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng Sở Kế hoạch và Đầu tư -Xác định các thế mạnh chính trong thu hút đầu tư của Thành phố. - Thu hút các nhà đầu tư theo quy hoạch, kế hoạch. - Thực hiện các cuộc vận động đầu tư. - Chủ trì, phối hợp trong lĩnh vực giảm chi phí đầu tư cho doanh nghiệp. - Sáng tạo và đổi mới quy trình cấp phép và trợ giúp nhà đầu tư triển khai dự án đầu tư. Địa phương và khu công nghiệp -Cải thiện môi trường đầu tư địa phương. - Lựa chọn nhà đầu tư. - Vận động đầu tư. -Cải thiện cơ sở hạ tầng, kỹ thuật của địa phương. - Cải cách thủ tục hành chính theo phân cấp. Sở Công nghiệp và các Sở, Ban ngành khác -Thực hiện công tác quy hoạch theo ngành, lĩnh vực. -Thực hiện vận động đầu tư theo ngành, lĩnh vực. -Nâng cấp cơ sở hạ tầng. -Đầu mối cung cấp thông tin về ngành, lĩnh vực. Các nội dung của chương trình cần rõ ràng, cụ thể, chủ động và chi tiết từ việc xây dựng đến thực thi kế hoạch. Một chương trình hành động phải chỉ rõ các nhiệm vụ cần thực hiện, ai là người chịu trách nhiệm cho từng công việc, thời gian hoàn thành, chế độ trách nhiệm trong xử lý công việc. Một kế hoạch thực tế là một kế hoạch có thể thực thi chứ không phải viết ra và cất vào trong tủ đựng hồ sơ. Nội dung của chương trình hành động mô tả như sau: Bảng 3.3: Nội dung chương trình hành động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các cơ quan chức năng Thành phố Phần 1. Mục tiêu thu hút đầu tư 1. Mục tiêu định tính Mong muốn về hình ảnh đầu tư Mong muốn về mối quan hệ đối tác 2. Mục tiêu định lượng Số lượng các doanh nghiệp thu hút, số lượng vốn đầu tư thu hút. Số lượng các cuộc tiếp xúc, đàm phán Phần 2.Các biện pháp thực hiện kế hoạch 3. Các nhóm biện pháp xây dựng hình ảnh về môi trường đầu tư Các biện pháp từ 1 đến 5 (bảng 3.2) Ngân sách phân bổ, cơ quan thực hiện, cơ quan phối hợp, thời gian thực hiện, mẫu đánh giá kết quả thực hiện. 4. Nhóm các biện pháp tạo nguồn đầu tư Các biện pháp từ 6 đến 9 (bảng 3.2) Ngân sách phân bổ, cơ quan thực hiện, cơ quan phối hợp, thời gian thực hiện, mẫu đánh giá kết quả thực hiện. 5. Nhóm các biện pháp dịch vụ đầu tư Các biện pháp từ 10 đến 12 (bảng 3.2) Đặc biệt chú trọng các nhà đầu tư đã có mặt ở Hà Nội, tọa đàm chính sách, trao đổi thông tin hai chiều giữa các cấp chính quyền, các nhà quản lý và doanh nghiệp. Phần 3. Phối hợp và hợp tác 6. Các cơ quan thường trú nước ngoài Tên cơ quan chức năng, trưởng đại diện, người trực tiếp làm việc với Thành phố, phối hợp hiện tại, đề xuất phối hợp 7. Cơ quan Việt Nam tại nước ngoài Tên cơ quan chức năng, trưởng đại diện, người trực tiếp làm việc với Thành phố, phối hợp hiện tại, đề xuất phối hợp Phần 4.Đánh giá định kỳ việc thực hiện kế hoạch 8. Đánh giá theo nhóm biện pháp thực hiện Nhóm biện pháp từ 1 đến 12 (bảng 3.2): Tiêu chí đánh giá, kết quả thực hiện, nguyên nhân thành công và thất bại, tiếp tục thực hiện hay không thực hiện, các yếu tố mới xuất hiện, các điều kiện và hỗ trợ trong thời gian tiếp theo. UBND Thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các Sở, Ban, ngành, địa phương, khu công nghiệp có liên quan, các cơ quan đơn vị phối hợp bên ngoài 9. Đánh giá theo cơ quan thực hiện biện pháp Tiêu chí đánh giá, kết quả thực hiện, nguyên nhân thành công và thất bại, tiếp tục thực hiện hay không thực hiện, các yếu tố mới xuất hiện, hình thức giao việc trong thời gian tới, các điều kiện thực hiện 3.3.6. Nâng cao trách nhiệm và trình độ của cán bộ trong công tác xúc tiến và thu hút FDI Về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, nên làm tốt các vấn đề cơ bản sau: - Trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, có trình độ quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước. - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức theo tiêu chuẩn của ngạch, bậc, chức danh cán bộ quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhằm khắc phục những khiếm khuyết cơ bản để thực thi tốt công vụ, đảm bảo yêu cầu công việc. - Nâng cao khả năng thích ứng của cán bộ, công chức trong lĩnh vực FDI trước sự phát triển liên tục của tình hình, nhiệm vụ mới. - Đào tạo, bồi dưỡng để phát triển nguồn nhân lực, làm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phát huy được hiệu quả trong hoạt động thực tiễn. - Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đáp ứng các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức: + Kiện toàn tổ chức, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, từng bước ứng dụng tin học hóa vào hoạt động quản lý Nhà nước và hỗ trợ đào tạo, ứng dụng công nghệ thông tin cho các doanh nghiệp. Đầu tư phát triển hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đảm bảo có đủ năng lực đào tạo, bồi dưỡng thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu mới, đặc biệt ưu tiên chú trọng xây dựng phát triển trường chính trị Thành phố thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng lớn, có đủ năng lực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức về các kiến thức quản lý hành chính Nhà nước. + Đổi mới, cải cách phương pháp đào tạo, bồi dưỡng trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với từng loại đối tượng khác nhau. Nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung phạm vi trách nhiệm quyền hạn của mình. + Sửa đổi, bổ sung chế độ chính sách đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với đầu tư ngân sách, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng. Tăng cường hợp tác quốc tế về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức. + Bên cạnh những giải pháp nêu trên, Thành phố Hà Nội cần có chính sách thu hút cán bộ có trình độ, phẩm chất, năng lực trong lĩnh vực hợp tác đầu tư nước ngoài từ các tỉnh, thành phố về công tác tại cơ quan quản lý nhà nước của Thành phố. Để thu hút cán bộ có trình độ, phẩm chất năng lực trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài về công tác tại Hà Nội, Thành phố cần có chính sách trọng dụng hiền tài, có những ưu đãi đặc biệt để thu hút họ về làm việc tại Hà Nội. Chính sách này phải đảm bảo khuyến khích cả về quyền lợi tinh thần cũng như về vật chất. Về tinh thần đó là chế độ khen thưởng theo thâm niên công tác tại Hà Nội, là quy hoạch đào tạo, sử dụng và đề bạt cán bộ, là hình thức tuyên dương công trạng đối với những người có nhiều đóng góp cho Hà Nội. Về vật chất, đó là chế độ nhà, đất, phụ cấp tiền lương đối với những cán bộ có trình độ cao từ các tỉnh, Thành phố đến Hà Nội công tác lâu dài, đó là đãi ngộ đối với các chuyên gia đến làm việc tại Hà Nội theo hợp đồng ngắn hạn…Chính sách này phải trở thành Nghị quyết của Thành phố, trên cơ sở đó UBND Thành phố có Quyết định quy định cụ thể. KẾT LUẬN Trong giai đoạn phát triển hiện nay, đối với cả nước nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng vấn đề thu hút đầu tư, đặc biệt là thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài rất quan trọng cho việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đổi mới công nghệ, giải quyết việc làm….theo tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Đối chiếu với mục đích đặt ra, luận văn đã giải quyết được vấn đề: Luận văn đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội đó là điều kiện tự nhiên; tình hình kinh tế của Hà Nội; kết cấu hạ tầng; môi trường hành chính – pháp luật; lao động, môi trường văn hóa, xã hội; an ninh, chính trị; khoa học công nghệ. Luận văn đã đưa ra bức tranh tổng quan về thực trạng thu hút nguồn vốn FDI ở Hà Nội: tình hình cấp phép các dự án đầu tư nước ngoài, cơ cấu ngành các dự án đầu tư, các hình thức đầu tư, cơ cấu đối tác đầu tư. Thông qua việc phân tích và tìm hiểu hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thành phố Hà Nội trong giai đoạn (2005-2009), luận văn đã chỉ ra những đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố. Bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được thì vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài của Thành phố vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế, môi trường đầu tư của Hà Nội vẫn chưa thật sự hấp dẫn và ổn định. Tác giả đã đề cập tới sáu giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội trong thời gian tới. Năm 2010 là năm nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nguồn vốn FDI bắt đầu tăng trở lại, nền kinh tế của Hà Nội sẽ tiếp tục tăng trưởng cao trên đà tích cực so với năm 2009, lợi thế và tiềm năng đặc thù của Thủ đô, trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, sẽ được Đảng, Chính quyền nhân dân Hà Nội khai thác triệt có hiệu quả. Các điều kiện thuận lợi trên đang mở ra cho Hà Nội trong năm 2010 và những năm tiếp theo một triển vọng phát triển có tính bứt phá, trong đó khu vực FDI sẽ đóng góp một phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Với góc độ nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ, mong muốn của tác giả rất nhiều song do tính phức tạp đối với vấn đề nghiên cứu cũng như khả năng của bản thân còn mức độ nên Luận văn chắc chắn không tránh khỏi một số khiếm khuyết; tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của Hội đồng khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý các cấp, các ngành của Thành phố Hà Nội, cũng như tất cả những ai quan tâm đến đề tài này để nội dung nghiên cứu được hoàn thiện hơn, đóng góp thiết thực hơn cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Báo cáo số 08/BC-UBND Thành phố Hà Nội: “Tổng kết 20 năm (1987-2007) hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội”. 2. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thị Thúy Hồng, Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXBGD, tr.111-112. 3. Chính phủ, Chỉ thị số 15/2007/CT-TTg. 4. Chính phủ, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP. 5. Cục đầu tư nước ngoài, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 2008, 2009”. 6. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia. 7. Đỗ Hoàng Long (2008), Tác động của toàn cầu hóa đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 8. Niên giám thống kê 2008, số liệu điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 và dự báo. 9. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư số 59/2005/QH. 10. Quốc hội (2005) Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11. 11. Trường Đại học kinh tế quốc dân (1999), Giáo trình kinh tế phát triển (tập 1), NXB Thống kê. 12. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (1996) Giáo trình Kinh tế học quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội 13. Trường Đại học kinh tế quốc dân (2005), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia TNCs tại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc Gia. 14. UBND Thành phố Hà Nội, Tài liệu phục vụ tọa đàm “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2009 – 2010” ngày 11/8/2009. 15. UBND Thành phố Hà Nội, “Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thành phố đến năm 2020”. 16. UBND Thành phố Hà Nội, “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thành phố đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. 17. V.I.Lênin toàn tập (1980), “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. NXB tiến bộ, Matxcơva, t27, tr456. 18. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), NXB Chính trị Quốc gia. 19. Nguyễn Trọng Xuân (2002): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội. TIẾNG ANH 20. Akamatsu, Kaname(1962) “A Historycal Pattern of Economic Growth in Developing Countries”, The Developing Economies, Preliminary Issue No.1, pp. 3-25. 21. Dunning, Jon H.(2001), “The Eclectic (OLI) Paradigm of international Production: Past, Present and Future”, International Journal of the Economics of Business, Vol.8, No.2, pp.173 – 190. 22. IMF, “World economics outlook”, pp. 8. 23. Nguyen Xuan Thang (2008), Some trends of World Development anh Their Impact on Viet Nam’s Vision of Developpment, Vietnam Economics Reviews, No6 (166), pp. 3-8. 24. United Nations Conference on Trade and Development (2008), Investment Policy Review in Vietnam, New York and Geneva. 25. UNCTAD, World investment report 2009, www.unctad.org/wir 26. UNCTAD,“World Investment prospect survey 2009-2011”, table 1, pp. 6. 27. WTO, Report “Trade and foreign direct investment”, 9 october 1996, box 1. 28. Nguyen Trong Xuan (2008), Situation of FDI projects and Industrial Zone in Vietnam, Vietnam Economics Reviews, No6 (166), pp. 38-44. INTERNET 29. 30. 31.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội.doc
Luận văn liên quan