Đề tài Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Việt Nam hiện nay đang hướng vào chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến 2020, nước ta cơ bản là một nước công nghiệp. Để góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra, rõ ràng chúng ta cần phát triển tốt hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung và ngành công nghiệp điện nói riêng, điều này không những sẽ phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế thương mại giao lưu trong nước và quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chỉ huy động nguồn ngân sách Nhà nước thì sẽ không đủ. Kinh nghiệm của một số nước đi trước cho thấy, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào ngành điện thông qua các dự án BOT nói riêng và dự án IPP nói chung đã thể hiện tính ưu việt của nó. Thông qua hình thức này, chúng ta được bổ sung một lượng vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng ngành điện. Các hình thức đầu tư này giúp giảm bớt gánh nặng về tài chính và rủi ro cho Nhà nước, huy động được các nguồn lực của tư nhân cho xây dựng các nhà máy điện, đem lại hiệu quả đầu tư cao hơn, đồng thời khắc phục những yếu kém về khoa học kỹ thuật và công nghệ của ta.

pdf110 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2193 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gần với thủ đô Manama của Bahrain – đã chính thức khánh thành, bắt đầu vận hành thương mại toàn bộ vào tháng 5/2007. Trước đó đã có rất nhiều dự án ngành điện được xây dựng để đáp ứng sự bùng nổ nhu cầu điện năng ở vùng Trung Đông này. Tuy nhiên, điểm khác biệt của công trình điện này là Al Ezzel là nhà máy điện độc lập đầu tiên được xây dựng theo kế hoạch tư nhân hóa của Chính phủ Bahrain được bắt đầu từ năm 2004 để đáp ứng nhu cầu năng lượng đang tăng lên do dân số tăng, các tiêu chuẩn sống cao hơn và kinh tế phát triển nhanh chóng. Tháng 7/2004, Bộ Tài chính và Kinh tế Quốc dân của Bahrain đã trao Hợp đồng BOT nhà máy điện chu trình hỗn hợp 950 MW Al Ezzel cho Công ty điện lực Al Ezzel (AEPC) của Bahrain, sau quá trình đấu thầu quốc tế sơ tuyển có tới năm đơn vị dự thầu – một con số kỷ lục. Công ty AEPC thuộc quyền sở hữu chung của Công ty Suez Energy International (Bỉ) và Công ty Đầu tư vùng Vịnh đặt tại Côét, là một trong những tổ chức tài chính lớn nhất trong vùng Vịnh, với 10% thuộc sở hữu của Ủy ban quỹ hưu trí của Vương quốc Bahrain53. Sự nhanh chóng và hiệu quả của quá trình đấu thầu cạnh tranh và ký kết Hợp đồng và của cả việc cấp vốn cho dự án cũng đã đem lại uy tín quốc tế cho công ty AEPC. Nhà máy điện bắt đầu vận hành thương mại theo 2 giai đoạn, giai đoạn I cung cấp 470 MW công suất cho lưới điện quốc gia Bahrain vào tháng 4/2006, góp phần cung cấp điện kịp thời tin cậy trong những tháng hè nóng bức. Giai đoạn II, bắt đầu hoạt động từ tháng 5/2007 đã cung cấp thêm 480 MW. Theo hợp đồng mua bán điện kéo dài trong 20 năm bắt đầu từ ngày 1/5/2007, nhà máy điện chu trình hỗn hợp hiện đại trị giá 500 triệu USD để cung cấp điện cho Bộ Điện Nước (MEW) 53 Independent Power Project: Private power boost for Bahrain, Middle East Energy, Private-power-boost-for-Bahrain/ 80 của Bahrain. Nhà máy chạy bằng khí tự nhiên do công ty dầu lửa Bahrain cung cấp theo một thỏa thuận mua bán dài hạn. Công ty sản xuất thiết bị gốc (OEM) chính về điện là Siemens Power Generation (PG) được trao Hợp đồng EPC (Thiết kế – Mua sắm – Xây lắp), bao thầu toàn bộ, với một mục tiêu cung cấp đầy tham vọng. Để đáp ứng các yêu cầu vận hành của nhà máy, Siemens PG đã lựa chọn cách bố trí bốn tuabin khí, hai tuabin hơi, các máy phát điện, hệ thống điều khiển nhà máy và các phần trang thiết bị điện khác. Ngoài ra, thông qua các nhà thầu phụ chuyên ngành cho dự án này, trong đó phần lớn là các công ty của Bahrain tại địa phương, Siemens PG cung cấp các công trình xây dựng và các hệ thống nước làm mát chính. Cách bố trí các thiết bị này giúp tạo ra công suất cuối cùng của nhà máy là 950 MW, và nếu chạy theo chu trình đơn của tuabin khí thì chỉ đáp ứng yêu cầu ban đầu là 470 MW. Nhà máy gồm có hai khối, mỗi khối có hai tuabin khí và một tuabin hơi. Siemens PG đã chọn sử dụng kiểu tuabin khí SGT5-2000E (V94.2) của họ, đây là tuabin khí cỡ lớn được thiết kế để vận hành tin cậy, hiệu quả và linh hoạt. Lý do chính để lựa chọn loại tuabin khí đặc biệt này trước tiên là do kích thước của nó đáp ứng các yêu cầu được nêu trong các đặc điểm kỹ thuật của nhà máy, thứ hai là có lẽ còn quan trọng hơn, đó là chi phí trong thời gian hoạt động của tuabin SGT5-2000E làm cho nó trở thành chiếc máy hiệu quả kinh tế nhất được sử dụng. Siemens PG cũng có hợp đồng bảo trì dài hạn liên quan tới các tuabin khí Al Ezzel, có hiệu lực từ tháng 1/2005 tới tháng 12/2021. Theo hợp đồng bảo trì dài hạn này, Siemens cung cấp các bộ phận thay thế của tuabin khí và thực hiện các công việc sửa chữa cần thiết để tuabin hoạt động liên tục và thực hiện công việc bảo trì. Mặc dù nhà máy này dựa trên ý tưởng thiết kế nhà máy điện mẫu của Siemens, với nhiều lợi ích của thiết kế theo tiêu chuẩn, nhà máy đã được thiết kế phù hợp để đáp ứng chế độ phụ tải theo yêu cầu do công ty AEPC thiết lập, cụ thể là nhu cầu cho phép vận hành chu trình đơn vào giai đoạn đầu trong khi các bộ phận có quy mô lớn của nhà máy vẫn còn trong quá trình xây dựng. Do đó, hai khối đã được nối liền với nhau qua các đường ống dẫn hơi. Việc liên kết này cho phép nhà máy vận hành rất linh hoạt, đến mức 3 tuabin khí có thể chạy với 1 tuabin hơi. 81 Vấn đề bảo vệ môi trường rất được quan tâm trong quá trình xây dựng nhà máy điện. Nhà máy được thiết kế và xây dựng đáp ứng các chỉ thị và các quy định khắt khe tại địa phương để hạn chế tới mức thấp nhất tác động tới dân cư địa phương, môi trường và nhân viên nhà máy. Theo quy định, tuabin khí phải sử dụng buồng đốt khô phát thải ít NOx, đồng thời trong thiết kế phải sử dụng các kỹ thuật giảm tiếng ồn phù hợp với quan điểm chung về phát triển khu công nghiệp Al Hidd, có tính đến khu vực nhà ở của người dân vùng lân cận. Đây chính là những biện pháp tích cực và hiệu quả giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường xung quanh và những tác động tiêu cực cho xã hội. Vì thế, nhà máy điện ở các quốc gia khác (trong đó có nhà máy nhiệt điện dầu Hiệp Phước – Việt Nam) nên học hỏi mô hình kỹ thuật tiên tiến này Năm 2004, tổng công suất lắp đặt ở Bahrain là khoảng 1.800 MW, trong khi đó nhu cầu phụ tải đỉnh vào mùa hè vượt quá 1.500MW. Mặc dù công suất này đủ để đáp ứng trong hai năm sau đó, nhưng người ta lo ngại rằng Bahrain phải đối mặt với nạn thiếu điện vào năm 2006. Tuy nhiên, với nhà máy Al Ezzel Giai đoạn I bắt đầu vận hành thương mại vào năm đó, thảm họa này đã được ngăn chặn. Ngày nay, với việc nhà máy Al Ezzel đạt công suất 950 MW, công suất lắp đặt của Bahrain đã vượt quá 2.700 MW. Giai đoạn I của dự án đã được hoàn thành theo đúng tiến độ vào cuối tháng 4/2006 và cung cấp thêm 470 MW công suất nguồn của tuabin khí chu trình đơn cho lưới điện quốc gia. Khi đó, chủ tịch Shafic Ali của AEPC đã phát biểu: “Việc hoàn thành Giai đoạn I trong 21 tháng là bằng chứng cho thấy sự cộng tác chặt chẽ giữa các bộ có liên quan, sự chuyên tâm của hãng Siemens, nhà thầu EPC chúng tôi và các nỗ lực của tập thể công ty AEPC. Thành tích này khẳng định sự đúng đắn trong chính sách của Vương quốc Bahrain khi tin tưởng giao phó tương lai của ngành sản xuất điện cho các nhà sản xuất độc lập”54. Việc đưa vào vận hành Giai đoạn I sẽ mang lại cho lưới điện nguồn công suất bổ sung đang mong đợi trước khi những tháng hè nóng bức đến làm cho nhu cầu điện năng tăng lên đáng kể. Giai 54Independent Power Project: Private power boost for Bahrain, Middle East Energy, Private-power-boost-for-Bahrain/ 82 đoạn cuối của nhà máy Al Ezzel, như đã nói ở trên, được hoàn thành và đi vào vận hành thương mại vào tháng 5/2007. Cho đến nay, nhà máy vẫn đang hoạt động tốt, cung cấp điện năng tin cậy cho lưới điện Bahrain. Độ khả dụng của tuabin khí là trên 99%, độ khả dụng của hai tuabin hơi tương ứng là 88% và 94%. AEPC vận hành nhà máy Al Ezzel ở chế độ điều tần. Vào mùa hè, là thời điểm nóng nhất trong năm, nhà máy vận hành với công suất chỉ khoảng 750 – 800 MW. Có nghĩa là nhà máy dành một phần dự phòng để có thể tăng công suất trong trường hợp một nhà máy điện khác ngừng hoạt động. Chiến lược này đã hai lần cứu lưới điện sau khi hai nhà máy điện khác bị mất điện đột ngột. Cơ chế điều chỉnh giá bán điện khi nhà máy điện Al Ezzel cung cấp điện cho lưới điện quốc gia rất thông thoáng và linh hoạt. Những thỏa thuận về giá cho phép những khoản tăng về chi phí được chấp nhận thông qua điều chỉnh giá định kỳ dựa vào sự biến động của giá cả nguyên liệu đầu vào trên thị trường nhằm đảm bảo lợi ích hợp lý của cả hai bên bán và mua. Nhờ đó mà quá trình đàm phán giá điện được diễn ra một cách nhanh chóng, không làm chậm tiến độ thực hiện dự án. 2.4. Bài học rút ra từ thực tế thu hút và sử dụng FDI vào ngành điện thông qua dự án BOT ở Vương quốc Bahrain Như vậy, trong hơn một thập kỷ mở rộng chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, nền kinh tế Bahrain đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là sự mở cửa ngành công nghiệp điện cho khu vực tư nhân tham gia chủ yếu dưới hình thức BOT. Mặc dù sự phát triển hạ tầng cơ sở ngành điện ở quốc gia này còn non trẻ, song đã gặt hái được những thành công đáng để thông qua những dự án BOT điển hình, có thể làm mẫu cho các dự án khác trong tương lai. Điều này đáng để Việt Nam học hỏi: - Ưu tiên phát triển đầu tư của khu vực tư nhân cho dịch vụ công: Quan điểm của giới lãnh đạo Bahrain đối với sự phát triển kinh tế nói chung và cơ sở hạ tầng ngành điện nói riêng rất mới và tiến bộ. Bahrain đã định hướng tư nhân hóa toàn bộ ngành điện thông qua việc thu hút các dự án BOT, để các nhà đầu tư chủ động quản lý và điều hành. Đây là suy nghĩ táo bạo mà không phải một quốc gia đang phát 83 triển nào cũng có được. Hệ thống luật pháp tương đối đầy đủ tạo dựng hành lang pháp lý cho nhà đầu tư đối với các dự án đầu tư. - Đấu thầu quốc tế công khai, minh bạch: Quá trình lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án BOT ở Bahrain thông qua quá trình đấu thầu quốc tế rất minh bạch, rõ ràng và công khai, làm giảm bớt đi rất nhiều những công đoạn “mờ”, phi lý bắt nguồn trong quá trình thực hiện dự án. Điều này không những giúp lựa chọn được nhà đầu tư lớn, có uy tín và năng lực tài chính nhằm đảm bảo sự thành công trong việc thu hút vốn vào công trình mà còn cho các nhà đầu tư quốc tế khác thấy được sự công bằng trong việc lựa chọn nhà thầu và tin tưởng hơn trong những lần đấu thầu sau. - Đề ra tiêu chí kỹ thuật cao, nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng và tránh ô nhiễm môi trường: Đối với các dự án nhà máy điện lớn và trọng điểm, đòi hỏi những yêu cầu nghiệm ngặt về vốn, kinh nghiệm, công nghệ, kỹ thuật và trình độ thì nhà thầu xây dựng được lựa chọn kỹ lưỡng, có năng lực kỹ thuật và quản lý, có sức mạnh về nguồn lực và tài chính, đủ kinh nghiệm để hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng. Quá trình lắp đặt xây dựng nhà máy được thực hiện tuân theo tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe với các máy móc hiện đại đảm bảo cho sự vận hành thương mại thành công sau này, giảm bớt nguy cơ gặp phải những trục trặc trong quá trình hoạt động. Nhờ vậy mà các dự án đều được đưa vào vận hành theo đúng tiến độ, cung cấp điện theo đúng kế hoạch đề ra, đảm bảo không gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. - Cơ chế điều chỉnh giá bán điện thông thoáng và linh hoạt: Trong hợp đồng mua bán điện giữa Bahrain và nhà đầu tư luôn dựa trên nguyên tắc đảm bảo mức lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư, cho phép những khoản tăng về chi phí được chấp nhận thông qua điều chỉnh giá định kỳ dựa vào sự biến động của giá cả nguyên liệu đầu vào trên thị trường. . - Tạo ra một dự án mẫu với những tiêu chuẩn nhất định: Việc xây dựng thành công ngay từ dự án điện BOT đầu tiên – dự án điện Al Ezzel theo kế hoạch tư nhân hóa của Chính phủ Bahrain giúp tạo ra một dự án mẫu, đảm bảo sự thành công và tiết kiệm thời gian cho việc thực hiện các dự án điện sau này. 84 Mặc dù vậy, quá trình triển khai các dự án BOT vào ngành điện ở Bahrain cũng còn tồn tại những nhược điểm lớn: sau khi hợp đồng dự án Al Ezzel được trao thì việc tư nhân hóa ngành điện đã chững lại một thời gian. Điều này đã gây nên những nghi ngờ lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài về sự nhất quán trong hệ thống chính sách thu hút đầu tư FDI của Bahrain. II. Chiến lƣợc phát triển ngành công nghiệp điện ở Việt Nam từ nay đến năm 2020 1. Một số định hƣớng của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển ngành công nghiệp điện đến năm 2020 Ngay từ sau năm 1986, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đề cao vai trò to lớn của việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng nói chung và ngành điện nói riêng như là một cơ sở thiết yếu thúc đẩy phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Để thực hiện thành công mục tiêu đề ra trong thời gian tới, Chính phủ đã đưa ra những định hướng phát triển ngành công nghiệp điện định hướng đến 2020 với những nội dung cụ thể như sau: - Phát triển ngành điện phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng nhu cầu điện cho sinh hoạt của nhân dân với phấn đấu đến năm 2020 đạt sản lượng từ 201 đến 250 tỷ Kwh, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Đẩy mạnh điện khí hóa nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo với mục tiêu đẩy nhanh chương trình đưa điện về nông thôn, miền núi, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% số hộ dân nông thôn có điện. - Bảo đảm chất lượng điện năng để cung cấp dịch vụ điện với chất lượng ngày càng cao. Hiện tại, ngành điện đang hướng tới một thị trường điện cạnh tranh, trong đó EVN đóng vai trò trung gian truyền tải điện và các nhà sản xuất điện cạnh tranh về giá để cung cấp điện cho thị trường. Chính phủ coi trọng tiết kiệm điện năng từ khâu phát, truyền tải đến khâu sử dụng. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đề cao việc đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của ngành điện. 85 - Sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn năng lượng sơ cấp của đất nước như nguồn thủy năng (kết hợp với thủy lợi), khí, dầu, than cho sản xuất điện để phát triển cân đối nguồn điện, áp dụng thiết bị sử dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và kiểm soát, giảm nhẹ ô nhiễm môi trường trong các hoạt động điện lực. - Tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện để xây dựng nhà máy điện nguyên tử (sau năm 2015) đảm bảo an toàn tuyệt đối trong sử dụng, nhằm đa dạng hóa các nguồn năng lượng. Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển các dạng năng lượng mới và tái tạo để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện, đặc biệt đối với các hải đảo, vùng sâu, vùng xa. - Thực hiện cơ chế hoạt động đa dạng hóa sản phẩm, bao gồm nhiều công ty có tư cách pháp nhân theo mô hình „Liên kết tài chính – Công nghiệp – Thương mại – Dịch vụ – Tư vấn‟. - Từng bước hình thành thị trường điện lực cạnh tranh trong nước, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh điện, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia, không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp. Nhà nước chỉ giữ độc quyền khâu truyền tải, xây dựng và vận hành các nhà máy thủy điện lớn, các nhà máy điện nguyên tử. Chính phủ đã thông qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành danh mục các dự án quốc gia gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các hình thức khuyến khích đầu tư liên quan đến dự án ngành điện (Phụ lục). Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến danh mục này như tính cấp thiết và đối tượng kêu gọi vốn đầu tư (chẳng hạn chỉ giới hạn cho đầu tư nước ngoài) nhưng danh mục này đã cho thấy quan điểm mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam. 2. Chiến lƣợc phát triển của ngành công nghiệp điện Ngành điện Việt Nam hướng đến mục tiêu phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện theo hướng hiện đại: phát triển thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, điện nguyên tử,… kết hợp trao đổi, liên kết lưới điện với các nước trong khu vực. Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ đầu tư những công trình phát điện có công suất từ 100 MW trở lên, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác đầu tư các công trình có công suất nhỏ hơn. Phát triển nhanh, đồng bộ, hiện đại hệ thống truyền tải, phân phối nhằm nâng cao độ tin cậy, an toàn cung cấp điện và giảm tổn thất điện năng. 86 Về chiến lược tài chính và huy động vốn: cần có các cơ chế tài chính thích hợp để Tập đoàn Điện lực Việt Nam đảm bảo được vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển của ngành điện. Tiếp tục triển khai một số công trình đầu tư theo hình thức BOT, liên doanh để thu hút thêm nguồn vốn đầu tư, đồng thời tăng khả năng trả nợ cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Đồng thời, xây dựng các biện pháp huy động vốn trong xã hội dân để đầu tư phát triển điện. Ngành điện cần tiếp tục thực hiện lộ trình cải cách giá điện đã được duyệt theo hướng vừa tiến dần đến chi phí biên dài hạn vừa cải cách biểu giá điện, giảm bù chéo quá lớn giữa các nhóm khách hàng. Về chiến lược phát triển thị trường điện: ngành điện sẽ từng bước hình thành thị trường điện trong nước, trong đó Nhà nước giữ độc quyền ở khâu truyền tải và chi phối trong khâu sản xuất và phân phối điện. Trước mắt, hình thành thị trường mua bán điện trong nội bộ Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng đầy đủ các khuôn khổ pháp lý, các điều kiện để sớm hình thành thị trường điện độc lập. Về chiến lược phát triển điện nông thôn và miền núi: ngành điện sẽ nỗ lực đẩy mạnh điện khí hoá nông thôn nhằm góp phần đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; Sử dụng các nguồn năng lượng mới và tái tạo để cấp điện cho các khu vực vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; Xây dựng cơ chế quản lý để duy trì và phát triển các nguồn điện ở những khu vực này; Khuyến khích đa dạng hoá trong đầu tư và quản lý lưới điện nông thôn; Tăng cường kiểm soát giá điện nông thôn để đảm bảo thực hiện theo đúng giá trần do Chính phủ quy định. III. Giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút và sử dụng FDI vào ngành điện Ngành điện của Việt Nam có tiềm năng phát triển rất lớn trong tương lai bởi nó không những đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư mà còn giúp hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở, phục vụ cho phát triển kinh tế của đất nước. Bởi vậy, việc đưa ra những giải pháp hữu ích nhằm thu hút các dự án điện độc lập vào ngành này một cách hiệu quả là điều mà cả Chính phủ và các nhà đầu tư rất quan tâm. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của Ấn Độ về quá trình triển khai dự án điện IPP nói chung, kinh nghiệm của Vương quốc Bahrain về việc thực hiện dự án BOT nói riêng, cùng với thực tiễn thu hút FDI vào ngành điện Việt Nam, tác giả đưa ra 87 những giải pháp nhằm thu hút các dự án IPP vào ngành công nghiệp điện ở Việt Nam như sau: 1. Giải pháp đối với Nhà nƣớc 1.1. Xây dựng mô hình thị trường điện lực Việt Nam Trên thế giới, khái niệm “độc quyền” không còn xa lạ. Về bản chất, độc quyền là một tình huống trong đó một công ty hoặc một tập đoàn, một nhóm các công ty chiếm lĩnh gần như toàn bộ thị trường đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó. Khái niệm độc quyền hiểu theo nghĩa hẹp là việc chiếm lĩnh thị trường của một công ty. Thị trường độc quyền là thị trường không có sự cạnh tranh, do đó dẫn đến một hệ quả tất yếu là mức giá cao hơn và sản phẩm chất lượng thấp hơn. Độc quyền là một ví dụ điển hình khi nhắc tới chủ nghĩa tư bản. Thị trường sẽ không hoạt động nếu chỉ có một người duy nhất cung cấp hàng hóa và dịch vụ vì họ sẽ không có động lực để tự hoàn thiện và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Vì độc quyền có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế và gây hại cho xã hội nên Chính phủ luôn nỗ lực để ngăn ngừa độc quyền bằng các đạo luật chống độc quyền. Ở Việt Nam trong thời gian gần đây, việc Công ty Xăng dầu Hàng không (Vinapco) – một công ty thuộc Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), bị tuyên phạt hơn 3 tỷ đồng vì đã đơn phương ngừng cấp nhiên liệu cho các chuyến bay của Jetstar Airlines vào ngày 1/4/200855 cho thấy Việt Nam đã có một bước tiến quan trọng trong việc chống độc quyền, thực thi luật cạnh tranh56. Môi trường kinh doanh ở Việt Nam sẽ trở nên cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch hơn nếu như việc xóa bỏ tính độc quyền này được nhân rộng ra những ngành kinh tế khác (trong đó có ngành công nghiệp điện với sự độc quyền của Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN), và điều này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Ngành điện Việt Nam hiện đang nằm trong xu thế đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia hoạt động điện lực cùng với nhu cầu về liên kết và hội nhập khu vực. Phương thức quản lý độc quyền Nhà nước của hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay còn nhiều bất cập. Việc nghiên cứu đưa ra mô hình quản lý thị 55 Tổng hợp thông tin báo chí về ngành giao thông vận tải, Bộ Giao thông Vận tải, 56 Luật cạnh tranh ở Việt Nam được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ tháng 1/2005. 88 trường điện lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong đầu tư, phát triển, quản lý và vận hành hệ thống điện, đồng thời xem xét vấn đề giá điện và chất lượng dịch vụ điện cũng như huy động các nguồn tài chính mới cho nhu cầu phát triển điện lực là rất cần thiết và phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường. Từ đó giúp hoàn thành những định hướng phát triển của ngành điện trong thời gian tới cũng như thúc đẩy thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào ngành này. Có thể xem xét biến động của từng đối tượng tham gia vào thị trường điện trong giai đoạn tới, cụ thể như sau: - Đối với Tập đoàn EVN: do đặc thù của ngành điện Việt Nam trong điều kiện hiện nay là mức cung khó có thể đáp ứng được cầu điện năng trong giai đoạn này. EVN cần chủ động điều tiết các nguồn phát đảm bảo cân bằng hệ thống, do vậy có thể trở thành người mua duy nhất của các nhà máy điện. - Đối với các nhà máy điện: Từng bước thực hiện cổ phần hóa các nhà máy điện, chuyển các nhà máy điện thuộc EVN thành các nhà máy điện độc lập. Nhờ đó mà các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thêm nhiều cơ hội tham gia quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh ở các công ty cổ phần này theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ. Các nhà máy điện độc lập này cùng với những nhà máy IPP khác chỉ bán điện trực tiếp cho EVN thông qua chào giá cạnh tranh. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển hơn của hệ thống lưới điện, các khách hàng lớn cũng có thể mua trực tiếp từ các nhà máy điện. - Đối với các công ty truyền tải: với bản chất là độc quyền tự nhiên, do vậy Nhà nước vẫn nắm giữ thực hiện các hoạt động truyền tải điện từ người mua duy nhất (EVN) đến các công ty điện lực. - Đối với các công ty phân phối điện năng: thực hiện chuyển đổi trở thành đơn vị độc lập với EVN dưới hình thức Công ty mẹ – Công ty con. Do việc chuyển đổi thị trường điện thực tế không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của các công ty phân phối điện do vậy vẫn giữ nguyên chức năng kinh doanh là độc quyền phân phối điện năng cho khách hàng. - Do cần đảm bảo tính phù hợp của một số hoạt động độc quyền trong mô hình như: EVN độc quyền mua điện từ các nhà máy điện độc lập, độc quyền bán 89 điện cho các công ty phân phối điện năng, các công ty phân phối độc quyền bán điện cho khách hàng cuối cùng do vậy cần thiết phải có một cơ quan đứng ra kiểm soát hoạt động này với tư cách hoàn toàn độc lập. - Đối với khách hàng: Tiếp tục chịu mua điện từ một công ty phân phối điện duy nhất trong phạm vi địa lý do bởi các cơ sở hạ tầng của ngành điện trong giai đoạn này có thể chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng mua điện trực tiếp từ nhà sản xuất theo mô hình của thị trường điện cạnh tranh hoàn toàn. Tuy nhiên, đối với các khách hàng có phụ tải lớn có thể mua điện trực tiếp từ các nhà máy điện hoặc thông qua lưới truyền tải của EVN. Qua tham khảo một số mô hình quản lý kinh doanh điện năng của các nước trên thế giới gắn với việc xem xét thực trạng mô hình quản lý độc quyền Nhà nước cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh ngành điện Việt Nam, ta có thể xây dựng mô hình quản lý thị trường điện lực như sau: Hình 5: Mô hình quản lý thị trƣờng điện lực Nguồn: Các mô hình quản lý thị trường điện lực và khả năng áp dụng tại Việt Nam, 1.2. Cải cách thủ tục hành chính - Chính phủ cần đơn giản hóa, công khai quy trình và các loại thủ tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài. Đảm bảo sự thống nhất các quy trình, thủ tục tại 90 địa phương, đồng thời phù hợp với điều kiện cụ thể. Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong phê duyệt, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý các dự án điện có vốn nước ngoài, gắn với tăng cường hợp tác, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật về đầu tư. Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp và điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. - Xây dựng khung tiêu chuẩn về đấu thầu cho các dự án IPP, thủ tục đấu thầu cạnh tranh nhằm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất cần phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy tắc các bước một cách công khai, minh bạch và rõ ràng. Trước khi ký kết hợp đồng với nhà thầu thích hợp, phải có sự chấp thuận của nhà cho vay nếu không thì việc vay vốn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. 1.3. Ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư - Chính phủ cần nhanh chóng xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước tham gia phát triển những công trình nhà máy điện độc lập thông qua các hình thức đầu tư BOT, BOO, liên doanh (JV) hoặc công ty cổ phần (JSC). Điều này nhằm hạn chế bớt vai trò của Tập đoàn Điện lực Việt Nam với tư cách là người mua duy nhất nên vẫn còn thể hiện tính chất độc quyền cao. Việc mở cửa cho nhiều nhà đầu tư tham gia mới có khả năng giải quyết tình trạng thiếu điện. Có đủ điện thì thị trường mới cạnh tranh một cách minh bạch, vừa đảm bảo lợi nhuận cho các nhà đầu tư, mang đến nhiều sự lựa chọn cho khách hàng sử dụng, vừa giảm áp lực tăng giá. Bên cạnh việc ban hành các Văn bản, Quyết định nhằm tạo ra những chính sách ưu đãi, công bằng để khuyến khích đầu tư nước ngoài hơn nữa vào các dự án điện độc lập, thì Chính phủ cần hệ thống hóa các ưu đãi, tránh sự dàn trải và khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc tiếp cận với các ưu đãi, đảm bảo rằng các chính sách Nhà nước đưa ra phải thống nhất cho tất cả các loại dự án điện IPP để tạo ra sự công bằng, bình đẳng. - Đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích sản xuất, sử dụng điện từ, các loại năng lượng mới (sức gió, thủy triều, năng lượng mặt trời) nhằm tận dụng có hiệu quả tiềm năng về các nguồn năng lượng khác của Việt Nam. Trước 91 hết, cần tổ chức điều tra đánh giá tiềm năng nguồn năng lượng mới và tái tạo; xây dựng quy hoạch sử dụng năng lượng mới. Nhà nước khuyến khích việc khai thác, sử dụng năng lượng mới và tái tạo; hỗ trợ kinh phí cho các chương trình điều tra, nghiên cứu, chế tạo thử, xây dựng các điểm điển hình sử dụng năng lượng mới, tái tạo; miễn thuế nhập khẩu, thuế sản xuất, lưu thông các thiết bị, công nghệ năng lượng mới và tái tạo. Lựa chọn công nghệ thích hợp với điều kiện của Việt Nam, đưa nhanh vào đời sống, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi. - Bên cạnh các dự án nhà máy điện IPP quan trọng như mang ý nghĩa quân sự hay ngoại giao, Nhà nước cũng nên ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư hỗ trợ vốn xây dựng một phần cơ sở hạ tầng tiếp cận tới các dự án BOT như đường nối các nhà máy điện BOT với trục đường chính để có thể chia sẻ phần nào chi phí đầu tư xây dựng cơ bản quá lớn ban đầu, tạo điều kiện cho nhà đầu tư an tâm tập trung vốn vào dự án của mình. - Chính phủ cùng các bộ ngành có liên quan cần thiết lập cơ chế giá bán điện một cách hợp lý nhằm hạn chế sự độc quyền của EVN trong việc mua điện của các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án nhà máy điện IPP (dưới hình thức BOT, BOO,...), đồng thời đảm bảo lợi nhuận cho họ. Ngoài ra, Chính phủ nên quy định một cơ chế điều chỉnh giá linh hoạt, tức là có sự liên hệ nhất định giữa giá mua đầu vào (giữa các nhà máy điện với EVN) và giá bán đầu ra nhằm tiết kiệm thời gian và tiền bạc do mỗi lần giá nguyên liệu đầu vào thay đổi thì lại 2 bên lại phải ngồi vào đàm phán với nhau để quy định một mức giá bán mới. - Chính phủ nên xem xét để có thể cam kết với Chính phủ một số nước tạo điều kiện cho nhà đầu tư có thể vay Chính phủ nước họ với lãi suất thấp để đầu tư vào dự án IPP bởi huy động được vốn với lãi suất thấp là một trong những điều kiện tiên quyết để các nhà đầu tư nước ngoài có thể triển khai dự án ngành điện thành công. - Do quá trình thẩm định dự án mất khá nhiều thời gian nên Chính phủ cần sớm có sự cải tiến trong khâu thẩm định dự án, chẳng hạn như làm rõ ràng các tiêu chuẩn thẩm định đánh giá, để các nhà đầu tư sớm có được Giấy phép và dự án nhanh chóng đi vào hoạt động. 92 1.4. Điều chỉnh Hợp đồng BOT (hoặc BOO) với chủ đầu tư Có thể thấy rằng, mẫu hợp đồng xây dựng ở Việt Nam còn quá sơ sài, như. chưa có quy định thời gian khai thác sử dụng của các dự án điện BOT trong Văn bản ký kết với nhà đầu tư nước ngoài dựa vào quy mô của từng dự án nhằm đảm bảo tính công bằng, khả năng thu lại lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài; Bên cạnh đó, các điều khoản trong hợp đồng (thuế, giai đoạn ưu đãi và đặc quyền) cho việc gia tăng các rủi ro xác định (các Điều khoản không lường trước được) chưa được cho phép điều chỉnh để có thể chia sẻ rủi ro chi phí vượt dự toán;… Chính vì vậy, Chính phủ cần áp dụng mẫu Điều kiện Hợp đồng chung của FIDIC (Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn)57 trong quá trình xây dựng hợp đồng, xử lý tranh chấp khi triển khai dự án. 1.5. Lựa chọn chủ đầu tư dự án IPP thông qua đấu thầu cạnh tranh Để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của mỗi dự án nguồn điện độc lập, có được một phương pháp hệ thống hơn, chắc chắn hơn, cạnh tranh và rõ ràng minh bạch hơn, thì việc lựa chọn chủ đầu tư thực hiện các dự án điện độc lập cần được tiến hành thông qua đấu thầu. Trình tự thực hiện đấu thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu58. Việc chọn ra được nhà thầu có kinh nghiệm và nguồn lực đảm bảo sẽ giảm thiểu được rủi ro trong xây dựng. Do đó sẽ giảm thiểu được rủi ro nói chung, làm cho dự án hấp dẫn hơn với các ngân hàng cho vay vốn. Tuy nhiên, đối với các trường hợp đặc biệt như dự án có quy mô nhỏ; dự án có mục tiêu cung cấp điện cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; dự án chỉ có một nhà đầu tư đăng ký tham gia hoặc có lý do hợp lý khác, cơ quan có thẩm quyền cho phép đầu tư quy định tại Khoản 4, Điều 3 Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập, ban hành ngày 31/8/2006, quyết định lựa chọn chủ đầu tư theo hình thức chỉ định thầu. 57 Hợp đồng FIDIC đã được áp dụng từ mấy chục năm nay trên thị trường quốc tế, Lại bàn về FIDIC, Nguyễn Cảnh Chất, 58 Điều 4, Chương I, Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập (Ban hành kèm theo Quyết định số: 30/2006/QĐ-BCN ngày 31 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công Thương). 93 1.6. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nguồn điện - Hiện nay, trong Hợp đồng BOT (hoặc BOO) được ký kết giữa Chính phủ và chủ đầu tư dự án điện chưa có các điều khoản khuyến khích đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án. Bởi vậy, Chính phủ nên quy định thêm một điều khoản trong Hợp đồng BOT (hoặc BOO) với chủ đầu tư là: Nếu nhà máy điện hoàn thành sớm hơn tiến độ đã đề ra thì sẽ nhận được sự ưu tiên của Chính phủ. Điều này sẽ khuyến khích họ đẩy nhanh tiến độ thi công và nhanh chóng cung cấp điện cho người tiêu dùng, đảm bảo nhu cầu sử dụng điện của quốc gia. - Chính phủ cần phê duyệt các quy hoạch còn thiếu, rà soát để định kỳ bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch không còn phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án. Tiếp theo, Chính phủ cần thực hiện quyết liệt hơn việc công bố rộng rãi quy hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng để đảm bảo đúng tiến độ các công trình điện. Cần định mức chuẩn cho việc đền bù tái định cư đối với các dự án điện, hạn chế những tiêu cực và thắc mắc trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng, nhằm tránh xảy ra trường hợp thiếu tính hiệu quả kinh tế của dự án điện Amata do kinh phí di dân, đền bù quá lớn. - Đối với các dự án nguồn điện do các công ty nước ngoài làm tổng thầu, Chính phủ cần quy định tổng thầu phải cam kết sử dụng nguồn lực Việt Nam phải được điều chỉnh phù hợp hơn, xuất phát từ thực tế năng lực các công ty trong nước cũng như lực lượng lao động có tay nghề cao của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Một số dự án bị chậm tiến độ và tăng chi phí do thầu phụ hoặc lao động Việt Nam không đủ năng lực và số lượng. 1.7. Đảm bảo về mặt tài chính của dự án IPP Chính phủ cần phải đảm bảo tính khả thi của dự án IPP về mặt tài chính từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối của thời gian cung cấp dịch vụ, tránh việc nhà triển khai dự án trục lợi bằng cơ cấu giá đầu cuối, và phải đảm bảo giá cả hợp lý cho những người sử dụng cuối cùng. Nhà bao tiêu cần phải đảm bảo về mặt tài chính và phải được một nhà bảo lãnh trợ giúp. Bên cạnh đó, những đánh giá về mặt tài chính phải dựa trên những dữ liệu và những dự đoán thực tế. 94 - Những biến động về tỷ giá hối đoái: Chính phủ cần lựa chọn loại tiền tệ, phân bổ rủi ro hối đoái một cách thận trọng. Những dự án được tài trợ bằng vay nợ bằng ngoại tệ nhưng nguồn doanh thu lại được ấn định bằng đồng nội tệ yếu dễ phải gánh chịu những rủi ro tài chính phát sinh do những biến động bất lợi về tỷ giá hối đoái. - Những cơ chế điều chỉnh giá: những thỏa thuận về giá có thể cho phép những khoản tăng về chi phí được chấp nhận thông qua điều chỉnh giá định kỳ. Việc chậm điều chỉnh giá có thể xảy ra trước khi giá cả tăng thì khi đó người triển khai dự án có thể sẽ không được bù đắp chi phí thỏa đáng. - Một dự án IPP muốn thành công thì Chính phủ cần phải lựa chọn các nhà tài trợ có kinh nghiệm, đáng tin cậy và có sức mạnh tài chính đầy đủ. Thu hút vốn cổ phần đầy đủ là một trong những đòi hỏi then chốt đối với mọi dự án IPP. Các Chính phủ và các nhà cho vay sẽ yêu cầu các nhà tài trợ tư nhân có lợi ích tài chính đủ lớn trong một dự án IPP để làm cho họ khó có thể phớt lờ hoặc bãi bỏ dự án. Các dự án IPP phải có được cấu trúc để các nhà tài trợ có khả năng tiếp nhận các rủi ro tài chính và các chủ động triển khai thực hiện dự án mang lại thành công cho dự án. 1.8. Quản lý và phân bổ hợp lý các rủi ro giữa các bên Việc xác định được mọi rủi ro và từ đó phân bổ các rủi ro đó một cách hợp lý giữa các bên có khả năng chịu và giảm thiểu các rủi ro là điều rất quan trọng, đảm bảo thành công cho một dự án BOT nói chung và dự án BOT ngành điện nói riêng. Do đó, một trong những nhân tố giúp thu hút đầu tư tư nhân cho các dự án ngành điện là Chính phủ phải nhận thức được các rủi ro, đặc biệt là các rủi ro về chính trị quốc gia, và phải quản lý được hoặc là cam kết gánh chịu mọi rủi ro quốc gia về phía mình. Chính phủ nước tiếp nhận vốn và nhà đầu tư phải thể hiện mong muốn sẵn sàng cùng chia sẻ rủi ro thì dự án mới đảm bảo thành công, có như vậy các nhà đầu tư mới yên tâm bỏ tiền cho các dự án lớn và chứa đựng nhiều rủi ro như dự án BOT. 2. Giải pháp đối với EVN Tập đoàn EVN cần đảm bảo sao cho hợp đồng mua bán điện với các nhà máy điện IPP phải rõ ràng, minh bạch và phân rõ quyền hạn, trách nhiệm của các 95 bên trong trường hợp xảy ra những sự cố trong quá trình hoạt động sau này, đặc biệt là điều khoản quy định về tiến độ của dự án. Hợp đồng phải chỉ rõ thời gian cụ thể hoàn thành dự án và chủ đầu tư phải thực hiện đúng tiến độ đã đề ra. Trong trường hợp không thực hiện được tiến độ này, xảy ra tình trạng thiếu điện cho người dân và doanh nghiệp trong khu vực phát điện quy định thì hợp đồng mua bán điện có thể quy định những điều khoản như là:  Nhà máy điện đó phải có sẵn các nguồn điện dự phòng để có thể phát điện trong thời gian hoàn tất dự án đầu tư, đảm bảo không gây ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp khác trong khu vực phát điện quy định.  Tập đoàn Điện lực EVN sẽ ứng trước vốn xây dựng cơ sở hạ tầng phát điện cho khu vực chưa có điện của nhà máy điện đó. Sau đó, sẽ bàn giao lại cho chủ đầu tư, nhằm đảm bảo khả năng cung cấp điện cho hộ tiêu dùng. Nếu sau khi xây dựng các cơ sở hạ tầng này xong mà EVN tiến hành cung cấp điện cho người dân ở khu vực đó trong một khoảng thời gian nhất định mà chưa bàn giao luôn cho chủ đầu tư thì hợp đồng phải chỉ rõ điều khoản về khấu hao thiết bị theo một tiêu chuẩn nhất định (Tiêu chuẩn Việt Nam, Tiêu chuẩn quốc tế hoặc một tiêu chuẩn nào đó do 2 bên cùng thỏa thuận). Ngoài ra, Tập đoàn EVN cần đưa ra những cơ chế điều chỉnh hợp đồng cung cấp sản phẩm đầu vào (ví dụ giá nguyên liệu): những cơ chế điều chỉnh giá là cần thiết để đối phó với những biến động về giá nguyên liệu. Giá cung cấp có thể được bảo đảm trong khoảng thời gian từ ngắn hạn đến trung hạn. Những biến động dài hạn có thể đòi hỏi những điều khoản điều chỉnh giá (tạo ra cơ chế giá xuyên suốt). 3. Các giải pháp khác 3.1. Chủ đầu tư dự án cần thực hiện tốt các thủ tục đầu tư Như đã phân tích trong Chương II, đối với hầu hết các dự án thì việc hoàn thành thủ tục đầu tư và lập hồ sơ báo cáo đầu tư mất rất nhiều thời gian. Vì vậy, việc các chủ đầu tư dự án chuẩn bị trước và kỹ lưỡng những thủ tục đó sẽ góp phần giảm thiểu các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Trong quá trình đầu tư xây dựng, chủ đầu tư cần thực hiện đầy đủ và chặt chẽ các thủ tục. Để đảm bảo 96 tiến độ, chất lượng dự án thì mối quan hệ giữa Chủ đầu tư, Nhà tư vấn và Nhà thầu cần được xác lập chặt chẽ và theo đúng các điều khoản của hợp đồng. Đối với thủ tục liên quan đến bảo vệ môi trường, chủ dầu tư cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các khoản mục bảo vệ môi trường cũng như những quyền lợi của cộng đồng xung quanh. Bởi một số dự án IPP (như dự án nhà máy điện Hiệp Phước) có thể gây hại đến dân chúng, môi trường và các cơ sở tiện ích hoạt động kinh doanh hiện tại. Nhà triển khai dự án và nhà thầu cần đảm bảo rằng dự án chỉ gây hại ở một mức độ tối thiểu nào đó. 3.2. Đảm bảo chất lượng về yếu tố con người Yếu tố con người là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự thành công của các dự án nhà máy điện cũng như sự tồn tại và phát triển của chính các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Trong quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng trên thực tế ở Việt Nam đã xảy ra những sự cố về nguồn điện, lưới điện không lường trước được, đòi hỏi phải kịp thời xử lý chính xác. Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải có những người lao động có trình độ chuyên môn giỏi để giải quyết tốt những tình huống đó. Các dự án BOT, BOO,… là những dự án lớn liên quan đến cơ sở hạ tầng của một đất nước, điều này đòi hỏi nước chủ nhà cần thiết phải tăng cường năng lực cho đội ngũ đối tác những con người có trình độ để trực tiếp triển khai dự án, luôn tạo điều kiện, động viên cán bộ công nhân viên tích cực học tập, nghiên cứu tài liệu kỹ thuật, bám sát chuyên gia của nhà chế tạo để tự nâng cao trình độ và tích lũy kinh nghiệm. Cần kết hợp sử dụng tư vấn nước ngoài để đào tạo nhân lực cho ngành điện và định hướng xây dựng lực lượng quản lý dự án chuyên nghiệp, chuyên môn hóa. Ngoài tự đào tạo tại chỗ, cần phải cử các cán bộ công nhân viên tham gia các khóa đào tạo về ngoại ngữ, vi tính, kiến thức quản lý, pháp luật trong kinh doanh, nghiên cứu khoa học tại các trường Đại học, các trung tâm đào tạo trong và ngoài nước,… và người lao động phải tự chịu trách nhiệm trong công tác đào tạo phát triển của mình; Chúng ta nên đưa mảng quản trị dự án vào các chương trình đào tạo của các trường kinh tế và quản trị. Khuyến khích việc đào tạo theo đơn hàng của các cơ 97 quan và tạo sự liên kết, hợp tác giữa các trường đào tạo về kinh tế và quản trị của Việt Nam và Viện Quản trị dự án (PMI – Project Management Institute). Hiện nay, ngành điện Việt Nam tiếp nhận 2 dự án BOT và một số dự án BOO khác có yếu tố nước ngoài và các dự án này đều đang ở giai đoạn đầu nhưng thiết nghĩ Chính phủ cần có các chính sách về đào tạo đội ngũ chuyên môn để có thể sẵn sàng tiếp nhận các dự án BOT vào giai đoạn chuyển giao để có thể tiếp nhận được các công nghệ cao ngay. * * * * * * * * * * * * Ấn Độ và Bahrain là hai quốc gia đã có những thành công đáng kể trong thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào ngành công nghiệp điện. Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của Ấn Độ và Bahrain, ta thấy ngành điện của hai quốc gia này khá phát triển, điển hình như: cơ cấu quản lý ngành điện Ấn Độ hợp lý (bởi từng Bang của Ấn Độ đều có một Bộ Điện lực vì thế ngành điện được quản lý và kiểm soát chặt chẽ hơn, ở Ấn Độ không tồn tại một tập đoàn độc quyền ngành điện như EVN của Việt Nam) vì thế đảm bảo được tính minh bạch cho cơ cấu ngành điện; tiêu chí kỹ thuật của nhà máy điện IPP ở Bahrain rất cao và nghiêm ngặt, không những đảm bảo sự thành công cho công trình mà còn giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường xung quanh;... Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của hai quốc gia này, kết hợp với thực trạng thu hút và sử dụng FDI vào ngành điện Việt Nam, tác giả đã đề ra một số giải pháp như: Nhà nước cần triển khai xây dựng mô hình thị trường điện lực đảm bảo tính cạnh tranh ở khâu phát điện và những khách hàng lớn có thể mua điện trực tiếp từ các nhà máy IPP, ban hành các chính sách ưu đãi, lựa chọn IPP thông qua đấu thầu cạnh tranh nhằm đảm bảo tính công bằng và minh bạch, đảm bảo về mặt tài chính – một yếu tố quan trọng quyết định đến tính khả thi của dự án,…; EVN cần đảm bảo sao cho hợp đồng mua bán điện với các nhà máy điện IPP phải rõ ràng, minh bạch và phân rõ quyền hạn, trách nhiệm của các bên. Ngoài ra còn một số giải pháp khác liên quan đến chủ đầu tư và yếu tố con người. 98 KẾT LUẬN Việt Nam hiện nay đang hướng vào chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến 2020, nước ta cơ bản là một nước công nghiệp. Để góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra, rõ ràng chúng ta cần phát triển tốt hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung và ngành công nghiệp điện nói riêng, điều này không những sẽ phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế thương mại giao lưu trong nước và quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chỉ huy động nguồn ngân sách Nhà nước thì sẽ không đủ. Kinh nghiệm của một số nước đi trước cho thấy, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI vào ngành điện thông qua các dự án BOT nói riêng và dự án IPP nói chung đã thể hiện tính ưu việt của nó. Thông qua hình thức này, chúng ta được bổ sung một lượng vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng ngành điện. Các hình thức đầu tư này giúp giảm bớt gánh nặng về tài chính và rủi ro cho Nhà nước, huy động được các nguồn lực của tư nhân cho xây dựng các nhà máy điện, đem lại hiệu quả đầu tư cao hơn, đồng thời khắc phục những yếu kém về khoa học kỹ thuật và công nghệ của ta. Tuy nhiên, số lượng các dự án điện IPP dưới hình thức đầu tư BOT, BOO cũng như một số hình thức đầu tư khác vào ngành điện tính đến nay chưa nhiều và thời gian thực hiện chưa lâu do chưa hấp dẫn được các nhà đầu tư. Có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có bốn nguyên nhân chính giải thích cho tình trạng này. Thứ nhất là cơ cấu ngành điện Việt Nam chưa hợp lý với sự độc quyền của Tập đoàn Điện lực EVN. Thứ hai là sự rườm rà, phức tạp và tính minh bạch của thủ tục đầu tư vào ngành điện chưa được cải thiện, gây khó khăn cho nhà đầu tư nước ngoài. Thứ ba là các điều khoản của hợp đồng mua bán điện giữa nhà đầu tư với EVN chưa chặt chẽ và rõ ràng, dẫn đến những xung đột lợi ích trong quá trình triển khai dự án. Thứ tư là khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư vào ngành điện gặp khó khăn bởi các ngân hàng Việt Nam thường không đáp ứng đủ hạn mức vay của chủ đầu tư, việc 99 huy động vốn từ các cổ đông cũng gặp trở ngại do cổ phần các nhà máy điện vừa và nhỏ không mấy hấp dẫn các nhà đầu tư nên có tính thanh khoản yếu. Khóa luận đã đề xuất những giải pháp cụ thể cho từng vấn đề lớn trong hoạt động thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân vào ngành công nghiệp điện. Song tựu chung lại để đảm bảo sự thành công của các dự án BOT, BOO,… đồng thời vẫn đảm bảo lợi ích của Chính phủ, đất nước, cộng đồng và chủ quyền quốc gia thì ta cần phải gia tăng tính cạnh tranh, xây dựng những cơ chế đảm bảo cho lợi ích của khu vực tư nhân khi tham gia, giám sát chặt chẽ hoạt động của dự án nhưng vẫn đảm bảo tính thông thoáng, minh bạch và có những giải pháp kịp thời, hợp lý khi có những vấn đề vướng mắc nảy sinh. Ngành điện là một ngành công nghiệp quan trọng của bất kỳ một quốc gia nào và luôn luôn cần phải được đầu tư phát triển một cách tương xứng, tạo đà cho các ngành công nghiệp khác phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững của đất nước. Bởi vậy, việc khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân vào ngành này dưới các hình thức đầu tư khác nhau là rất cần thiết. 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu Tiếng Việt 1. Anand Chiplunkar (2006), Tư vấn của ADB về PPP tại các nước Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS). 2. Báo cáo về công trình quan trọng quốc gia Khí – Điện – Đạm tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2007. 3. Báo cáo của Ban Thư ký Liên Hiệp Quốc, công bố tháng 11/2007 về chính sách đầu tư tại Việt Nam. 4. Danh mục các dự án trọng điểm quốc gia gọi vốn đầu tư nước ngoài thời kỳ 2005 – 2010 vào ngành Công nghiệp Điện lực, Bộ Công Thương. 5. Khoản 1, Điều I, Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 – 2015 có xét đến năm 2025. 6. Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005. 7. Nghị định của Chính phủ số 45/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2001 về hoạt động điện lực và sử dụng điện. 8. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần Toàn Thắng, Nguyễn Mạnh Hải (2006), Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tr.1,2. 9. Nguyễn Thị Hường (1995), Phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào phát triển công nghiệp Việt Nam, Luận án Phó Tiến sỹ Khoa học kinh tế, tr.23. 10. Nguyễn Thị Láng (2007), Những khía cạnh pháp lý và tài chính của Hợp đồng BOT, Tạp chí Khoa học pháp luật. 11. Nguyễn Thị Mơ, Hoàng Ngọc Thiết (2005), Giáo trình pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, Nhà xuất bản Giáo dục. 101 12. Nguyễn Thị Thu Hằng, Lê Tuyển Cử, Nguyễn Thị Thu Trà, Vũ Cường (2004), Cơ sở lý luận và thực tiễn tài trợ trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam dưới hình thức BOT (Build – Operate – Transfer), tr.20. 13. Nguyễn Thị Thu Hằng (2003), Một số vấn đề về đầu tư theo hình thức Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Tạp chí Kinh tế đối ngoại, tr.62– 65. 14. Phạm Gia Trí (2001), Sự tham gia của khu vực tư nhân vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển thông qua hình thức BOT. 15. Phòng Phân tích đầu tư Công ty cổ phần chứng khoán Rồng Việt, Báo cáo thường niên ngành điện từ năm 2003 đến năm 2008. 16. Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập (Ban hành kèm theo Quyết định số 30/2006/QĐ-BCN ngày 31/8/2006 của Bộ Công Thương). 17. Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập (Ban hành kèm theo Quyết định số 50/2002/QĐ-BCN ngày 25/11/2002 của Bộ trưởng của Bộ Công Nghiệp). 18. Quyết định 176/2004/QĐ-TTG ban hành ngày 5 tháng 10 năm 2004 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Điện Việt Nam giai đoạn 2004 – 2010, định hướng đến năm 2020. 19. Quyết định 32/2006/QĐ-BCN ban hành ngày 6/9/2006 về việc ban hành Quy định điều kiện, trình tự và thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi và quản lý sử dụng Giấy phép hoạt động điện lực. 20. Sản xuất điện ở Việt Nam hiện nay và xu hướng phát triển. 21. Vũ Chí Lộc (1997), Giáo trình đầu tư nước ngoài, Nhà xuất bản Giáo dục. 22. Vũ Lan Anh (2003), Các giải pháp nâng cao hiệu quả các dự án BOT tại Việt Nam đáp ứng sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Ngoại Thương. II. Tài liệu Tiếng Anh 1. Nguyen Thanh Son, An overview of the Electricity Market Models and their application in Viet Nam, 2007, tr.1. 102 2. Shanming Li, Xiao bei Chen (1997), To promote infrastructure construction of China by using BOT to raise domestic funds, tr.3. 3. Theodore H. Moran, Edward Montgomery Graham, Magnus Blomstrom (2005), Does Foreign Direct Investment promote development?, tr.175. 4. UNCTAD, World Investment Report 2008. III. Trang Web 1. Báo Arabianbusiness (www.arabianbusiness.com) 2. Báo diễn đàn doanh nghiệp điện tử (www.dddn.com.vn) 3. Báo doanh nghiệp Hindu (www.blonnet.com) 4. Báo Đầu tư (www.vir.com.vn) 5. Báo Giao thông Vận tải điện tử (www.giaothongvantai.com.vn) 6. Báo Tài nguyên và Môi trường (www.monre.gov.vn) 7. Báo U.S. Department of State Diplomacy in Action (www.state.gov) 8. Báo WTO News (www.wto.org) 9. Bộ Công Thương (www.moi.gov.vn) 10. Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Nội (www.hssc.com.vn) 11. Công ty Điện Lực 1 (www.pc1.com.vn) 12. Công ty Điện lực Hà Nội (www.hanoipc.evn.com.vn) 13. Công ty Điện lực TP. HCM (www.hcmpc.com.vn) 14. Công ty Cổ phần Hiện Đại Hóa (www.hiendaihoa.com) 15. Cục Đầu tư nước ngoài (www.fia.mpi.gov.vn) 16. Diễn đàn các doanh nghiệp Việt Nam (www.vibonline.com.vn) 17. Tập đoàn Pennwell (www.pepei.pennnet.com) 18. Tập đoàn Tân Tạo (www.itaexpress.com.vn) 19. Thời báo kinh tế Việt Nam (www.vneconomy.vn) 20. Tin nhanh Việt Nam ra thế giới (www.vietbao.vn) 103 PHỤ LỤC Danh mục dự án trọng điểm quốc gia gọi vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thời kỳ 2005 – 2010 vào ngành công nghiệp điện Thứ tự Tên dự án Địa điểm Thông số kỹ thuật Hình thức đầu tƣ Ghi chú 1 Nhà máy sản xuất máy chế biến điện truyền tải Hải Phòng, Quảng Ninh Công suất từ 110 KV trở lên Liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài 2 Nhà máy nhiệt điện Ô Môn 2 Cần Thơ Công suất 750 MW BOT, IPP Dự kiến vận hành 2011 3 Nhà máy nhiệt điện Ô Môn 4 Cần Thơ Công suất 720 MW BOT, IPP Dự kiến vận hành 2013 4 Nhà máy nhiệt điện Nhân Trạch Đồng Nai Công suất 720 MW BOT, IPP Dự kiến vận hành 2012 5 Nhà máy nhiệt điện Nhân Trạch 4 Đồng Nai Công suất 720 MW IPP, BOT Dự kiến vận hành 2013 6 Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng KCN Vũng Áng Công suất 600 MW Liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài 640 triệu USD (2 giai đoạn) Nguồn: Danh mục dự án trọng điểm quốc gia gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Công nghiệp điện lực (Thời kỳ 2005 – 2010), Bộ Công Thương,

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf4629_689.pdf