Đề tài Tác động của trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp

MỤC LỤC Trang CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI . 9 1.1. Lý do nghiên cứu 9 1.2 Mục tiêu nghiên cứu . 10 1.2.1 Mục tiêu tổng quát . 10 1.2.2 Mục tiêu cụ thể 11 1.3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và số liệu 11 1.3.1 Phương pháp luận 11 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu. 12 1.3.3 Số liệu . 12 1.3.4 Biến . 12 1.3.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu . 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC. . 14 2.1. Tiềm lực tài chính 16 2.2. Hoàn cảnh gia đình 18 2.3. Giáo dục 19 CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, DOANH NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM. . 29 3.1. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM 29 3.2. DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 34 3.3. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH . 40 CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM . . 45 4.1. Phương pháp luận 45 4.2 . Số liệu 46 4.3. Biến . 46 4.4. Phân tích số liệu . 47 4.5 . Kết quả phân tích thực nghiệm . 49 4.5.1. Gia cảnh cá nhân: 50 4.5.2. Tài chính: 51 4.5.3. Trình độ học vấn . 55 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 58 1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu 58 2. Khuyến nghị chính sách . 59 3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 59 3.1 Hạn chế 59 3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 62 Tóm tắt nghiên cứu Doanh nghiệp tư nhân đã trở thành một lực lượng chính cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Bên cạnh một số lượng lớn doanh nghiệp hộ gia đình (trong khu vực không chính thức), đã có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký mới trong thập kỷ qua là kết quả của sự ra đời Luật Doanh nghiệp trong năm 2000 và 2005. Theo đó, số doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới đã tăng 160.000 doanh nghiệp trong suốt giai đoạn 2000 – 2005 (Tô Trung Thành và công sự, 2009). Sự bùng nổ của những doanh nghiệp tư nhân đã hấp thụ số lượng lớn số người thât nghiệp trong những thành phố lớn và những nông dân dư thừa ở khu vực nông thôn, do đó đã có những đóng góp tuyệt vời cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua (Perkins và cộng sự, 2008). Nhận thức được tầm quan trọng của những doanh nghiệp nhỏ đối với tăng trưởng kinh tế; chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, vẫn có sự thiếu hụt những chính sách đồng bộ nhắm tới những cá nhân đang phải đối mặt với sự lựa chọn việc trở thành doanh nhân (tự làm chủ) hay trở thành người làm công ăn lương. Bài nghiên cứu này của chúng tôi sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008 (VLSS 2008). Được tiến hành điều tra bởi Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của Ngân hàng Thế giới (WB). Bao gồm 9189 hộ gia đình với 38253 cá nhân được điều tra. Mô hình logit được sử dụng để đánh giá sự tác động của các yếu tố tới xác suất quyết định tự làm chủ của một cá nhân. Trong đó, tập trung xem xét ảnh hưởng của ba nhân tố: trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân. Chúng tôi sẽ làm rõ chiều hướng tác động và ảnh hưởng của các nhân tố này. Có thể thấy rằng: tổng số người trong gia đình không có ý nghĩa trong mô hình xác suất quyết định trở thành người làm thuê nhưng có ý nghĩa trong mô hình tự làm chủ và có tác động tích cực. Việc có vợ hoặc chồng cũng không ảnh hưởng tới quyết định của cá nhân. Nhưng tình trạng nghề nghiệp, loại hình công việc của vợ hoặc chồng lại có ảnh hưởng cụ thể: nếu vợ hoặc chồng là làm thuê thì tác động tích cực đến quyết định làm thuê và làm giảm xác suất quyết định tự làm chủ của cá nhân. Nếu vợ hoặc chồng tự kinh doanh thì sẽ có tác động tích cực, đáng kể và làm tăng xác suất quyết định tự làm chủ. Tác động là ngược lại đối với khu vực làm thuê. Các biến vợ (chồng) đang làm việc tuy không có ý nghĩa thống kê nhưng chúng cho ta thấy sự tác động tiêu cực tới xác suất trở thành người làm thuê. Biến tài chính mà đại diện ở đây là giá trị nhà sở hữu tác động tích cực, đáng kể và làm tăng xác suất trở thành người tự chủ kinh doanh ngược lại với khu vực làm chủ. Trình độ học vấn hay cấp độ giáo dục cao không phải là yếu tố quyết định nhất đối với một cá nhân trong việc đi đến quyết định tự chủ kinh doanh. Với bộ số liệu chúng tôi có, được sử dụng trong bài nghiên cứu này. Trong mô hình phân tích, giáo dục (việc sở hữu bằng cấp cao) xuất hiện như là một yếu tố tác động tiêu cực đến xác suất quyết định tự làm chủ (tự làm thuê cho chính mình) hay việc đi đến quyết định khởi đầu một doanh nghiệp. Ngược lại, trình độ học vấn cao hơn lại tác động mạnh mẽ, tích cực và làm đến xác suất cá nhân làm việc trong khu vực làm công ăn lương. Bài nghiên cứu vẫn còn nhiều thiếu sót do hạn chế của bộ số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu. Bộ số liệu (VLSS 2008) được điều tra chung bao gồm những câu hỏi về giáo dục, y tế, sức khỏe, đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện kinh tế, hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp, . Không phải là bộ số liệu điều tra chuyên biệt và tốt nhất để phục vụ mục đích nghiên cứu của chúng tôi. Các biến đại diện cho trình độ học vấn khá đầy đủ nhưng biến đại diện cho gia cảnh cá nhân còn thiếu. Ví dụ như biến số người phụ thuộc, vợ (chồng) sở hữu doanh nghiệp riêng, . Đặc biệt các biến đại diện cho tiềm lực tài chính còn quá ít, mới chỉ dừng lại ở số lượng và giá trị tài sản sở hữu. Các biến tiếp cận nguồn lực tài chính, thu nhập của vợ, đầu tư thu nhập Do hạn chế số liệu nên chưa thể đưa vào mô hình. Điều này gây ra hạn chế trong việc đánh giá sự tác động của tiềm lực tài chính tới quyết định của mỗi cá nhân. Tiếp đó, là hạn chế của mô hình nghiên cứu khi mô hình sử dụng trong việc phân tích tác động của các yếu tố đến xác suất quyết định tự làm chủ của cá nhân. Khi chúng tôi chỉ sử dụng mô hình logit để đánh giá xác suất tác động của các nhân tố. Điều này, một phần cũng do thời gian không cho phép. Cũng phải nói đến sự hạn chế về trình độ nghiên cứu, cụ thể trong quá trình sử lý số liệu và biến cho từng lĩnh vực xem xét còn nhiều biến chưa được xem xét và nhiều biến đưa vào mô hình gây ra các khuyết tật của ước lượng. Do vậy phải đưa ra khỏi mô hình. Tuy nhiên, bài nghiên cứu đã giải thích được chiều hướng tác động của các biến tới quyết định lựa chọn của mỗi cá nhân mà trong bài nghiên cứu chúng tôi đã tập trung vào ba nhóm nhân tố: Trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân. Kết quả phát hiện phù hợp với mục đích nghiên cứu cũng như trong điều kiện thực tế tại Việt Nam. Mặt khác, bộ số liệu (VLSS 2008) lần đầu tiên được chúng tôi sử dụng cho mục đích nghiên cứu về chủ đề này. Trước đó, không có nhiều nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân ở Việt Nam. Có ý nghĩa như là kim chỉ nam, tài liệu hướng dẫn cho mỗi cá nhân khi quyết định tự làm chủ (làm thuê cho chính mình) hay khởi đầu một doanh nghiệp. Bài nghiên cứu của chúng tôi phần nào bổ xung những thiếu sót này.

pdf64 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2544 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tác động của trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
8 79,79 92,25 124,62 Kinh tế ngoài nhà nước 6,31 7,97 8,96 10,25 11,68 17,72 Tập thể 89,57 137,66 160,7 190,96 226,09 603,15 Tư nhân 41,14 31,26 30,59 31,11 33,31 41,8 Cá thể 4,39 5,57 6,31 7,24 8,26 12,65 Kinh tế có FDI 156,88 114,41 113,64 118,44 124,12 164,87 Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niêm giám thống kê, 2008. Thu nhập (cũng là GDP) nhưng được tính theo giá hiện hành tăng 120% (thu nhập tính theo GDP năm 2000 bình quân một lao động đạt 11,7 triệu đồng, năm 2008 là 32,9 triệu, tăng 180%). Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có thu nhập trên mỗi lao động cao hơn từ 5-7 lần so mức trung bình nền kinh tế, thành phần kinh tế nhà nước có mức thu nhập cao hơn so mức trung bình của nền kinh tế vào khoảng 4 lần, kinh tế ngoài nhà nướcthấp hơn, và chỉ bằng một nửa so mức trung bình chung. Trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước thì kinh tế tập thể đạt mức cao nhất, cao hơn khi so với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thành phần kinh tế cá thể, bộ phận chiếm số lao động lớn nhất có mức thu nhập thấp nhất và chỉ bằng 35-40% so trung bình của nền kinh tế, nếu so với thu nhập của lao động ở thành phần kinh tế nhà nước thì chưa bằng 10%. Xét trên các góc độ, chúng ta càng thấy rõ hơn sự phi hiệu quả trong khu vực nhà nước, mức độ đóng góp không tương xứng với nguồn lực chảy vào khu vực này. Xem xét tình hình cụ thể hơn về sự không tương xứng giữa mức vốn đầu tư và đóng góp vào tăng trưởng GDP ta thấy rõ hơn tình hình này. 39 Bảng 13: Cơ cấu vốn đầu tư và GDP theo thành phần kinh tế: Cơ cấu GDP theo thành phần Cơ cấu VĐT theo thành phần 199 5 200 0 200 5 200 8 199 5 200 0 200 5 200 8 Nền kinh tế 100 100 100 100 100 100 100 100 Kinh tế nhà nước 40.2 38.5 38.4 34.4 42 59.1 47.1 28.6 Kinh tế ngoài nhà nước 53.5 48.2 45.6 47 27.6 22.9 38 40 Kinh tế có FDI 6.3 13.3 16 18.7 30.4 18 14.9 31.5 Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê,2008. (GDP và vốn đầu tư tính theo giá hiện hành) Chúng ta có thể thấy được bức tranh phân bổ nguồn lực giữa các tác nhân tham gia vào quá trình đầu tư. Thành phần kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư, lúc cao nhất là 59% (năm 2000), năm 2008 là gần 29%. Nhưng mặt khác đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng lại có xu hướng giảm qua các năm. Các số liệu cho thấy hiệu quả vốn đầu tư vào khu vực này là thấp, càng gia tăng đầu tư hiệu quả càng giảm. Có thể nhận ra xu hướng giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư vào khu vực nhà nước, và tỷ trọng này dần tăng lên trong khu vực ngoài nhà nước. Đây có thể xem như một xu thế chung, khu vực nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng không còn là chủ đạo nữa. Vốn đầu tư được phân bổ tới nơi năng động hơn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm vào khoảng 20-30% trong tổng vốn đầu tư và vào khoảng 14-18% GDP. Vốn đầu tư nước ngoài đã bổ sung và trở thành thành phần quan trọng trong tổng mức đầu tư vào nền kinh tế. Nó sẽ có mối liên hệ tới các thành phần kinh tế khác trong quá trình đặt hàng và lan tỏa của hiệu ứng đầu tư khi kích thích đầu tư ở các thành phần kinh tế khác. Khi qui mô của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài lớn lên và quá trình hoạt động ở Việt Nam đủ lâu, thành phần kinh tế này sẽ tiếp cận các nguồn tín dụng và tài nguyên trong nước không khác gì các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp ngoài nhà nước thì vấn đề sẽ khác, hoàn toàn khác. Sự cạnh tranh phân bổ tài nguyên, nguồn lực, từ nguồn vốn tín dụng, điện năng… sẽ là khó khăn lớn, rất lớn cho thành phần kinh tế ngoài nhà nước, đặc biệt là với kinh tế cá thể. Kinh tế ngoài nhà nước (với 40 đại bộ phận là cá thể) với gần 1/2 GDP nhưng chỉ chiếm ít hơn 30% trong tổng vốn đầu tư cho thấy sự yếu kém về nội lực của thành phần kinh tế này. 3.3. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Theo các báo cáo thường niên của các tổ chức thế giới, vị trí xếp hạng chung môi trường kinh doanh Việt Nam rất thấp, thậm chí còn ở thứ hạng dưới rất xa so với các nước trong khu vực. Bảng 14: Xếp hạng báo cáo môi trường kinh doanh của WB 2008 và (2009) Thái Lan Trung Quốc Việt Nam Môi truờng KD chung 15 (13) 83 (83) 91 (92) Lập doanh nghiệp 36 (44) 135 (151) 97 (108) Đối xử đối với giấy phép 12 (12) 175 (176) 63 (67) Tiếp nhận lao động 49 (56) 86 (111) 84 (90) Đăng ký tài sản 20 (5) 29 (30) 38 (37) Tiếp cận tín dụng 36 (68) 84 (59) 48 (43) Bảo vệ nhà đầu tư 33 (11) 83 (88) 165 (170) Nộp thuế 89 (82) 168 (132) 128 (140) Thương mại xuyên biên giới 50 (10) 42 (48) 63 (67) Thực hiện hợp đồng 26 (25) 20 (18) 40 (42) Đóng cửa doanh nghiệp 44 (46) 57 (62) 121 (124) Nguồn: Tô Trung Thành, 2009. Báo cáo của tổ chức Heritage Foundation (2008) về chỉ số tự do kinh tế IEF để đánh giá mức độ thông thoáng kinh doanh. Xếp hạng Việt Nam ở vị trí rất thấp 145/179 (2009), dưới Indonesia (131), Thái Lan (67) hay Campuchia (106). Theo báo cáo của Forbes (2008), vị trí Việt Nam 113/121 theo chỉ tiêu các quốc gia tốt nhất cho kinh doanh và thuộc nhóm 10 nước ở vị trí cuối bảng. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) xếp Việt Nam 68/131 (2007-2008) và 70/134 (2008- 2009) về năng lực cạnh tranh toàn cầu, thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á, chỉ xếp trên Philippines (71) và Campuchia (109). 41 Các thủ tục đăng ký quản lý: Thủ tục đăng ký kinh doanh được cải thiện rất nhiều và là một điểm sáng của môi trường kinh doanh Việt Nam. Thành tựu lớn nhất trong quá trình phát triển doanh nghiệp là sự cải thiện khung pháp lý liên quan đăng ký kinh doanh và gia nhập thị trường. Theo đó, các doanh nghiệp gia nhập dễ dàng hơn rất nhiều so với các năm trước, thủ tục, thời gian và chi phí đã thực sự được cắt giảm. Luật doanh nghiệp (2000) và (2005) là một bước tiến dài trong việc tạo lập môi trường tích cực cho sự phát triển công nghiệp và là lý do chính yếu giải thích những tiến bộ vượt bậc của khu vực tư nhân những năm gần đây. Thủ tục giải thể doanh nghiệp: Chỉ tiêu “đóng của doanh nghiệp” xếp thứ hạng rất thấp 121/178 (2008), kém xa các nước trong khu vực. Theo báo cáo của WB, thủ tục phá sản mất ít nhất 5 năm, tốn kém 15% giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì các bên liên quan chỉ thu hồi được 18% giá trị tài sản. Vì thế, rất ít doanh nghiệp tuân theo các quy định và thủ tục chính thức khi muốn đóng cửa hoạt động. Bảo vệ nhà đầu tư: Chỉ tiêu “bảo vệ nhà đầu tư” Việt Nam bị đánh giá thấp nhất 165/178 (2008), trong nhóm 15 nước cuối bảng xếp hạng. Chỉ tiêu xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư bao gồm tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái. Việt Nam chỉ đạt 2.7/10 điểm cho chỉ số này, trong đó chỉ số về trách nhiệm của giám đốc nằm trong nhóm thấp nhất thế giới (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10 và 6/10). Thủ tục liên quan thương mại quốc tế: Số tài liệu thủ tục để xuất khẩu/nhập khẩu là 6/8, thời gian để xuất/nhập một lô hàng là 24/23 ngày (WB, 2008). Shrestha (2006) cho thấy con số tồi tệ hơn – để một lô hàng xuất khẩu cần đến 6 loại giấy tờ, 12 chữ kỹ, trung bình mất 35 ngày để lô hàng xuất qua biên giới, trong khi Trung Quốc chỉ cần 7 chữ ký và 18 ngày. Số chữ ký cho nhập khẩu lên tới 15, trung bình mất 36 ngày để lô hàng đi vào thị trường nội địa, trong khi Trung Quốc chỉ cần 8 chữ ký, Malaysia chỉ cần 5 chữ ký, và chỉ mất 22 ngày (2007). Quyền sở hữu tài sản: Quyền sở hữu chính thức không được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật của Việt Nam theo WB (2006) và VNCI (2006). Năm 2005, chỉ có 53% doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và số ngày trung bình để nhận được loại giấy tờ này lên đến 134 ngày (Rand và Tarp, 2007). Đây có thể coi là 42 một cản trở đối với khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của các doanh nghiệp, do các ngân hàng hầu hết đòi hỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như một tài sản cầm cố chính. Thủ tục và thời gian dành cho các thủ tục hành chính: Quy định hành chính rườm rà, phức tạp nên doanh nghiệp phải tiêu tốn nhiều thời gian để xử lý. Trung bình chiếm 29.1% thời gian chủ doanh nghiệp, chỉ còn 2/3 thời gian dành cho quản lý và điều hành (Rand và Tarp, 2007). Những doanh nghiệp lớn hoặc ở những thành phố lớn chi phí thời gian hành chính dài một cách ngạc nhiên, 44.5% và 38.7% cho những chủ doanh nghiệp ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, hoặc trên 50% cho những doanh nghiệp có quy mô vừa và quy mô lớn. Đóng thuế: Theo Báo cáo môi trường kinh doanh của WB, doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn nhiều thời gian nhất để đáp ứng các yêu cầu về thuế do những thủ tục thuế phức tạp nhiêu khê. Bình quân một doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050 giờ làm việc trong một năm, trong khi ở Indonesia là 266 giờ làm việc (WB/IFC, 2008). Tình trạng trốn thuế ở các DNTN khá trầm trọng. Năm 2004, thuế chỉ chiếm trung bình 2.63% tổng doanh thu của các doanh nghiệp. Có đến 14% doanh nghiệp không trả đồng thuế nào, trong đó 91% là những doanh nghiệp không đăng ký chính thức. Tham những và chi phí phi chính thức: Theo xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perception Index) của Transparency International, Việt Nam liên tục tụt hạng từ 82 (2000) xuống 125/180 (2008), thuộc nhóm nước tình trạng tham nhũng tồi tệ, kém xa các nước ASEAN khác, chỉ trên Indonesia và Phillippines. Theo VNCI (2006), tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin công bằng còn là trở ngại lớn đối với doanh nghiệp. Có đến 41% doanh nghiệp đã từng hối lộ quan chức. Mục đích là: tiếp cận các dịch vụ công cộng; Nhận giấy phép hay giấy đăng ký; Chi trả cho quan chức thuế; Giành được hợp đồng của chính phủ/thủ tục công cộng; Liên quan đến khách hàng; Giành được hợp đồng từ khách hàng tư nhân; Tạo mối quan hệ với khách hàng; Tạo mối quan hệ với quan chức chính quyền; Các mục đích khác. Khả năng tiếp cận các nguồn lực và thị trường: Bên cạnh những khó khăn tiếp cận chung của doanh nghiệp, khả năng tiếp cận bất bình đẳng giữa các khu vực của nền kinh tế. Những cản trở lớn nhất đối với các DNTN vẫn nằm ở những ưu đãi đối khu vực 43 DNNN trong khả năng tiếp cận thị trường, vốn, đất đai,… tạo hiệu ứng lấn át các DNTN. Tiếp cận thị trường lao động: Nổi lên là khả năng tiếp cận lao động có kỹ năng và trình độ, hạn chế lớn nhất của lao động Việt Nam. Báo cáo của VNCI (2006) cho thấy lao động và nguồn nhân lực chất lượng cao hai năm liền là một trong ba khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Theo báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI 2008-2009, trong cuộc khảo sát ý kiến các chuyên gia, thiếu lao động có trình độ là một trong ba yếu kém nhất của Việt Nam, và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của doanh. Tiếp cận nguồn vốn: Việt Nam có nhiều thay đổi tích cực trong lĩnh vực vay vốn tín dụng bởi đã áp dụng hệ thống đăng ký thông tin tín dụng công giúp lưu trữ các hồ sơ tín dụng lâu hơn, giúp cung cấp cho các tổ chức tín dụng có thêm các dữ liệu về lịch sử tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng tiềm năng. MPI (2008) cho rằng, so với trước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Các ngân hàng hiện nay đã sẵn sàng hơn trong việc cho vay, các gói sản phẩm và dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp phong phú hơn, bao gồm hoạt động cho thuê tài chính và một vài hoạt động thanh toán bắt đầu được triển khai. Tiếp cận đất đai: Nhà nước vẫn kiểm soát mọi loại đất đai sử dụng cho mục đích công nghiệp, nhiều thủ tục và rào cản tiếp cận đất đai và cơ sở hạ tầng. DNTN phần lớn không tiếp cận được các khu công nghiệp, và gặp rất nhiều khó khăn khi làm việc với các chính quyền địa phương để có được một mảnh đất nhỏ. Trong khi đó, những doanh nghiệp nhà nước với việc sở hữu những khu vực đất đô thị đẹp, thường sử dụng tài sản đất đai để đóng góp vốn cổ phần cho các liên doanh với nước ngoài, và chênh lệch ưu thế lại càng bị đẩy ra hơn. Tiếp cận các cơ sở hạ tầng: Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI của WEF, cơ sở hạ tầng là một trong ba điểm yếu nhất của môi trường kinh doanh, ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh của các doanh nghiệp. MPI (2008) nhận định rằng hạ tầng về giao thông (đường sắt, đường bộ, cầu, cảng biển, …) còn rất kém. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế và dòng vốn đầu tư của nước ngoài. Tiếp cận thị trường quốc tế: Tiếp cận thị trường là trở ngại lớn thứ hai sau khả năng tiếp cận nguồn vốn, khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp nhỏ. Thị trường lớn nhất của những DNTN hiện tại chủ yếu là thị trường trong nước, việc mở rộng thị 44 trường quốc tế đối với khu vực này là rất khó khăn. chi phí tiếp cận thị trường nước ngoài rất cao, nên chỉ rất ít những doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được thị trường nước ngoài. Tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có xuất khẩu trực tiếp rất nhỏ, phần lớn không có bất cứ chiến lược gì để tận dụng cơ hội mở cửa và hội nhập của nền kinh tế. Tiếp cận các dự án đầu tư chính phủ: Thông thường DNTN cung cấp hàng hóa và dịch vụ một cách gián tiếp cho DNNN với tư cách là nhà thầu phụ. Cơ hội để làm nhà thầu chính trong các dự án của chính phủ rất khó khăn so với các DNNN. Cơ chế ngân sách khá lỏng lẻo trong các DNNN tạo điều kiện hơn cho các doanh nghiệp thuộc khu vực này có những quỹ để hối lộ hoặc chi cho những chi phí phi chính thức khi tham gia đấu thầu đầu tư công cộng. Điều này tạo ra áp lực cạnh tranh không hiệu quả và thiếu công bằng giữa các doanh nghiệp. 45 CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 4.1. Phương pháp luận Xem xét hành vi sự lựa chọn giải thích cho việc quyết định việc làm trong thị trường lao động tại Việt Nam để trở thành một doanh nhân. Và để đánh giá những yếu tố tác động đến xác suất quyết định lựa chọn tự làm chủ (làm thuê cho chính mình) hoặc làm thuê (làm công ăn lương). Mô hình (CDF) logitstic: 1 2 2 3 3 4 4 5 1 2 2 3 3 4 4 5 exp( )Pr( 1| , ) 1 exp( ) i i i i i s s i i i i i C E F HSE X p C E F H                        Trong đó, biến phụ thuộc: SEi (SE = 1, nếu cá nhân quyết định tự làm chủ; SE = 0, nếu cá nhân quyết định làm công ăn lương). Nhóm các biến điều chỉnh trong mô hình (C); nhóm các biến đại diện cho trình độ học vấn (E); nhóm các biến đại diện cho tiềm lực tài chính (F); và nhóm biến đại diện cho gia cảnh cá nhân (H). Biến đổi ta được: 1 iZi i p e p   , với 1 2 2 3 3 4 4 5i i i i iZ C E F H         Hàm Logit sau được sử dụng : 1 2 2 3 3 4 4 5( )1 i i i i i i i PLn Z C E F H p            Tác động biên của các biến đại diện cho trình độ học vấn, tiềm lực tài chính, gia cảnh cá nhân và các biến điều chỉnh trong mô hình được tính theo công thức: Pr( 1 | ) (1 )i k i i i k k k SE X P P P X X          46 4.2 . Số liệu Nghiên cứu sử dụng số liệu từ Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) trong năm 2008. Đây là một trong chuỗi 5 cuộc điều tra được thực hiện 2 năm một lần từ 2000 đến 2010 bởi Tổng cục Thống kê (GSO), được Ngân hàng Thế Giới (WB) hỗ trợ kỹ thuật. Mỗi cuộc điều tra đều có những câu hỏi về hộ gia đình và những câu hỏi chung. Câu hỏi về hộ gia đình có mức bao phủ rộng thông tin về từng cá nhân cũng như cả gia đình như: giáo dục, sức khỏe, thu nhập và chi tiêu, tiết kiệm, nhà, tiếp cận dịch vụ công cộng,…. Bảng câu hỏi chung bao gồm những câu hỏi về cơ sở vật chất, đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện kinh tế nói chung và hoạt động kinh tế, điều kiện cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp cấp xã…. Số liệu thu được từ cuộc điều tra đều gồm 9189 hộ gia đình với 38253 cá nhân, trong số này có 35154 người có thông tin về việc làm và thu nhập. Bộ câu hỏi phân loại người lao động làm 3 nhóm: lao động được trả lương (làm thuê), nông dân, và tự làm chủ. Định nghĩa tự làm chủ bao gồm những người làm việc cho doanh nghiệp kinh doanh hoặc tổ chức nghề nghiệp và được quản lý bởi gia đình họ tại thời điểm phỏng vấn. Tuy nhiên, để đạt sự thuần nhất trong số liệu hồi quy, phạm vi mẫu được tác giả giới hạn đối với những người là chủ hộ trong độ tuổi từ 15 đến 60, đang lao động toàn thời gian (tối thiểu 40 tiếng 1 tuần, hay 8 tiếng/ngày*5 ngày) tại khu vực thành thị. Với giới hạn đó, mẫu bị giới hạn còn 1220 quan sát. Nếu mở rộng số liệu với sự thay đổi về giờ lao động (tối thiểu là 4 tiếng 1 ngày) thì có được 1604 quan sát thỏa mãn các tiêu chí đã chọn. Kết quả thực nghiệm được rút ra từ hồi quy 1595 trên số 1604 quan sát này, với 788 cá nhân lựa chọn làm chủ thay vì làm thuê. 4.3. Biến Bài viết nghiên cứu tác động của giáo dục, gia cảnh cá nhân và khả năng tài chính tới quyết đinh lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân nên biến giải thích mô hình chủ yếu là những biến đại diện cho các yếu tố trên. Biến đại diện cho giáo dục gồm có bằng cấp cao nhất và số năm đi học (tiểu học (tieuhoc), trung học cơ sở (thcs), tốt nghiệp phổ thông (thpt), trung cấp nghề (tcnghe), cao đẳng (cd), đại học (dh), thạc sỹ (thacsy), tiến sỹ (tiensy). 47 Khả năng tài chính đối với việc trở thành người quyết định tự chủ bao gồm tiền mặt, tài sản của cá nhân mà còn xét tới cả tài sản của cả hộ gia đình và cả khả năng tiếp cận nguồn vốn. Tiền lương (salary), trợ cấp từ công việc, tổng thu nhập khác (tongthunhapkhac), số nhà sử dụng (sonhasd), giá trị nhà sử dụng (tgt_nhasd)… là những biến đại diện cho khả năng tài chính. Tuy nhiên, chỉ có thể đưa biến số nhà sử dụng (sonhasd), tổng giá trị nhà sử dụng (tgt_nhasd) vào mô hình do chỉ những người làm thuê mới có lương và trợ cấp. Về gia cảnh cá nhân, công việc của người cha, công việc của vợ, tình trạng hôn nhân, số trẻ phụ thuộc, … là những biến đại diện tiêu biểu như trong những nghiên cứu trước của Rees and Shah (1986), De Wit (1993), Kidd, (1993) và Lee (1999) đã thực hiện. Những biến được đưa vào mô hình gồm: góa, ly hôn, ly thân, vợ làm công chức, vợ làm nông, vợ tự kinh doanh, bằng cấp của vợ (chồng), … Tuy nhiên, số liệu thu thập được dùng cho các nghiên cứu chung nên không thể xây dựng được các biến đại diện khác cho gia cảnh cá nhân như: số người phụ thuộc hay số trẻ em trong gia đình, công việc của người cha hay việc cha (mẹ) có sở hữu doanh nghiệp riêng không, … Ngoài các biến đại diện trên, mô hình còn bao gồm tập hợp các biến điều chỉnh khác như: các biến dân tộc, trạng thái hôn nhân, tuổi (tuoi), tuổi bình phương (tuoi2), giới tính (gioitinh), kinh nghiệm làm việc (kinhnghiemlv), nhà có máy tính không (comaytinh), có kết nối internet không (comang), khả năng tiếp cận nguồn điện và nước sinh hoạt (nguondien, nuocmaysh). 4.4. Phân tích số liệu Như đã nêu ở phía trên, phạm vi nghiên cứu mô hình dừng lại ở 1604 quan sát thỏa mãn điều kiện: trong độ tuổi lao động, đang làm việc toàn thời gian ở khu vực thành thị. Trong số này có 791 cá nhân lựa chọn tự kinh doanh trong khu vực tư nhân chính thức và phi chính thức, 885 quan sát ghi nhận có làm công ăn lương trong các khu vực kinh tế. Dễ dàng nhận ra rằng có một số ít người vừa làm thuê vừa làm chủ, ở đây là 72. Ở mức độ trùng lặp này, có lẽ sẽ là thận trọng hơn khi tiến hành 2 mô hình riêng rẽ (làm chủ và làm thuê) chứ không dùng 1 mô hình rồi kết luận ngược lại với quyết định lựa chọn còn lại. 48 Nhìn vào bảng thống kê sơ lược số liệu hồi quy, có thể rút ra một số nhận xét ban đầu như sau: Cá nhân làm chủ có độ tuổi trung bình cao hơn so với người làm thuê. Độ tuổi trung bình của người tự doanh là 45,65 – cao hơn không nhiều so với mức 44,16 của người làm thuê. Trên góc độ số năm kinh nghiệm, người làm thuê có số năm kinh nghiệm lớn nhất là 41 năm với mức trung bình là trên 13 năm, tuy nhiên độ lệch chuẩn cũng rất lớn – 9,45. Người làm chủ thì có số năm kinh nghiệm trung bình thấp hơn, chỉ là 12 năm, với độ lệch chuẩn là 8,29 và có quan sát đạt được mức kinh nghiệm là 46 năm – khởi nghiệp từ khi còn rất nhỏ. Người làm thuê hưởng lương nên số liệu về lương và trợ cấp thu thập được với mức trung bình (của log) là 10,34 với độ lệch chuẩn là 0,74. Phần thu nhập từ nguồn khác của nhóm này cũng cao hơn và có độ lệch chuẩn thấp hơn so với người làm chủ, phần nào thể hiện tính ổn định trong thu nhập. Ngược lại, ở biến log tổng giá trị nhà sử dụng thì người làm chủ có trung bình lớn hơn và độ lệch chuẩn nhỏ hơn, tuy rằng sự khác biệt không đáng kể do đã làm mượt số liệu nhờ logarit. Cũng cần chú ý rằng nam giới chiếm tỉ lệ trong số người làm thuê cao hơn so với làm chủ, tương ứng là 74,12% và 64,22%. Có thể dự đoán giới tính và tổng giá trị nhà có thể có ý nghĩa trong mô hình. Về giáo dục, có một sự tương phản khá rõ nét, khi mà người tự đứng ra kinh doanh đa phần có trình độ giáo dục thấp hơn so với người đi làm thuê, có thể là do chi phí cơ hội của việc đi học là đáng kể đối với những người dám mạo hiểm. Chỉ có 2,6% số người làm chủ có trình độ cao đẳng hoặc đại học, trong khi số này ở người làm thuê là hơn 23%. Số người đạt được học vị cao nhất là tiểu học và trung học cơ sở chiếm trên 60% các chủ doanh nghiệp, nhưng chỉ chiếm 37% số người làm công ăn lương. Về điều kiện sống, cả 2 nhóm đều đạt được mức sử dụng tương đương nhau về nguồn điện sử dụng. Gần 100% các hộ đều được dùng điện từ mạng lưới cung cấp trên cả nước. Có một sự khác biệt nhỏ trong tỉ lệ sử dụng nước máy trong sinh hoạt, với lợi thế nghiêng về phía người làm thuê với 54,12%, so với 47,40% của nhóm người làm chủ. Sự khác biệt rõ ràng hơn khi xét tới nhà có máy tính hay không, khi chỉ có 20,85% số người làm chủ có máy tính trong nhà, ít hơn 10% so với người làm công ăn lương. Khi xét đến công việc của người vợ/chồng của chủ hộ thì có 2 sự đối lập: trong khi ở nhóm người làm chủ, có tới 45% số vợ hoặc chồng của họ đã tự điều hành công việc kinh doanh, phần nào cho thấy công việc kinh doanh do cả 2 vợ chồng đảm nhiệm. Con số này đối với nhóm người làm thuê chỉ đạt gần ¼. Ngược lại, trong khi ở nhóm 49 người làm thuê, cũng có 45% vợ hay chồng của họ cũng chọn công việc làm thuê, thì ở nhóm làm chủ chỉ là 18,83%. Người chồng và vợ chọn công việc làm nông ở cả 2 nhóm có tỉ lệ không khác nhau nhiều, 20% ở nhóm làm chủ và 15% ở nhóm làm thuê. Bảng 15: Thống kê số liệu hồi quy. Các biến Làm chủ Làm thuê Trung bình Độ lệch chuẩn Trung bình Độ lệch chuẩn Tuổi 45.65 7.95 44.16 7.93 Số năm làm việc 12.02 8.29 13.12 9.45 Log Tổng lương - - 10.34 0.74 Log tổng thu nhập khác 7.78 2.00 7.99 1.95 Log tổng giá trị nhà 12.71 1.15 12.69 1.21 Giới tính (% nam) 64,22 74,12 Tiểu học (%) 25,15 15,36 THCS (%) 36,91 22,93 THPT (%) 24,52 28,24 Cao đẳng (%) 0,6 2,48 Đại học (%) 2.00 20,56 Có Internet (%) 10,2 15,70 Có máy tính (%) 20.85 31,97 Nước máy (%) 47,40 54,12 Nguồn điện (%) 99,62 99,54 Vợ/chồng làm thuê (%) 18,83 45,53 Vợ/chồng làm nông (%) 20,60 14,8 Vợ/chồng tự doanh (%) 45,38 24,74 Số quan sát 791 885 4.5 . Kết quả phân tích thực nghiệm Lý thuyết kinh tế về những yếu tố quyết định sự lựa chọn và tiến hành kinh doanh đã được kiểm định trong thực tế với số liệu điều tra mức sống thực tế tại Việt Nam. Kết 50 quả thực nghiệm đã cho thấy giữa các yếu tố: tiềm lực tài chính, gia cảnh cá nhân, giáo dục có mối quan hệ đến sự lựa chọn trở thành doanh nhân hay người làm thuê một cách cụ thể trong điều kiện một nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á. Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra thực nghiệm và đã có được những kết quả nghiên cứu cụ thể về vai trò cũng như tác động của từng yếu tố tới quyết định của cá nhân. 4.5.1. Gia cảnh cá nhân: Xem xét trong điều kiện kinh tế như ở Việt Nam thì tổng số người trong gia đình sẽ ảnh hưởng ra sao, điều kiện công việc làm của người vợ hoặc chồng có tác động như thế nào tới lựa chọn của cá nhân. Nhìn vào bảng 16: số người trong gia đình có ảnh hưởng tích tới việc lựa chọn làm chủ của cá nhân trong khi đó trong mô hình làm thuê thì biến này chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 15% và tác động tiêu cực đến lựa chọn trở thành người làm thuê (bảng 17). Với đặc điểm bộ số liệu nghiên cứu: khu vực làm thuê có trình độ giáo dục cao hơn, và làm chủ ở đây chủ yếu ở khu vực phi chính thức, có thể cho rằng việc có nhiều thành viên trong gia đình sẽ tạo nên động lực khuyến khích cá nhân trở thành người làm chủ công việc kinh doanh để đảm bảo đời sống hàng ngày. Tình trạng làm việc, loại hình công việc, hay trình độ giáo dục của vợ hoặc chồng chủ hộ sẽ làm thay đổi quyết định nghề nghiệp của cá nhân như thế nào. Nhìn vào kết quả thực nghiệm trong bảng 17 cho thấy: nếu vợ hoặc chồng là làm thuê, hay làm thêm việc thì tác động tích cực đến quyết định làm thuê của cá nhân, và nếu vợ hoặc chồng tự kinh doanh, và đang làm việc thì sẽ có tác động tiêu cực tới quyết đình này. Xem xét tiếp tình trạng việc làm của vợ hoặc chồng ảnh hưởng ra sao tới quyết định làm chủ của cá nhân (bảng 16). Chúng ta có thể thấy việc vợ (chồng) làm thuê, và có việc làm thêm tác động ngược chiều và đáng kể tới xác suất lựa chọn trở thành người làm chủ của cá nhân. Mặt khác, ở mức ý nghĩa 1% thì các biến biểu hiện tình trạng làm trong nông nghiệp hay tự kinh doanh của người vợ hoặc chồng chủ hộ có ý nghĩa thống kê và có tác động tích cực tới quyết định lựa chọn làm chủ của cá nhân. Dường như nếu tình trạng việc làm của vợ (chồng) trong khu vực nào sẽ làm tăng xác suất tham gia của cá nhân vào khu vực ấy nhiều hơn. Điều này cho thấy việc làm của người vợ hoặc chồng có tính chất quyết định phần nào tới xác suất. Có thể cho rằng việc đảm bảo công việc người vợ hoặc chồng này của chủ hộ thì họ sẽ an tâm với công việc tự doanh có thể gặp nhiều rủi ro của mình, mặt khác đây cũng là một chỗ dựa vững chắc về mặt tài chính giúp cho người chồng/vợ nâng cao khả năng đưa ra quyết định của mình. Điều này phù hợp với 51 quan điểm trong các bài nghiên cứu trước đây cho rằng tác động thuận chiều của tình trạng nghề nghiệp của người vợ hoặc chồng. Biến phụ thuộc làm chủ ở đây bao gồm cả những người làm tư với vốn nhỏ, những việc với trình độ thấp như công việc tay chân, bán rong, … Điều này có thể xuất phát quá trình di chuyển để tìm kiếm việc làm, những người này là những người có trình độ dân trí thấp, trình độ tay nghề không đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng, họ phải chấp nhận những công việc chân tay tự làm phù hợp hơn và tham gia vào thị trường lao động phi chính thức. Cùng với đó là sự hạn chế về vốn cũng góp phần làm tăng số người trong khu vực tự làm. Chúng ta vừa xét tới tình trạng việc làm, loại nghề nghiệp của vợ hoặc chồng ảnh hưởng tới quyết định của từng cá nhân như thế nào. Bây giờ chúng ta tiếp tục xem xét ảnh hưởng của trình độ giáo dục của nhóm này sẽ có tác động ra sao, ảnh hưởng như thế nào đối với từng lựa chọn. Nhìn vào cả 2 bảng chúng ta có thể thấy các biến đại diện trình độ giáo dục ở các cấp của vợ hoặc chồng chủ hộ có tác động tích cực tới quyết định trở thành người làm chủ và tác động tiêu cực tới quyết định làm thuê, có vẻ như trình độ giáo dục của vợ (chồng) chủ hộ làm tăng xác suất để trở thành người làm chủ. Nhưng xét trong thực tế mô hình thì trình độ giáo dục các cấp (trừ cao đẳng) của vợ hoặc chồng chủ hộ không có ý nghĩa thống kê vì vậy không ảnh hưởng tới việc ra quyết định. Vai trò của vấn đề trình độ của nhóm người này là không quan trọng, việc có hay không có bằng cấp cao đều không tác động tới cá nhân. 4.5.2. Tài chính: Do thị trường vốn cung cấp không đủ vốn cho các cá nhân tự đứng ra kinh doanh do lo ngại rủi ro đạo đức cũng như lựa chọn ngược. Chính vì vậy, cá nhân phải tự huy động vốn và tự chịu rủi ro khi công việc kinh doanh gặp bất trắc. Mặt khác, sự hạn chế trong bộ số liệu nghiên cứu, biến đại diện cho tài chính của cá nhân trong mô hình nghiên cứu chỉ là việc sở hữu nhà không có được sự đại diện đầy đủ như trong một số bài nghiên cứu trước đó. Nhưng nó cũng cho chúng ta thấy phần nào tác động của tài chính tới quyết định lựa chọn của cá nhân. Nhìn vào bảng 1, bảng 2 chúng ta thấy biến liên quan tới việc sở hữu bao nhiêu nhà (sonhasd) không có ý nghĩa thống kê trong cả 2 mô hình ước lượng (Ở đây là do sự hạn chế trong việc lấy số liệu nghiên cứu, và đặc trưng trong hoàn cảnh Việt Nam hầu hết mọi người chỉ sở hữu 1 nhà nên việc không có ý nghĩa thống kê trong mô hình của việc sở hữu nhà). Mặt khác biến giá trị của nhà sử 52 dụng rất có ý nghĩa thống kê, có tác động đáng kể tới quyết định lựa chọn làm chủ của cá nhân (bảng 16) và làm giảm xác suất trở thành người làm thuê(bảng 17). Chúng ta thấy được tài chính trở thành nhân tố thúc đẩy việc lựa chọn trở thành người làm chủ của cá nhân, phù hợp với quan điểm đưa ra: đảm bảo về mặt tài chính sẽ khởi nghiệp tốt hơn và đem lại thu nhập nhiều hơn. Tuy các biến đại diện cho tài chính chưa đầy đủ nhưng nó cũng đã cho ta thấy được vai trò nguồn tài chính rất quan trọng cùng với đó 2 mô hình đưa ra khá tương đồng. Điều này đảm bảo khả năng tính đúng đắn trong bài nghiên cứu. Bảng 16: kết quả hồi quy biến phụ thuộc = 1 nếu làm chủ doanh nghiệp trong khu vực tư nhân Các biến Hệ số Độ lệch chuẩn Thống kê z Xác suất C -0.452295 1.838070 -0.246071 0.8056 GTINH -0.718527 0.145878 -4.925536 0.0000 TSNGUOI 0.098692 0.045921 2.149183 0.0316 TUOI -0.100951 0.068938 -1.464375 0.1431 TUOI2_100 0.139425 0.078318 1.780228 0.0750 KINH 0.054011 0.454914 0.118729 0.9055 GOCHOA -0.202346 0.719647 -0.281175 0.7786 THAI 1.101466 0.907439 1.213818 0.2248 DTKHAC 0.043851 0.607669 0.072162 0.9425 KOBANGCAP 0.647334 1.471319 0.439968 0.6600 GOA 0.556848 0.282856 1.968664 0.0490 LYTHAN 0.838643 0.543961 1.541733 0.1231 DOCTHAN 0.243925 0.377971 0.645355 0.5187 TIEUHOC 0.333026 0.223901 1.487381 0.1369 THCS 0.335166 0.223280 1.501102 0.1333 53 THPT -0.294858 0.233440 -1.263097 0.2066 CAODANG -1.658437 0.569251 -2.913367 0.0036 DAIHOC -2.373271 0.357453 -6.639389 0.0000 SCNGHE -0.373905 0.214923 -1.739712 0.0819 TCNGHE -0.527205 0.253388 -2.080625 0.0375 CDNGHE -1.174625 0.723999 -1.622412 0.1047 LOGTGTNHA 0.227184 0.059075 3.845692 0.0001 KINHNGHIEMLV -0.013840 0.007054 -1.961891 0.0498 COMANG 0.229626 0.247108 0.929254 0.3528 COMAYTINH -0.272731 0.194112 -1.405020 0.1600 NUOCMAYSH -0.217586 0.124735 -1.744393 0.0811 NGUONDIEN -0.713280 0.968281 -0.736646 0.4613 VCLAMTHUE -0.560991 0.186707 -3.004655 0.0027 VCLAMNONG 1.133652 0.226385 5.007621 0.0000 VCTUDOANH 0.960828 0.168682 5.696106 0.0000 VCCONGCHUC -0.028525 0.261249 -0.109186 0.9131 VCLAMTHEM -0.516702 0.229355 -2.252845 0.0243 VCKHONGBANGCAP 0.414947 0.993357 0.417722 0.6762 VCTIEUHOC 0.132061 0.213067 0.619807 0.5354 VCTHCS 0.132792 0.207668 0.639447 0.5225 VCTHPT 0.321378 0.229451 1.400642 0.1613 VCCD 1.045661 0.475035 2.201230 0.0277 VCDH -0.020965 0.389505 -0.053825 0.9571 54 Bảng 17: kết quả hồi quy biến phụ thuộc = 1 nếu làm thuê trong khu vực tư nhân Các biến Hệ số Độ lệch chuẩn Thống kê z Xác suất GTINH 0.740159 0.150991 4.901991 0.0000 TSNGUOI -0.070171 0.046172 -1.519784 0.1286 TUOI 0.061108 0.069599 0.877998 0.3799 TUOI2_100 -0.107573 0.078868 -1.363952 0.1726 KINH 2.795209 1.929782 1.448459 0.1475 GOCHOA 2.997969 1.996152 1.501874 0.1331 TAY 2.827507 1.972864 1.433199 0.1518 DTKHAC 3.125216 1.934306 1.615678 0.1062 KOBANGCAP -0.018459 1.246082 -0.014814 0.9882 TIEUHOC -0.369444 0.225073 -1.641436 0.1007 THCS -0.369414 0.225176 -1.640555 0.1009 THPT 0.221240 0.237484 0.931600 0.3515 CAODANG 1.551717 0.575485 2.696365 0.0070 DAIHOC 2.414348 0.372859 6.475232 0.0000 SCNGHE 0.365455 0.214930 1.700339 0.0891 TCNGHE 0.560577 0.257710 2.175221 0.0296 CDNGHE 1.173912 0.735238 1.596642 0.1103 SONHASD 0.079467 0.143198 0.554948 0.5789 LOGTGTNHA -0.243329 0.059104 -4.116943 0.0000 KINHNGHIEMLV 0.016947 0.007028 2.411353 0.0159 55 COMANG -0.266976 0.248886 -1.072685 0.2834 COMAYTINH 0.223773 0.194487 1.150577 0.2499 NUOCMAYSH 0.129250 0.124708 1.036417 0.3000 NGUONDIEN -0.630938 1.175714 -0.536642 0.5915 COVOCHONG 0.455533 0.300169 1.517589 0.1291 VCLAMTHUE 0.808343 0.323816 2.496308 0.0125 VCLAMNONG -0.609191 0.332674 -1.831196 0.0671 VCTUDOANH -0.801665 0.324037 -2.473993 0.0134 VCDANGLAM -0.381728 0.356420 -1.071007 0.2842 VCCONGCHUC -0.123092 0.266470 -0.461935 0.6441 VCLAMTHEM 0.537351 0.287955 1.866092 0.0620 VCKHONGBANGCAP -0.604776 0.936773 -0.645595 0.5185 VCTIEUHOC -0.085597 0.238210 -0.359336 0.7193 VCTHCS -0.286070 0.239504 -1.194424 0.2323 VCTHPT -0.295122 0.262864 -1.122717 0.2616 VCCD -1.189151 0.491228 -2.420772 0.0155 VCDH 0.023090 0.417426 0.055315 0.9559 4.5.3. Trình độ học vấn Để đại diện cho trình độ học vấn chúng tôi sử dụng các biến nhị phân, các cấp độ giáo dục (bằng cấp cao nhất) bao gồm: không bằng cấp, tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học, sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ) và đào tạo nghề bao gồm: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Tuy nhiên, trong quá trình sử lý biến thạc sỹ và tiến sỹ được đưa ra khỏi mô hình. Việc cá nhân không có 56 bằng cấp, hay đã tôt nghiệp trung học phổ thông, nhận chứng chỉ sơ cấp và cao đẳng nghề không có ý nghĩa trong mô hình phân tích, điều này có thể do hạn chế về số liệu. do không có bộ số liệu tốt nhất, chuyên biệt hỗ trợ cho công việc nghiên cứu này. Ở các cấp độ giáo dục thấp hơn như cá nhân không có bằng cấp, đã tốt nghiệp tiểu học hay tốt nghiệp trung học cơ sở có tác động tiêu cực tới xác suất quyết định làm việc trong khu vực làm công ăn lương. Điều này có thể lý giải rằng, việc cá nhân ở một mức độ giáo dục thấp hơn có lẽ trình độ kỹ thuật, nhận thức và quản lý của họ kém, không được đào tạo nên khó khăn trong việc tìm kiếm một việc làm lương với mức thu nhập ổn định (bảng 17). Điều thú vị khác là cá nhân có trình độ giáo dục thấp hơn lại có tác động tích cực đến xác suất quyết định trở thành người tự chủ kinh doanh trong khu vực chính thức, không chính thức và kinh doanh hộ gia đình. Mặc dù, các hệ số của các biến không bằng cấp và tốt nghiệp trung học cơ sở không có ý nghĩa trong mô hình hồi quy các yếu tố tác động tới xác suất quyết định tự mở doanh nghiệp riêng (bảng 16). Đây là do đặc điểm bộ số liệu được chọn trong bài nghiên cứu. Nhưng dấu của các hệ số này đều mang dấu dương, điều này cũng cho ý nghĩa tương tự. Khó khăn tìm kiếm một việc làm lương với mức thu nhập ổn định thúc đẩy xu hướng cá nhân làm việc ở khu vực phi chính thức. Họ cũng có thể dễ dàng thay đổi công việc của mình do chi phí cơ hội thấp hơn. Ngược lại, ở trình độ giáo dục cao hơn từ chỗ cá nhân đã trải qua các khóa đào tạo nghề hay học lên cấp cao hơn như cao đẳng, đại học xu hướng họ làm việc trong khu vực việc làm lương (các hệ số đều mang dấu dương, bảng 17). Tác động của việc học lên cấp cao đẳng, đại học là khá mạnh. Do được giáo dục và đào tạo một cách bài bản và có hệ thống, họ có thể làm tốt công việc được đào tạo, chuyên về một nghề hay lĩnh vực nào đó nên dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm một công việc phù hợp cho mức thu nhập ổn định. Nhất là khi họ được đào tạo nghề mà các biến đại diện ở đây là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Mặt khác, học lên các bậc giáo dục cao hơn cùng với công việc cho mức thu nhập cao và ổn định làm cho chi phí cơ hội lớn hơn trong việc đi đến quyết định sở hữu doanh nghiệp cho riêng mình. Cũng có thể với mức thu nhập cao, ổn định họ dễ dàng thỏa mãn các nhu cầu cá nhân nên bằng lòng với công việc mình đang làm hiện tại. Do đó không thúc đẩy họ đi điến quyết định tự làm chủ công việc của mình. 57 Kết quả cũng phù hợp khi chúng tôi tiến hành hồi qui mô hình đối với khu vực tự làm chủ (bảng 16). Dấu các hệ số của các cá nhân có bằng cấp cao hơn mang dấu âm. Cho thấy rằng, việc học lên cấp cao hơn như cao đẳng hay đại học lại ảnh hưởng tiêu cực đến xác suất quyết định tự chủ kinh doanh của một cá nhân. Mặt khác, trình độ học vấn cao dường như sẽ trợ giúp cho việc tìm được một công việc được trả lương cao và do đó làm giảm khả năng việc đi đến quyết định tự làm chủ doanh nghiệp. Họ là những công nhân có trình độ kỹ thuật cao, kỹ sư, cán bộ kinh tế, chuyên gia,… Với trình độ của họ thật không khó khăn trong việc tìm kiếm một công việc tốt, phù hợp cho riêng mình với mức thu nhập tương đối cao và ổn định. Có một đặc điểm khác biệt đối với Việt Nam là do bối cảnh lịch sử. Khoảng thời gian 20 – 30 năm về trước, nền giáo dục nước ta chưa phát triển, trình độ học vấn của thế hệ đó chưa được cao. Sau đổi mới, cùng với việc trỗi dậy, phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân họ là những người được trao nhiều cơ hội hơn trong việc quyết định lựa chọn tự chủ kinh doanh và những cá nhân được điều tra thường sống trong khoảng thời gian đó. 58 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH Bài nghiên cứu của chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá các yếu tố tác động tới quyết định của các cá nhân khi tham gia vào khu vực làm thuê hay tự làm chủ. Trong đó tập trung chủ yếu vào các biến tài chính, giáo dục và gia cảnh của mỗi cá nhân. Các bảng phân tích hồi quy đưa ra cho chúng ta thấy được kết quả tương đồng đối với từng khu vực. 1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu Tổng kết những kết quả nghiên cứu với việc sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008. Có thể thấy rằng: tổng số người trong gia đình không có ý nghĩa trong mô hình xác suất quyết định trở thành người làm thuê nhưng có ý nghĩa trong mô hình tự làm chủ và có tác động tích cực. Việc có vợ hoặc chồng cũng không ảnh hưởng tới quyết định của cá nhân. Nhưng tình trạng nghề nghiệp, loại hình công việc của vợ hoặc chồng lại có ảnh hưởng cụ thể: nếu vợ hoặc chồng là làm thuê thì tác động tích cực đến quyết định làm thuê và làm giảm xác suất quyết định tự làm chủ của cá nhân. Nếu vợ hoặc chồng tự kinh doanh thì sẽ có tác động tích cực, đáng kể và làm tăng xác suất quyết định tự làm chủ. Tác động là ngược lại đối với khu vực làm thuê. Các biến vợ (chồng) đang làm việc tuy không có ý nghĩa thống kê nhưng chúng cho ta thấy sự tác động tiêu cực tới xác suất trở thành người làm thuê. Biến tài chính mà đại diện ở đây là giá trị nhà sở hữu tác động tích cực, đáng kể và làm tăng xác suất trở thành người tự chủ kinh doanh ngược lại với khu vực làm chủ. Trình độ học vấn hay cấp độ giáo dục cao không phải là yếu tố quyết định nhất đối với một cá nhân trong việc đi đến quyết định tự chủ kinh doanh. Với bộ số liệu chúng tôi có, được sử dụng trong bài nghiên cứu này. Trong mô hình phân tích, giáo dục (việc sở hữu bằng cấp cao) xuất hiện như là một yếu tố tác động tiêu cực đến xác suất quyết định tự làm chủ (tự làm thuê cho chính mình) hay việc đi đến quyết định khởi đầu một doanh nghiệp. Ngược lại, trình độ học vấn cao hơn lại tác động mạnh mẽ, tích cực và làm đến xác suất cá nhân làm việc trong khu vực làm công ăn lương. 59 2. Khuyến nghị chính sách Dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích thực nghiệm, chúng tôi đề xuất một vài khuyến nghị sau: - Tiềm lực tài chính của cá nhân có tác động mạnh tới quyết định tự làm chủ (làm thuê cho chính mình) hay ban đầu thành lập một doanh nghiệp. Do đó để hỗ trợ cũng như khuyến khích cá nhân đi đến quyết định sở hữu doanh nghiệp cho riêng mình cần quy định rõ quyền sở hữu tài sản. Thúc đẩy, khuyến khích khu vực tư nhân phát triển. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, hạn chế dào cản việc gia nhập thị trường. Việc tiếp cận các nguồn lực tài chính là rất quan trọng đối với các cá nhân khi ban đầu quyết định khởi động một doanh nghiệp. Do vậy, cần phát triển các công cụ tài chính, quĩ tài chính riêng hỗ trợ cá nhân khi họ có ý tưởng tốt thành lập doanh nghiệp, … tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ tiếp cận nguồn tín dụng. - Giáo dục, định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đặc biệt là học sinh cấp tiểu học và trung học cơ sở. Từ đó, học sinh có thể định hướng rõ cơ hội nghề nghiệp trang bị tốt kiến thức và kỹ năng cho con đường lập nghiệp của mình. Cung cấp cho cá nhân thông tin về các yếu tố tác động tới hành vi lựa chọn nghề nghiệp, từ đó cá nhân có thể định hướng tốt hơn nghề nghiệp trong tương lai. Kết quả cho thấy rằng, việc học lên cấp cao hơn cao đẳng, đại học có tác động mạnh tới xác suất lựa chọn trở thành người làm thuê. Hàm ý giáo dục cao đẳng – đại học ở Việt Nam chưa thực sự phù hợp. Vì nếu so sánh với những nghiên cứu khi họ sử dụng các phương pháp phân tích chuyên sâu sẽ thấy điều ngược lại ở các nước phát triển. Chúng tôi khuyến nghị rằng, trong chương trình giáo dục nên lồng ghép chương trình thực tiễn. Mô phỏng nền kinh tế, môi trường, cơ hội kinh doanh, cách thức tạo lập doanh nghiệp, … Điều này thực sự hữu ích đối với những sinh viên, nghiên cứu sinh ban đầu manh nha ý tưởng tự làm chủ công việc của mình. Hỗ trợ họ tốt hơn trong việc ban đầu khởi động một doanh nghiệp. 3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 3.1 Hạn chế Bài nghiên cứu vẫn còn nhiều thiếu sót do hạn chế của bộ số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu. Bộ số liệu (VLSS 2008) được điều tra chung bao gồm những câu hỏi về giáo dục, y tế, sức khỏe, đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện kinh tế, hoạt động kinh tế, 60 cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp, ... Không phải là bộ số liệu điều tra chuyên biệt và tốt nhất để phục vụ mục đích nghiên cứu của chúng tôi. Các biến đại diện cho trình độ học vấn khá đầy đủ nhưng biến đại diện cho gia cảnh cá nhân còn thiếu. Ví dụ như biến số người phụ thuộc, vợ (chồng) sở hữu doanh nghiệp riêng, ... Đặc biệt các biến đại diện cho tiềm lực tài chính còn quá ít, mới chỉ dừng lại ở số lượng và giá trị tài sản sở hữu. Các biến tiếp cận nguồn lực tài chính, thu nhập của vợ, đầu tư thu nhập, … Do hạn chế số liệu nên chưa thể đưa vào mô hình. Điều này gây ra hạn chế trong việc đánh giá sự tác động của tiềm lực tài chính tới quyết định của mỗi cá nhân. Tiếp đó, là hạn chế của mô hình nghiên cứu khi mô hình sử dụng trong việc phân tích tác động của các yếu tố đến xác suất quyết định tự làm chủ của cá nhân. Khi chúng tôi chỉ sử dụng mô hình logit để đánh giá xác suất tác động của các nhân tố. Điều này, một phần cũng do thời gian không cho phép. Cũng phải nói đến sự hạn chế về trình độ nghiên cứu, cụ thể trong quá trình sử lý số liệu và biến cho từng lĩnh vực xem xét còn nhiều biến chưa được xem xét và nhiều biến đưa vào mô hình gây ra các khuyết tật của ước lượng. Do vậy phải đưa ra khỏi mô hình. Tuy nhiên, bài nghiên cứu đã giải thích được chiều hướng tác động của các biến tới quyết định lựa chọn của mỗi cá nhân mà trong bài nghiên cứu chúng tôi đã tập trung vào ba nhóm nhân tố: Trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân. Kết quả phát hiện phù hợp với mục đích nghiên cứu cũng như trong điều kiện thực tế tại Việt Nam. Mặt khác, bộ số liệu (VLSS 2008) lần đầu tiên được chúng tôi sử dụng cho mục đích nghiên cứu về chủ đề này. Trước đó, không có nhiều nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân ở Việt Nam. Có ý nghĩa như là kim chỉ nam, tài liệu hướng dẫn cho mỗi cá nhân khi quyết định tự làm chủ (làm thuê cho chính mình) hay khởi đầu một doanh nghiệp. Bài nghiên cứu của chúng tôi phần nào bổ xung những thiếu sót này. 3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo Để có được kết quả thuyết phục và có ý nghĩa hơn chúng tôi đề nghị nên mở rộng mô hình và phạm vi nghiên cứu. Bằng việc sử dụng các mô hình hồi quy probit dạng cấu trúc, rút gọn tương tự như (Ree và Shah, 1986 hay Bernhardt, 1994) và mô hình hai thời kỳ của Heckman (1979) để tính toán xác suất quyết định tự làm chủ của cá nhân. Cũng có thể sử dụng kết hợp mô hình logit và probit để đánh giá tác động của các yếu 61 tố đến quyết định tự làm chủ kinh doanh với việc sử dụng các bộ số liệu VLSS qua các năm; hay các phương pháp phân tích chuyên sâu (meta-analysis). Đặc biệt là so sánh giữa bộ số liệu 2006 và năm 2008. Sẽ thấy được sự khác biệt giữa các nhân tố này. Hơn nữa, trong mô hình mẫu được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu với những cá nhân làm việc trong khu vực thành thị. Chúng ta có thể mở rộng mẫu và thực hiện nghiên cứu trên phạm vi quốc gia. Để thấy được sự tác động khác biệt của các yếu tố. Các nhân tố này tác động như thế nào tới việc quyết định khởi đầu một doanh nghiệp của cá nhân. Sẽ rất tốt nếu có thể mở một cuộc điều tra riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu về chủ để này. Hoặc có thể mở một cuộc khảo sát điều tra riêng đối với giới sinh viên, nghiên cứu sinh hỗ trợ cho công việc đánh giá, nghiên cứu (Ex-ante) ý tưởng kinh doanh; hỗ trợ họ tốt hơn trong việc đi đến quyết định tự làm chủ hay khởi động doanh nghiệp của chính mình. Với mẫu này, chúng ta có thể thực hiện lại việc điều tra trong vòng 10-20 năm sau (Ex-post). Kết quả thu được chắc chắn sẽ rất thuyết phục và có ý nghĩa đối với cả các nhà hoạch định chính sách. 62 Phụ lục: Danh mục các biến sử dụng trong mô hình tsnguoi: tổng số người trong hộ gtinh = 1 nếu là nam, = 0 nếu là nữ tuoi: số tuổi tính theo năm tuoi2_100: tuổi bình phương chia 100 kinh = 1 nếu là người dân tộc Kinh gochoa = 1 nếu là người Việt gốc Hoa tay = 1 nếu là người dân tộc Tày dtkhac = 1 nếu ko thuộc 4 nhóm dân tộc trên tieuhoc = 1 nếu bằng cấp cao nhất của chủ hộ là tiểu học thcs = 1 nếu bằng cấp cao nhất của chủ hộ là THCS thpt = 1 nếu bằng cấp cao nhất của chủ hộ là THPT caodang = 1 nếu bằng cấp cao nhất là cao đẳng daihoc = 1 nếu bằng cấp cao nhất là đại học scnghe= 1 nếu bằng cấp cao nhất là sơ cấp nghề tcnghe = 1 nếu bằng cấp cao nhất là trung cấp nghề cdnghe = 1 nếu bằng cao nhất là cao đẳng nghề sonhasd: số nhà sử dụng để ở logtgtnha: logarit tự nhiên tổng giá trị nhà sử dụng kinhnghiemlv: kinh nghiệm làm việc (tính bằng số năm) comaytinh = 1 nếu có máy tính trong nhà comang = 1 nếu có máy tính nối mạng nuocmaysh: = 1 nếu nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt là nước máy từ vòi nguondien: = 1 nếu nguồn điện sử dụng là covochong: =1 nếu chủ hộ đang sống với vợ/chồng vclamthue: =1 nếu vợ/chồng của chủ hộ là người làm thuê vclamnong: =1 nếu vợ/chồng của chủ hộ làm nông nghiệp vctudoanh: =1 nếu vợ/chồng của chủ hộ làm chủ công việc kinh doanh vccongchuc: =1 nếu vợ/chồng của chủ hộ làm trong khu vực kinh tế nhà nước vctieuhoc, vcthcs, vcthpt, vccd, vcdh: các biến giả này nhận giá trị = 1 nếu bằng cao nhất của vợ/chồng của chủ hộ (theo thứ tự như trên) là tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng và đại học. 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO  Bernhardt. Comparative advantage in self-employment and paid work. Canadian Journal of Economics, 27:273-289, 1994.  D.G. BlanchOwer and A.J.Oswald. What makes an entrepreneur? Journal of labour Economics, 16:26-60, 1998.  A. Constant and K. F. Zimmermann. The making of entrepreneurs in germany: Are native men and immigrant alike? Small Business Economics, 26:279-300, 2006.  G. de Wit. Model of self-employment in a competitive market. Journal of Economic Surveys, 7:367-397, 1993.  G. Destré and V. Henrard. The determinants of occupational choice in colombia : an empirical analysis. Cahiers de la Maison des Sciences Economiques, Maison des Sciences Economiques, Université Paris 1 Panthéon-Sorbonne, 2004.  D.S. Evan and B. Jovanovic. An estimated model of entrepreneurial choice under liquidity constraints. Journal of Political Economy, 79:808-827, 1989.  D.S. Evans and L. S. Leighton. Some empirical aspect of entrepreneurship. Americanc Economic Review, 79:519-535, 1989.  A.M. Gill. Choice of employment status and the wages of employees and the self-employed: some further evidence. Journal of applied econometrics, 3:229-234, 1988.  J.J. Heckman. Sample selection bias as a specification error. Econometrica, 47:153-161, 1979.  J.J. Heckman and G. Sedlacek. Self-selection and the Distribution of hourly wages. Journal of labour economics, 8:S329S363, 1990.  K. Kan and W.D. Tsai. Entrepreneurship and risk aversion. Small Business Economics, 26:65-474, 2006.  M. P. Kidd. Immigrant wage differential and the role of self-employment in Australia. Australia Economic Papers, 32:92-115, 1993.  A. Kolev. Determinants of the labor supply in Russia and the informal economy. Revue d'études comparatives EST/OUEST, 31, 2000. 64  A.T. Le. Empirical studies of self-employment. Journal of Economic Surveys, 13:381-417, 1999.  A.T. Le. Self-employment and earnings among immigrant in Australia. International Immigration, 37:383-412, 1999b.  L.F. Lee. Some approaches to the correction of selectivity bias. The Review of Economic Studies, 49:355-372, 1982.  B. Lentz and D. Laband. Entrepreneurial success and occupational inheritance among proprietors. Canadian Journal of Economics, 23:563-579, 1990.  Perkins, Dwight H and Vu Thanh Tu Anh. Vietnam’s Industrial Policy Designing Policies for Sustainable Development. Prepared under UNDP – Havard Policy Dialogue, Papers “Serires on Vietnam’s WTO Accession and International Competitiveness Research”, mimeo, 2008  H. Rees and A. Shah. An empirical analysis of self-employment in the UK. Journal of Applied Econometrics, 1:101-108, 1986.  To Trung Thanh, Nguyen Duc Thanh, Pham Thi Huong, Hoàng Thi Chinh Thon, Pham Thi Thuy. Literature Review on Business Environment in Vietnam. CEPR Working paper NC-10/2009, 2009  W.P.M. Vijverberg and J. Houghton. Household enterprises in Vietnam: Survive, growth and living standards. World Bank, Policy Research Working Paper, PS2773, 2002.  Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê, 2008, 2009.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfTác động của trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp- Làm chủ hay làm thuê.pdf
Luận văn liên quan