Đề tài Thực trạng và giải pháp Quan hệ Thương mai giữa Việt Nam và Nhật Bản

Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản 1.1 Cơ sở lý luận. Có thể nói, chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập niên 90 của thế kỷ thứ 20, tạo ra một diện mạo mới cho các quan hệ kinh tế quốc tế. Nó tác động lớn tới nhiều quốc gia, làm thay đổi hẳn cục diện thế giới. Mở đầu, được đánh dấu bằng sự tan rã của của chế độ chính trị ở đất nước Liên Xô và một loạt các nước Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu. Tình hình an ninh chính trị trên thế giới, về cơ bản đã ở trong trạng thái ổn định. Nguy cơ của bùng nổ chiến tranh hạt nhân (thế chiến thứ 3) đã bị đẩy lùi. Người ta đã cảm thấy yên tâm hơn, để tập trung vào đầu tư phát triển kinh tế và củng cố đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, gây ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ ngoại giao giữa các nước như: hệ thống tôn giáo của các nước rất phức tạp, quyền lợi các bên hay bị xung đột, gây ra chiến tranh liên miên, làm cho nhiều khu vực trên thế giới không ổn định như: khu vực Châu Phi, vùng Trung Cận Đông mà điển hình là các lò lửa chiến tranh ấn Độ – Pakistan; ixaren – Plestin, mà gần đây nhất là sự kiện ngày 11/09/2001 làm chấn động nước Mỹ. làm dấy lên làn sóng khủng bố khắp nơi trên thế giới; rồi sự kiện chiến tranh irắc; vấn đề hạt nhân ở Bắc Triều Tiên đã trở thành vấn đề mà các quốc gia luôn phải cân nhắc. Các xu thế cạnh tranh đối địch giữa các quốc gia, mâu thuẫn luôn luôn cùng tồn tại và phát triển. Nhưng nó không thể nào, ngăn cản được xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá.

doc92 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2376 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng và giải pháp Quan hệ Thương mai giữa Việt Nam và Nhật Bản, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
các cảng còn chật hẹp, thiết bị bốc dỡ thô sơ, ít được nâng cấp…không đảm bảo cho các phương tiện vận tải hiện đại như tàu bè của các bạn hàng nước ngoài khi cập bến, cảng… * Sự thiếu hụt đội ngũ chuyên gia thương mại có năng lực, trình độ ngoại ngữ, ngoại giao kinh tế và kinh nghiệm chuyên môn trong không ít các công ty xuất nhập khẩu của Việt Nam đã làm hạn chế nhiều tới kết quả của các cuộc đàm phán, thương lượng để ký kết hoặc triển khai thực thi các hợp đồng thương mại. do đó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của các hoạt động kinh doanh giữa đôi bên. Hạn chế này, cũng cần phải khắc phục nhanh, và nó trực tiếp liên quan đến việc đào tạo, giáo dục…. đòi hỏi, Chính phủ ta cần phải quan tâm nhiều hơn nưa trong việc đổi mới lại, nâng cao công tác giáo dục, đào tạo và tuyển chọn những người có năng lực, trình độ cũng như kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Để có thể hiểu rõ hơn về sự tăng giảm thất thường của việc xuất nhập khẩu hàng hoá này, cũng như thực trạng quan hệ buôn bán Việt – Nhật, chúng ta hãy đi xem xét hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua. 2.2.2.1 Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Nhật Bản từ đầu những năm 1990 đến nay, đã tăng nhanh và tương đối ổn định. Thực tế cho thấy, thị trường Nhật Bản là một thị trường khó tính. nhưng bước đầu đã có dấu hiệu cho thấy sự chấp nhận hàng hoá Việt Nam của thị trường này. Tuy số lượng giá trị tuyệt đối của (kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản) tăng lên liên tục năm 1992: 870 triệu USD, năm 1997 là 2198 triệu USD tăng gấp 2,5 lần. Tuy nhiên, tỷ trọng của xuất khẩu Việt – Nhật trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lại tăng giảm thất thường. Kim ngạch có xu hưởng giảm mạnh nhất là sau khi khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực xảy ra. Từ chỗ chiếm 33.71 % năm 1992 đã tăng lên 35,81 % năm 1993, sau đó lại xuống còn 23,93 % năm 1997, đến năm 2000, còn 17,7% năm 2001 tăng lên 23,25 %, nhưng năm 2002 và năm 2003 lại tiếp tục giảm xuống theo tỷ lệ tương ứng là: 15,03 % và 13,97 %. Bảng 7: Tỷ trọng xuất khẩu Việt – Nhật trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, 1992 – 2003 (Đơn vị: triệu USD) Năm Kim ngạch xuất khẩu Việt - Nhật Tổng KNXK của Việt Nam Tỷ trọng (%) 1992 870 2.581 33,71 1993 1.069 2.985 35,81 1994 1.350 4.054 33,30 1995 1.716 5.449 31,49 1996 2.020 7.256 27,84 1997 2.198 9.185 23,93 1998 1.792 9.356 19,16 1999 1.920 11.523 16,66 2000 2.532 14.308 17,70 2001 2.510 15.100 23,25 2002 2.440 16.700 15,03 2003* 1.370 9.800 13,97 (Nguồn số liệu thống kê của Bộ Thương mại Việt Nam). Ghi chú (*): Tính 6 tháng đầu năm Hiện tượng này, được lý giải một phần bởi chất lượng hàng tiêu dùng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ đảm bảo đúng tiêu chuẩn về chất lượng cũng như mẫu mã. Các doanh nghiệp Việt Nam, đôi khi còn thiếu trung thực trong kinh doanh. Ví dụ như: đã ký hợp đồng một số mặt hàng sang Nhật Bản rồi nhưng lại đòi tăng giá mới chịu xuất hoặc tự ý huỷ bỏ hợp đồng hoặc lại xuất sang các nước khác để thu được nhiều lợi hơn. Có thể nói rằng, không ít doanh nghiệp Việt Nam ta không biết giữ chữ tín trong kinh doanh, không biết giữ bạn hàng. do vậy, số lượng hợp đồng xuất khẩu sang Nhật Bản cũng bị giảm sút đáng kể. Phần nữa, do áp lực của cuộc khủng hoảng kinh tế ở Nhật Bản từ đầu những năm 1990, việc mất giá của đồng tiền yen và các đồng tiền khác, đã khiến cho hàng hoá của Việt Nam mất đi lợi thế cạnh tranh, mất đi một phần thị phần trên thị trường Nhật Bản. Giá trị xuất khẩu này, bị giảm sút đã làm thiệt hại đáng kể cho tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Xét về cơ cấu xuất khẩu, những sản phẩm chế tác bị ảnh hưởng mạnh nhất trong đó có hàng dệt may, tôm đông lạnh… mặt hàng dầu thô và các mặt hàng nguyên liệu khác hầu như không bị ảnh hưởng lắm về số lượng nhưng do giá giảm nên tổng giá trị cũng bị giảm. Thêm vào đó, sự thay đổi chính sách thuế tiêu dùng, thuế xuất khẩu của chính phủ Nhật Bản trong năm 1997, đã tác động đến chi tiêu của người dân Nhật Bản làm giảm đi sức mua của người dân cũng như, làm hạn chế lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Ngoài ra, do đặc điểm và xu hướng chuyển dịch cơ cấu khu vực thị trường xuất khẩu của Việt Nam từ năm 1991 đến nay cho thấy: một mặt, quan hệ buôn bán và phạm vi không gian thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng; đồng thời Việt Nam không chỉ phát triển thị trường gần mà đã vươn nhanh đến các thị trường xa như (Tây Bắc, Bắc Mỹ, Châu Đại Dương…). Việt Nam đã chuyển dần cơ cấu thị trường, từ việc chỉ xuất khẩu sang các nước Châu á - Thái Bình Dương là chủ yếu, đến xuất khẩu sang cả các khu vực thị trường khác phù hợp với chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Nếu năm 1991, thị trường Châu á chiếm tới 80 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thì năm 1994, giảm xuống còn 75,8% và năm 1997, chỉ còn chiếm 67,7 %. Riêng thị trường Đông Bắc á năm 1995, chiếm tới 50 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng đến năm 1997, chỉ còn chiếm 44,0 %. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam, phát triển theo hướng mở rộng sang Châu Âu, đặc biệt Tây Bắc Âu. Ngoài ra, các thị trường Liên Bang Nga và thị trường các nước Châu Âu có dấu hiệu phục hồi. Năm 1995, thị trường các nước G7 (7 nước công nghiệp phát triển) chiếm tỷ trọng 39,7 % kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, riêng Nhật Bản chiếm tỷ trọng 31,49 % các nước còn lại chiếm 18,81 %. Năm 2003, Nhật Bản chỉ còn chiếm tỷ trọng 13,97 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Như vậy tất cả những nhân trên đã khiến cho tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản giảm xuống. ¨ Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản. Bảng 8 : Danh mục hàng hoá xuất khẩu của Việt sang Nhật giai đoạn (1995 – 2000) (Đơn vị : triệu USD) Tên hàng 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Dầu thô 684,2 757,7 416,5 294,0 403 503,3 Thuỷ Hải sản 336,9 311,1 360,4 347,1 414 488 Hàng Dệt may 210,5 309,5 325,0 320,9 532 691,5 Cà Phê 35,3 23,3 25,1 37,9 28,5 20,9 Cao Su 6,1 3,7 5,7 2,6 3,2 5,6 Gạo 0,1 0,2 1,1 3,6 3,2 2,5 (Nguồn Tổng cục Hải Quan) Qua bảng trên, ta có thể thấy rằng trong các mặt hàng mà Việt Nam xuất sang Nhật Bản chủ yếu là nguyên liệu, khoáng sản, hải sản; nguyên liêu thô hoặc mới qua sơ chế và những mặt hàng có mức đội gia công chế biến thấp. Cụ thể: * hàng dệt may đang xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản với kim ngạch trung bình hàng năm là gần 400 triệu USD, có dấu hiệu gia tăng mạnh theo các năm. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2003 đạt 1.745 triệu đô tăng 66,6 % so với cùng kỳ năm 2002. Tuy nhiên, thị phần của Việt Nam về mặt hàng này hiện còn rất nhỏ bé so với các nước trong khu vực. Xu hướng nhập khẩu mặt hàng này tại Nhật tăng nhanh trong khoảng những năm từ 1980 đến 1990. nhưng trong vài năm trở lại đây, kim ngạch xuất lại giảm sút do sức mua của thị trường này giảm. Trong tương lai, khi nền kinh tế Nhất Bản phục hồi thì nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng lên; triển vọng xuất khẩu của Việt Nam về mặt hàng này sẽ tăng lên. * Hải sản của Việt nam được thị trường Nhật Bản đánh giá khá cao. Tại Nhật, hơn 80 % nhu cầu về Tôm phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Có thể nói đây là nước có một nhu cầu tiêu thụ rất lớn về Hải sản. Việt Nam hiện là một trong những nước xuất khẩu Tôm hàng đầu vào thị trường Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào Nhật đạt mức 600 triệu USD/năm và mục tiêu tăng trưởng mặt hàng này năm nay dự kiến tăng 720 triệu USD, chiếm 28 % tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của cả nước. * Kim ngạch xuất khẩu giày dép và sản phẩm da vào thị trường Nhật Bản còn khá khiêm tốn so với tiềm năng xuất khẩu của ngành giày da Việt Nam. Theo mạng tin Liên Hợp Quốc ngày 15 tháng 5 cho biết, Việt Nam hiện đang đứng thứ 8 trong các nước sản xuất và đứng thứ tư trong số 10 nước xuất khẩu da, giày lớn nhất thế giới. Đây là một bước nhảy vọt của Việt Nam trong lĩnh vực này. Hiện Chính phủ ta ký hiệp định thương mại với Băng- la-đet, một nước có mặt hàng da có chất lượng cao và rẻ, đây sẽ là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất kinh doanh mặt hàng giầy dép và sản phẩm từ da. * Về than đá, Việt Nam là một trong bốn nước xuất khẩu hàng đầu mặt hàng này vào Nhật Bản và luôn luôn chiếm hơn 40 % thị phần nhập khẩu của nhật. * Hàng Cao Su của Việt Nam hiện nay không thâm nhập được nhiều vào thị trường Nhật Bản, mặc dù mức thuế nhập khẩu của mặt hàng này là không đáng kể. Nguyên nhân là do chủng loại Cao Su của Việt Nam chưa thích hợp với thị trường Nhật Bản, chất lượng không đáp ứng được yêu cầu của họ. Như vậy, những số liệu và phân tích trên cho thấy cơ cấu hàng xuất của ta vẫn còn đơn giản, diện hàng xuất khẩu, nhất là hàng xuất khẩu chủ yếu còn khá hạn hẹp, chưa có thay đổi nhiều so với những năm đầu thập kỷ 90. Mặc dù, nếu xét riêng về việc phấn đấu giảm tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng đã qua công đoạn chế tạo, chế biến thì ta cũng có nhiều tiến bộ. Cụ thể, nếu như những năm đầu thập niên 1990, hàng xuất sang Nhật Bản của ta chủ yếu là nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế chiếm 90 % tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó riêng Dầu thô đã chiếm đến 60 %. thì hiện nay, đã giảm xuống nhiều nhưng vẫn còn tới trên 50 % là nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế. Tuy nhiên, các mặt hàng nêu trên đều có đối thủ cạnh tranh như: Trung Quốc; Hàn Quốc; Đài Loan; Thái Lan; Malaixia; Philippin; ấn Độ… Do vậy, nếu ta không kịp thời cải tiến mẫu mã sản phẩm, giảm bớt chi phí thì sẽ khó có thể cạnh tranh được với các nước khác tại thị trường nước bạn cũng như là ở ngày thị trường trong nước. Có thể nói kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản còn khá khiêm tốn. Cho đến cuối năm 2003, tổng kim ngạch xuất là 2.909.151 nghìn USD. Hiện không tương xứng với tiềm năng tiêu thụ rất lớn thực có của nhu cầu người dân Nhật Bản. 2.2.2.2 Hoạt động nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản. nếu như, tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là khá cao (so với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). thì hoạt động nhập khẩu từ Nhật Bản lại diễn ra với nhịp độ khác. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản còn khá nhỏ so với kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này, cho đến cuối năm 2003. mới ở mức tương đương (kim ngạch xuất đạt 2.901.51 nghìn USD; kim ngạch nhập khẩu là 2.993.959 nghìn USD – nguồn: tổng cục Hải Quan) Bảng 9: Tỷ trọng nhập khẩu từ Nhật trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ (1992 – 2003). (Đơn vị: triệu USD) Năm Kim ngạch Nhập khẩu Việt – Nhật Tổng Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Tỷ trọng (%) 1992 451 2.541 17,75 1993 639 3.924 16,28 1994 644 5.826 11,05 1995 921 8.155 11,29 1996 1.140 11.144 10,23 1997 1.283 11.592 11,07 1998 1.470 11.390 12,91 1999 1.680 11.636 14,44 2000 1.121 15.200 13,96 2001 2.218 16.000 13,86 2002 2.510 19.700 12,74 2003 1.470 12.200 12,05 (Nguồn Tổng cục Hải quan) Trong số những thị trường nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam, Nhật Bản đã và đang là thị trường tiêu thụ lớn nhất mà Việt Nam có được. (mười bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam trong năm 2003 vẫn là Nhật Bản; Trung Quốc; australia; Singapore; Hoa Kỳ; Đài Loan; Đức; Anh; Pháp; Hàn Quốc.) Mặc dù Nhật Bản luôn chiếm vị trí dẫn đầu trong số những nước nhập khẩu hàng Việt Nam, nhưng nhìn chung tỷ trọng của nó trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam lại cũng tăng giảm thất thường. Thực tế cho thấy, chỉ có thời kỳ trước năm 1989, Việt Nam mới nhập siêu từ Nhật Bản. Cụ thể năm 1986 số lượng nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu là 109 triệu USD, còn các năm sau kể từ năm 1989 đến nay, Việt Nam đều suất siêu sang nhật và mức xuất siêu này ngày càng tăng. Tuy bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nên hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật trong những năm 1997 – 2000 có sự giảm sút. Bảng 10: Tình hình xuất siêu của Việt Nam sang Nhật giai đoạn (1992 - 2001) (Đơn vị : Triệu USD) Năm 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 XK 870 1069 1350 1716 2020 2198 1792 1920 2532 3510 2440 NK 451 639 644 921 1140 1283 1470 1680 2121.3 2215 2510 XS 419 430 706 795 880 915 322 240 410.7 1295 (-70) (Nguồn Tổng cục hải quan) Nhật Bản đứng đầu danh sách các nước xuất siêu lớn nhất thế giới, thăng dư thương mại của Nhật với Châu á lên tới 70.7 tỷ USD. Năm 1993, thặng dư thương mại của Nhật với Thái Lan lên tới 7.66 tỷ USD, với Singapore 13.2 tỷ USD. Các nước Châu á khác gồm Hàn Quốc; Indonesia… đều nhập siêu từ Nhật Bản. Tuy nhiên năm 2002 lần đầu tiên cán cân thương mại bị thâm hụt kể từ nă 1999. Đối với nền kinh tế Việt Nam, cán cân thương mại nghiêng về xuất khẩu là hiện tượng lành mạnh, vì nó tạo ra nguồn thu ngoại tệ đáng kể có thể chuyển thành vốn giúp cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo, nó là cơ sở cho sự thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam trong tương lai. * Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản. Cũng theo cách xem xét như đối với hàng xuất khẩu chủ yếu, cơ cấu hàng nhập khẩu chủ yếu từ Nhật Bản sang nước ta như sau: Bảng 11: Danh mục những mặt hàng chủ yếu nhập khẩu từ Nhật Bản. 1996 1997 1998 1999 Tên hàng Số lượng Trị giá triệu USD Số lượng Trị giá triệu USD Số lượng Trị giá triệu USD Số lượng Trị giá triệu USD Sắt thép (tấn) 99.503 43,3 109.337 50,4 358.207 102,4 - - Phân bón 187.991 39,3 157.002 25,8 242.896 22,6 - - Ôtô (chiếc) 2.420 28,2 166 21,2 759 15,5 436 11,5 Xăng Dầu (tấn) 105.995 20,2 151.591 23,6 19.902 2,67 11.658 16,1 Linh kiện ô tô (bộ) 1.341 7,95 4.286 31,1 1.881 16,2 2.160 20,85 (Nguồn Tổng cục Hải quan) Qua số liệu tổng hợp trên có thể thấy, các mặt hàng nhập từ Nhật là những hàng hoá sử dụng ít nguyên liệu thô, song hàm lượng chất xám cao như sản phẩm của các ngành công nghiệp nặng. Trong tổng số hàng nhập từ Nhật Bản của Việt Nam, các mặt hàng công nghiệp chế tạo chiếm trên 88 %, nguyên liệu khoáng sản gần 3 % và nguyên liệu thô là 1.5 %. Tóm lại, trong hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản, sự hỗ trợ và quan tâm tích cực của Chính phủ, các công ty thương mại, các ngân hàng và qũy phát triển của Nhật Bản đã đẩy hiệu quả buôn bán kinh doanh với Việt Nam, khiến mối quan hệ này mở ra những triển vọng lớn trong tương lai. Tuy nhiên, vẫn còn một số khúc mắc và hạn chế sau: Trước hết, về kim ngạch buôn bán giữa hai nước mặc dù đã tăng lên một cách ổn định và tích cực nhưng quy mô buôn bán còn nhỏ bé so với tiềm năng kinh tế của hai nước. Tỷ trọng thương mại Việt – Nhật trong tổng kim ngạch ngoại thương của Nhật Bản là không đáng kể, khoảng gần 1% và chiếm trung bình các năm khoảng sấp xỉ 15 % tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam. Với tình hình này, nếu không có thiện chí hợp tác, tương trợ lẫn nhau thì bất cứ một sự thay đổi nào trong chính sách ngoại thương của Nhật Bản cũng như sự trừng phạt buôn bán, sự tăng giảm giá của đồng Yen đều gây tác hại đối với nền kinh tế Việt Nam nhiều hơn những gì Việt Nam có thể gây ra cho Nhật Bản. Việt Nam thường xuất sang thị trường Nhật Bản những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên như Giầy dép; hàng may mặc; Dầu thô; Than đá; hàng thủ công và các loại nông sản khác… hàng thủ công cũng là một thế mạnh độc quyền của ta mà không phải lo sợ cạnh tranh trực tiếp. Hàng thủ công nhập khẩu vào Nhật được gia tăng. Năm 2003, tổng giá trị được xuất là 43.671.000 USD tăng 1,1 lần so với năm 2002 là 39.460.000 USD. Cơ cấu mặt hàng xuất còn tương đối đơn giản, chủng loại ít, chủ yếu là mặt hàng thô, chưa qua chế biến. Trong khi đó, Việt Nam lại nhập khẩu vào chủ yếu là máy móc, thiết bị, công nghệ kỹ thuật của ngành công nghiệp nặng và công nghiệp chế tạo những mặt hàng sử dụng ít nguyên liệu, chứa hàm lượng chất xám cao. Cơ cấu buôn bán giữa hai nước cũng có sự biến động nhưng rất chậm chạp… 2.3 Đánh giá quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản Có thể nói, buôn bán song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển và không ngừng tăng lên cả vể khối lượng và qui mô. Sự gia tăng này đã đáp ứng được về cơ bản nhu cầu của cả hai phía. Tuy nhiên, trao đổi thương mại giữa hai nước vẫn còn một số hạn chế sau đây: Quy mô buôn bán còn quá nhỏ so với tiềm năng kinh tế của hai nước; kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tổng kim ngạch ngoại thương của Nhật Bản là không đáng kể, khoảng chừng 0,7 – 0,9 % và chiếm khoảng trung bình 15 % tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam trong các năm như đã nói ở trên. Điều này cho thấy, trong quan hệ thương mại song phương Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào Nhật Bản, còn Nhật Bản không phụ thuộc nhiều vào Việt Nam. Mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào Nhật lớn hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác ở Châu á như Malaysia, Thái Lan, Inđônêxia… Vì vậy, nếu như có bất kỳ một sự thay đổi nào trong chính sách ngoại thương của Nhật Bản hoặc thị trường Nhật Bản thì sẽ gây cho nền kinh tế của Việt Nam một cú xốc tương ứng; ví dụ như: sự trừng phạt buôn bán, sự tăng giảm giá của đồng Yên hoặc sự thay đổi chính sách… đều gây tác hại đối với nền kinh tế Việt Nam nhiều hơn những gì mà thị trường Việt Nam có thể gây ra cho Nhật Bản. Cơ cấu hàng hoá trao đổi còn nhiều bất cập: Việt Nam xuất sang Nhật Bản nguyên liệu khoáng sản, thủy hải sản chủ yếu dưới dạng thô hoặc mới qua sơ chế và một số mặt hàng công nghiệp nhẹ, hàng gia công, nhưng lại nhập từ Nhật những hàng công nghiệp nặng. Như vậy, Việt Nam đã xuất sang thị trường này những hàng hoá sử dụng nhiều lao động, tài nguyên thiên nhiên, đồng thời nhập từ đó những loại hàng hoá sử dụng ít nguyên liệu nhưng chứa đựng một hàm lượng chất xám cao. Cơ cấu buôn bán giữa hai nước phản ánh giai đoạn phát triển hiện tại của nền kinh tế Việt Nam với những lợi thế tương đối về tài nguyên và lao động. Về mặt thực tiễn, cán cân thương mại nghiêng về xuất khẩu là một hiện tượng lành mạnh đối với nền kinh tế Việt Nam vì doanh thu ngoại tệ. khả dĩ có thể chuyển thành hàng hoá giúp cho sự phát triển các ngành công nghiệp chế tạo – cơ sở cho sự thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam trong tương lai. Tuy nhiên, cơ cấu này chỉ có ưu điểm trong thời gian ngắn từ 3 – 5 năm hoặc tối đa là 7 năm, nếu kéo dài sẽ hoàn toàn bất lợi đối với Việt Nam trong trao đổi mậu dịch. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Nhật Bản trong thời gian qua chủ yếu là do dầu thô mang lại. Mức thặng dư của Việt Nam trong buôn bán vớ Nhật Bản là khá lớn nhưng những thiệt hại khác thì chưa ai tính được. Rất có thể, trong thời gian tới Việt Nam sẽ phải đương đầu với sự thâm hụt trở lại trong cán cân thương mại với Nhật Bản vì với yêu cầu của công nghiệp hoá, đòi hỏi Việt Nam phải nhập khẩu một khối lượng lớn máy móc; thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại… Người ta dự báo rằng, với tiến trình Công nghiệp hoá đang diễn ra ở Việt Nam thì trong thời gian một vài năm tới (từ năm 2006 – 2010) Việt Nam sẽ nhập siêu từ Nhật. Mức nhập siêu sẽ không phải là nhỏ nếu; Việt Nam không nhanh chóng thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu của mình sang thị trường này. Quan hệ buôn bán giản đơn chưa gắn liền với hình thức hợp tác kinh tế quốc tế, đặc biệt là với hình thức đầu tư (liên doanh, liên kết) và tài trợ phát triển chính thức (ODA). Chính vì vậy, mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa có chỗ đứng trên thị trường Nhật Bản. Trong khi đó, quan hệ buôn bán của phía Nhật Bản đã bước đầu được đặt trong mối quan hệ với ODA và hình thức đầu tư trực tiếp FDI cũng như phân bố mạng lưới sản xuất trong khu vực, do đó các doanh nghiệp Nhật Bản tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Việt Nam. Với thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản như hiện nay, vấn đề đặt ra là Việt Nam phải giải quyết những tồn tại, và khắc phục các mặt hạn chế để thúc đẩy quan hệ thương mại song phương phát triển tương xứng vơí tiềm năng của hai nước. Nói cách khác, Việt nam cần phải mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại song phương với Nhật Bản. Chương 3: Những định hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Nhật Bản Có thể nói, quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản nói chung và quan hệ thương mại của hai nước nói riêng. ta thấy chúng có nhiều thuận lợi, nhưng bên cạnh đó cũng còn tồn tại không ít những mặt khó khăn đã làm tác động không nhỏ tời quan hệ của hai nước, kìm hãm sự phát triển của quan hệ thương mại của hai nước trong tương lai. 3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản. 3.1.1 Những thuận lợi. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển tốt đẹp như hiện nay, đó là nhờ sự cố gắng nỗ lực của cả hai nước. xu thế hoà nhập, hợp tác của khu vực, thế giới là điều kiện hết sức quan trọng để khởi động, thúc đẩy quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa hai nước; mang lại những lợi ích cho cả hai bên, thể hiện ở: Thứ nhất, Những thuận lợi bắt nguồn từ bối cảnh khu vực và quốc tế được bắt đầu từ những năm 1990, sẽ tiếp tục tác động tích cực đến quan hệ kinh tế hai nước Việt Nam – Nhật Bản trong những năm tới. Xu hướng hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế được gia tăng từ đầu những năm 1990, đến nay, vẫn tiếp tục phát triển sâu rộng trên tất cả các khu vực trên thế giới. Nếu từ đầu những năm 1990, khi mà đón nhận xu hướng này, có không ít các quốc gia do dự, trong đó có Việt Nam, bởi họ sợ những tác động tiêu cực nhiều hơn, sợ bị lệ thuộc nhiều hơn vào các nước lớn và sợ bị các nước lớn chi phối khi mà họ tham gia sâu hơn vào quá trình hội nhập và liên kết kinh tế kinh tế toàn cầu. Trải qua hơn một thập niên liên kết và hội nhập, người ta mới hiểu ra rằng, lợi ích do quá trình này mang lại thực sự to lớn. khác với trước đây, sự chủ động hội nhập trở thành một trong những yếu tố chiến lược của sự mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này, cũng được thể hiện ở chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI mà Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra. Đó là: “gắn chặt việc xây dựng nên kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”. Độc lập, tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ. Chính điều này sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn để thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam - Nhật Bản. Thứ hai, là những kinh nghiệm của nhiều thập niên xây dựng và phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Đây được coi là một thuận lợi lớn cho quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Bởi vì những kinh nghiệm “hay” sẽ được được nhân lên và những kinh nghiệm “dở” sẽ được cả hai phía khắc phục, từ đó tạo cơ hội cho quan hệ của hai nước ngày càng phát triển. Những kinh nghiệm hợp tác song phương giữa hai nước trong thập niên qua cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào tổng kết lại. song người ta hiểu rằng, nhờ đó Việt Nam và Nhật Bản hiểu biết nhau hơn cả trên tất cả cấp độ chính phủ, nhà doanh nghiệp và nhân dân; hai phía đều hiểu rõ nhu cầu của hai quốc gia và đặc biệt nhu cầu của người tiêu dùng. Hiểu rõ hơn, đặc điểm của từng thị trường. Trên cơ sở của sự hiểu biết đó, cả phía Việt Nam và Nhật Bản có thể trao đổi, thương lượng và chia sẻ lợi ích trong quá trình hợp tác (hợp tác hai bên cùng có lợi). 3.1.2 Những khó khăn. Bên cạnh những mặt thuận lợi trên, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng đang vấp phải những mặt khó khăn đó là: * Khó khăn do những biến động từ môi trường quốc tế. Như đã nói ở trên, xu hướng hội nhập, liên kết khu vực và quốc tế gia tăng đã và đang đem lại nhiều lợi thế cho các quốc gia tham gia vào quá trình này, trong đó có cả Việt Nam và Nhật Bản. song cũng chính sự tiến triển của quá trình này, trong bối cảnh các nền kinh tế không có cùng trình độ phát triển, rất có thể chúng sẽ gây tác động ngược, và sẽ ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế – thương mại Việt Nam – Nhật Bản. Có thể kể một số tiêu cực do quá trình này gây ra: Trước hết, để tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế nước ta phải giảm dần thuế quan và tiến tới rỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, điều này sẽ làm cho hàng hoá và dịch vụ nước ngoài ồ ạt đổ vào thị trường nội địa, cạnh tranh “bóp chết” các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Thứ hai, do hội nhập kinh tế quốc tế mà mọi chấn động tiêu cực trong hệ thống kinh tế toàn cầu (tiền tệ, tài chính, giá cả nguyên nhiên liệu…) cũng có thể ảnh hưởng đến nước ta. Ngoài ra, phải kể đến khá nhiều tác động tiêu cực khác, song những tác động tiêu cực này có thể lớn hay nhỏ, điều đó còn tuỳ thuộc vào các chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta. Nếu chúng ta có các chính sách hội nhập đúng đắn và thích hợp thì ảnh hưởng của những mặt tiêu cực sẽ bị hạn chế. Điều này, đòi hỏi ta phải nghiên cứu một cách toàn diện, triệt để những cơ hội và thách thức mà vấn đề toàn cầu hoá đặt ra để định ra đường lối đúng đắn và hoạch định chiến lược phát triển của đất nước trong thời gian tới. Các chính sách này sẽ tác động tới quan hệ tới quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản nói riêng trong quan hệ kinh tế quốc tế. * Khó khăn từ phía Nhật Bản. Tuy là một nước giầu có, nhưng với sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng đầu thập niên 1990, nước Nhật lâm vào cuộc suy thoái gần như liên tục và trong đó cũng là quốc gia gián tiếp bị cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ Châu á trong hai năm 1997 và 1998. Ngoài ra, trong bối cảnh tình hình chính trị quốc tế diễn biến hết sức phức tạp về thương mại song phương và sản phẩm công nghệ cao, sức ép của Mỹ trong quan hệ với Nhật Bản ngày càng gia tăng. Nhật Bản đang đứng trước thách thức của một loạt nhân tố kìm hãm rất gay gắt được tích tụ sau hàng chục năm qua. Chẳng hạn, hàng loạt các tổ chức tín dụng không thanh toán được các khoản nợ đã vay ngân hàng, không có tiền cho các khoản vay mới dẫn đến nguy cơ đổ vỡ, các doanh nghiệp bị phá sản làm cho hàng loạt người lao động bị mất việc; tỷ lệ thất nghiệp của đất nước vốn đã nhiều năm nổi tiếng là thất nghiệp thấp nhất (dưới 1%) trong số hệ thống các nước tư bản, nay đã tăng vọt đến mức 5,2 % vào quý 1 năm 2002; còn năm 1999 chỉ số tăng trưởng kinh tế là âm (2,2%); không những thế thị trường tài chính tiền tệ thường xuyên biến động, lên xuống thất thường, đồng yen trở nên yếu kém… Tình trạng trên, đã biến cho giới đầu tư trong và ngoài nước không có lòng tin đối với thị trường tài chính Nhật Bản. Do vậy ngay từ đầu những năm 1990, Nhật Bản đã tiến hành cải cách kinh tế nhằm hình thành một cơ cấu kinh tế mới theo kịp tiến bộ khoa học - kỹ thuật, biến đổi và duy trì sức mạnh chính trị của Nhật Bản. Với việc kết thúc thời kỳ suy thoái đuổi kịp Châu Âu và Mỹ. Do tác động của quá trình toàn cầu hoá, Nhật Bản phải điều chỉnh lại toàn bộ cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý nhằm đáp ứng với yêu cầu công nghệ cao, tăng năng xuất lao động, hội nhập nền kinh tế Nhật Bản vào thế giới. Bên cạnh đó, chính những sự tác động tích cực của sự phát triển kinh tế nhiều năm trước đây đã dấn đến xu hướng dân số bị già hoá ở Nhật Bản tăng nhanh. Có nghĩa là, hoạt động kinh doanh bị thu hẹp lại, do thiếu sức lao động, nhất là lực lượng lao động trẻ được đào tạo có kỹ thuật bị giảm sút mạnh. Điều này gây nên giá cả lao động tăng cao làm ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất. Tiền tiết kiệm và tiền đầu tư vào phát triển kinh tế như vậy cũng co lại nhường cho phúc lợi xã hội, hưu trí và chăm sóc người già, làm tăng gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Chính sự già hoá dân số tăng nhanh ở Nhật Bản đã là một trong những nguyên nhân xã hội “góp phần” làm cho nền kinh tế Nhật Bản trong những năm 1990 bị lâm vào tình trạng suy thoái kéo dài. Ngoài những khó khăn bên trong nền kinh tế Nhật, thì những yếu tố khách quan bên ngoài cũng gián tiếp tác động làm cho nền kinh tế Nhật Bản càng lún sâu hơn trong tình trạng suy thoái, trì trệ trong các năm 1997 – 1998, đó là ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ của khu vực Châu á. Sở dĩ như vậy là do, Nhật Bản có mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại lâu dài và đầu tư từ lâu với các nước trong khu vực Châu á. Kết quả là, cuộc khủng hoảng này đã làm thiệt hại lớn đến cán cân xuất nhập khẩu và đầu tư của Nhật Bản tại thị trường này. Có thể nói, những khó khăn mà đất nước Nhật Bản đang phải đối phó không những ảnh hưởng tới khả năng kinh tế của nước này mà còn ảnh hưởng xấu tới quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó có quan hệ với Việt Nam. * Khó khăn từ phía Việt Nam. Mặc dù, con đường phát triển phía trước còn nhiều cơ hội đang rộng mở, nhưng nước ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức vá khó khăn chồng chất. - Một là, trước hết, về cơ bản Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp, cơ sở vật chất và trình độ công nghệ còn thấp xa với các nước trong khu vực, lại phải chịu hậu quả năng nề của những thập kỷ bị chiến tranh tàn phá. Do vậy, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, cơ cầu kinh tế chuyển biến chậm, hướng đầu tư chưa cao, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế. - Hai là, các cân đối vĩ mô của nền kinh tế còn chưa ổn định vững chắc; tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư còn thấp do thu nhập bình quân của người dân chưa cao. Đến năm 2003, tiết kiệm nội địa mới đạt khoảng 23 % GDP và GDP trên đầu người mới đạt được xấp xỉ 400 USD. Lĩnh vực tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập, chất lượng tín dụng chưa cao, kinh nghiệm huy động vốn cho vay còn nhiều hạn chế, chưa đủ làm động lực để thúc đẩy, thu hút đầu tư. - Ba là, hệ thống luật pháp về kinh tế còn đang trong quá trình hoàn thiện nên thiếu tính đồng bộ, một số văn bản ban hành chậm và thiếu nhất quán đã gây cản trở quá trình thực hiện, chưa tạo ra động lực mới để vượt qua khó khăn, thúc đẩy kinh tế phát triển. Cải cách hành chính tiến hành chậm và thiếu kiên quyết nên bộ máy hành chính hoạt động chưa hiệu quả, hiệu lực thấp. một bộ phận công chức còn yếu về năng lực, phẩm chất…(nên hoạt động theo kiểu làm công ăn lương). - Bốn là, nền kinh tế nước ta có thể nói là kinh tế thị trường nhưng chưa phát triển; hệ thống thị trường chưa hoàn thiện; chẳng hạn như thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường chứng khoán, bảo hiểm… do đó, không thu hút được các nhà đầu tư cũng như làm méo mó sự phân bổ các nguồn lực. Ngoài ra, hệ thống tín dụng ngân hàng ở nước ta còn nhiều yếu kém, chưa được hiện đại hoá cao, gây mất thời gian, tăng chi phí và giảm sự năng động của các doanh nghiệp. Ví dụ như là việc đặt máy rút tiền tự động cũng chỉ đặt trong những ngân hàng lớn, ở những thành phố lớn và xa nơi công cộng làm cho việc rút tiền chậm chạp…. - Thứ năm, đó là sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước còn thấp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước. Mặc dù các doanh nghiệp này được hưởng sự đầu tư, ưu đãi của nhà nước và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân, nhưng nhiều doanh nghiệp nhà nước đều nằm sâu trong tình trạng làm ăn thua lỗ, không hiệu quả. Hiện nay, Nhà nước đã thực hiện quá trình sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả nhưng tiến trình cải cách còn chậm, mới chỉ cổ phần hoá được một số các doanh nghiệp nhà nước, dù quá trình cổ phần hoá diễn ra đã khá lâu. Đây là một cách thức lớn đối với nước ta trong quá trình hội nhập thế giới và phát triển quan hệ kinh tế với các nước, trong đó có Nhật Bản. Cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, những khó khăn của nền kinh tế hiện đại cùng với sự gia tăng mạnh mẽ cạnh tranh quốc tế càng làm bộc lộ rõ những yếu kém của và làm chậm lại nhịp phát triển tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Hơn lúc nào hết, thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước phát triển nếu không duy trì được mức tăng trưởng trên 9 %. Vấn đề đặt ra hiện nay là, cần xác định rõ lộ trình các bước đi, đặt ra từng kế hoạch 5 năm có sự cam kết của các tổ chức, doanh nghiệp; cụ thể hoá kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là phương hướng, biện pháp nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. bố trí đào tạo cán bộ có đủ năng lực kiến thức, tinh thần làm việc theo kiểu công nghiệp để thực hiện thành công quá trình hội nhập. những cam kết Nhà nước ta phải thực hiện đối với từng tổ chức tạo điều kiện làm việc, kinh doanh ưu đãi, thời gian thực hiện để từ đó mỗi doanh nghiệp tích cực, chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh sao cho có hiệu quả. 3.2 Triển vọng mối quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản. Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giaovới Việt Nam từ tháng 9/1973, nhưng quan hệ Việt - Nhật thực sự phát triển vững chắc kể từ sau năm 1991, bắt đầu bằng việc nối lại viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam. Kết quả sau nhiều vòng đàm phán là vào tháng 11/1992, hai bên đã ký kết hiệp định về việc Nhật Bản viện trợ có hạn định cho Việt Nam 45 tỷ 500 triệu Yên – mở ra một trang sử mới trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản tháng 3/1993. Tháng 11/1993, tại hội nghị các nước viện trợ cho Việt Nam, Nhật Bản đã quyết định viện trợ 60 tỷ Yên (khoảng 560 triệu USD) và trở thành nước viện trợ trực tiếp cao nhất cho Việt Nam. Tháng 8/1994, thủ tướng Murayama là vị thủ tướng đầu tiên của Nhật Bản sang thăm Việt Nam, trong cuộc hộ đàm với thủ tướng Võ Văn Kiệt, hai bên đã nhất trí thắt chặt quan hệ hợp tác giữa hai nước, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giao lưu con người, hướng tới thời kỷ mới trong quan hệ Việt – Nhật. Tháng 4/1995, nhận lời mời của thủ tướng Murayama, Tổng bí thư Đỗ Mười đã sang thăm chính thức Nhật Bản. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đến Nhật Bản, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Năm 1999 là năm kỷ niệm lần thứ 26 quan hệ ngoại giao Việt – Nhật, để khẳng định sự gắn bó đoàn kết giữa hai nước, các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nước đã liên tục có những chuyến viếng thăm và làm việc với nhau. Tiếp theo là chuyến viếng thăm của thủ tướng Nhật Bản Keizo Obuchi nhân dịp dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN vào tháng 12/1998 tại Việt Nam. Chuyến thăm của thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 3/1999, chuyến thăm của phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang Nhật Bản vào tháng 6/1999, chuyến thăm của Bộ trưởng tài chính Miyazawa vào tháng 5/1999; chuyến thăm của Hoàng tử và Công chúa Nhật Bản Akishino tới Việt Nam vào tháng 6/1999. Từ ngày mùng 4 đến mùng 6/6/2001 Thủ tướng PhanVăn Khải đã tham dự hội thảo “Tương lai Châu á” và đã thăm Nhật Bản. ngày 27/03/2002, Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi cùng các thành viên trong đoàn đại biểu Chính phủ Nhật Bản đã đến Hà Nội, tại cuộc hộ đàm, Thủ tướng Phan Văn Khải và thủ tướng Koizumi đã dành nhiều thời gian trao đổi ý kiến về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực để hướng tới kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản vào năm 2003. Qua các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo, Việt Nam và Nhật Bản đã ký kết với nhau nhiều hiệp định hợp tác kinh tế, giải quyết những vấn đề tồn đọng và xục tiến quan hệ mậu dịch, đầu tư giữa hai nước. Tính đến ngày 29/2/2004, tổng vốn đầu tư trực tiếp FDI của Nhật Bản lên tới 4,585 triệu USD và tổng vốn thực hiện là 3,947 triệu USD chiếm 86 %. Có thể nói Chính phủ ta đã có cố gắng nỗ lực trong việc tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, liên doanh liên kết vào thị trường Việt Nam. Mấy năm gần đây Việt Nam dần dần hiểu rõ hơn thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp thành thạo hơn trong các nghiệp vụ xuất nhập khẩu và đã có sự chủ động hợp tác với nước bạn. Bên cạnh đó Nhật Bản cũng hiểu rõ khả năng hợp tác vớc các doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Cho đến nay, rất nhiều sản phẩm của các hãng nổi tiếng ở Nhật Bản như Toshiba, Mitsubisi, Tozota, HonDa, SamSung… đã trở nên khá quen thuộc và đã đi sâu vào cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, không phải dễ dàng mà các sản phẩm trên đạt được điều này. Để có được điều đó, các công ty của Nhật đã phải nỗ lực trong việc tiếp thị, quảng cáo và hoạt động quan trọng hơn cả là tìm hiểu được thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam. Phần nữa là nhờ vào những thiết bị máy móc tiên tiến hiện đại của mình mà Nhật Bản có thể sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mẫu mã đẹp được người tiêu dùng tin tưởng. Như vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản đã dựa vào thế mạnh, uy tín của mình để phát huy. Còn Việt Nam thì sao? Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã nỗ lực phát huy những lợi thế so sánh của mình trong lĩnh vực hàng nông sản, dầu thô, dệt may… như lao động rẻ, nguyên liệu đầu vào rẻ… vì vậy, các doanh nghiệp của ta cũng đã từng bước thâm nhập vào thị trường Nhật Bản. Việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (aesan), Diễn đàn hợp tác châu á - Thái Bình Dương ( apec) sẽ tạo ra những cơ hội mới cho hoạt động thương mại. Khi chưa tham gia vào WTO (tổ chức thương mại thế giới) thì việc gia nhập vào (APEC) sẽ giúp Việt Nam mở rộng thị trường với nhiều ưu đãi giúp hoạt động xuất khẩu của Việt Nam được đẩy mạnh. Nếu muốn tham gia vào WTO, Việt Nam buộc phải mở rộng thị trường của mình và phải chấp nhận một môi trường cạnh tranh ác liệt và hoàn toàn bình đẳng với các nước trong khu vực và thậm chí là với các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… Đây vừa là thách đố vừa là động lực kích thích các doanh nghiệp Việt Nam phải khẩn trương nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm của mình cả trên thị trường trong nước cũng như thì trường ở nước ngoài. Để làm được điều này, Việt Nam phải thực hiện đổi mới công nghệ, trang thiết bị, nâng cao trình độ quản lí, tiếp thị, cải tiến mẫu mã, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm. Việc Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực Châu á Thái Bình Dương, một khu vực vẫn còn chứa nhiều yếu tố của sự phát triển năng động và đầy hứa hẹn trong thập kỷ tới. Với tư cách là một thành viên lâu đời của APEC và WTO, là bên đối thoại tích cực của ASEAN, Nhật Bản sẽ cho Việt Nam được hưởng các ưu đãi theo qui định của các tổ chức này trên các lĩnh vực khác nhau và cũng có điều kiện hơn trong việc hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam học hỏi những kinh nghiệm xúc tiến nhanh hơn quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. Tóm lại, triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới rất khả quan. Nó phù hợp với chiến lược mở của thị trường tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Tuy nhiên để triển vọng hợp tác đó trở thành hiện thực, chính phủ hai nước cần có những nỗ lực, cố gắn hơn nữa trong việc tạo dựng hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hai nước thâm nhập thị trường của nhau, thúc đẩy quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi, cùng phát triển. 3.3. Những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa Việt Nam - Nhật Bản. Ngay từ đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định rõ ràng mục tiêu chiến lược trong những năm tiếp theo là giữ vững hoà bình tranh thủ điều kiện bên ngoài thuận lợi, tranh thủ thời gian nhằm từng bước giữ vững ổn định hoà bình để tập trung phát triển kinh tế. Phương hướng trong thời gian tới là chúng ta cần vận dụng đường lối độc lập, tự chủ, đa đạng hoá, đa phương hoá; cần xác định chiến lược đối ngoại mới vừa hợp tác vừa đấu tranh, củng cố sự tin cậy quốc tế và khu vực đối với nước ta bằng nhiều biện pháp, để các nước thấy Việt Nam là một đối tác tin cậy, một thị trường làm ăn có lợi. Mở rộng quan hệ làm ăn đối với tất cả các nước, trước hết là các nước lớn , các nước láng giềng, các nước trong khu vực, cố gắng làm tốt trách nhiệm của một thành viên ASEAN và hướng tới chủ động hoà nhập vào kinh tế khu vực Châu á - Thái Bình Dương. Đồng thời quan hệ với các nước khu vực khác, không vì quan hệ hẳn với một nước này mà phải tránh quan hệ với các nước khác. Tranh thủ sự hợp tác, đầu tư và viện trợ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững. Phát triển ngoại thương trên cơ sở xây dựng nền kinh tế mở, hướng mạnh về xuất khẩu thay thế hàng xuất khẩu bằng các mặt hàng sản xuất trong nước có chất lượng cao mẫu mã đẹp, giá thành ổn định. * Quan hệ kinh tế – thương mại với Nhật Bản là một trong những mối quan hệ lớn, ổn định lâu dài trong hoạt động kinh doanh đối ngoại của nước ta. Hơn nữa nước ta nằm trong khu vực châu á và đặc biệt là thành viên của khối các nước ASEAN nên chúng ta cùng chịu tác động chiến lược kinh tế tài chính của Nhật Bản đối với khu vực Châu á và của khối ASEAN đối với Nhật Bản. * Tăng cường hợp tác kinh tế với Nhật Bản nhằm tranh thủ các lợi ích kinh tế có được, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đồng thời để giảm tối thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào Nhật Bản cũng như tác động xấu đến chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới, chúng ta cần xây dựng những chiến lược cụ thể trong quan hệ kinh tế và quan hệ đối ngoại với Nhật Bản trên quan điểm: Đánh giá đúng chiến lược kinh tế các nước trong khu vực, các tổ chức quốc tế, thấy rõ những điểm chung điểm bất đồng giữa ta và họ, củng cố tăng cường các điểm chung, không bỏ lỡ thời cơ để hợp tác để tránh những bất đồng về lợi ích giữa các bên. * Cải tiến hệ thống chính sách thuế khoá và thuế quan phù hợp với xu thế tự do hoá thương mại thế giới : Nhanh chóng thực hiện các chương trình về thuế quan trong chương trình của khối ASEAN để có thể sớm hoà nhập vào thị trường khu vực, và có thể tham gia vào quá trình hội nhấp kinh tế quốc tế. Điều này, sẽ tạo cho chúng ta cơ hội tham gia vào các hoạt động thương mại với Nhật Bản. Thông qua việc cung cấp các nguyên - nhiên liệu đầu vào cho mạng lưới các công ty Nhật Bản, đã và đang được hình thành trên khu vực Châu á sẽ tăng thêm về mặt số lượng và hiệu quả kinh tế đối với hàng hoá của ta. Song với chương trình cắt giảm thuế quan trên, chúng ta cũng nên mạnh dạn áp dụng các mức thuế ưu đãi đối với thu nhập của các doanh nghiệp trong nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu nhập cao hơn. Để tăng nhanh khối lượng hàng hoá qua chế biến, cách tốt nhất chính phủ nên đưa ra các chính sách tích cực, khuyến khích sự tham gia của các hãng Nhật Bản trong quá trình sản xuất, chế biến hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Đây chính là chìa khóa để Việt Nam nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và thị trường các nước khác. * Ngoài ra, Việt Nam cũng phải có những biện pháp hiệu quả trong việc chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu hợp lý để quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản phát triển thực sự với tiềm năng và nhu cầu của hai nước. nhất là về phía Việt Nam, chúng ta phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện hệ thống hoạt động ngoại thương, không chỉ dừng lại trong việc nâng cao chất lượng của cơ sở hạ tầng mà ở ngay cả, các chính sách thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, đội ngũ cán bộ công nhân viên…. Hiện tại, chúng ta phải chấp nhận cơ cấu xuất nhập khẩu như đã trình bảy ở (chương 2). song để giảm bớt sự “trả giá”, ngay từ bây giờ cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng là: làm giảm và tiến tới loại bỏ các nguyên, nhiên liệu thô, gia tăng tỷ trọng xuất của những mặt hàng đã qua chế biến. Cơ cấu nhập khẩu cũng phải chuyển dịch theo hướng ưu tiên nhập khẩu những máy móc công nghệ đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nước. Có nghĩa là các công nghệ hiện đại sẽ chiếm tỷ trọng cao trong giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản, bởi vì Nhật Bản là một nước có tiềm lực khoa học, công nghệ rất phát triển so với các nước trên thế giới. Các mặt hàng tiêu dùng, nếu không phải là thiếu yếu thì sẽ không nhập khẩu hoặc chỉ nhập khẩu với tỷ trọng không đáng kể, ưu tiên dành mọi nguồn lực cho nhập khẩu máy móc, công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đaị hoá đất nước. * Tình trạng yếu kém trong khả năng tài chính của các công ty Việt Nam, nhất là các công ty nhà nước, khiến hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam - Nhật Bản bị giảm sút. Do vậy, Chính phủ cũng cần có những chính sách và biện pháp tích cực để giải quyết triệt để những khoản nợ mà các công ty Việt Nam đang mắc phải (chủ yếu là nợ khó đòi). Cho phép các công ty mua lại dưới hình thức trả chậm. Chính phủ Việt Nam cũng cần phải có những biện pháp củng cố, sắp xếp, điểu chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước kể cả những doanh nghiệp đã cổ phần hoá. Có thể cho giải thể những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong các lĩnh vực ít phục vụ cho nền kinh tế quốc dân. Đẩy nhanh hơn tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và nâng cao hơn nữa vai trò của thị trường Chứng khoán trong đời sống kinh tế quốc gia, đồng thời khuyến khích phát triển đa dạng hoá kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, đa dạng hoá cả những thành phần kinh tế ngoài 6 thành phần kinh tế chính mà Đại hội Đảng XI đã công nhận. * Mặt khác, Chính phủ ta cũng cần có biện pháp nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc hơn về cách thức làm ăn của người Nhật, để điều chỉnh lại chính sách của mình cho phù hợp hơn và để tăng cường hiểu biết hơn nữa về thị trường đối tác của mình. Hiện nay, Việt Nam đã thành lập các trung tâm tư vấn chuyên về Nhật Bản trực thuộc Bộ thương mại nhằm giảm bớt những thua thiệt không đáng có của các công ty Việt Nam khi ký hợp đồng gia công, liên doanh… với các công ty Nhật Bản. * Một vấn đề nữa, không kém phần quan trọng đối với hoạt động thương mại đó là chúng ta phải tích cực đẩy mạnh việc tìm kiếm, mở rộng thị trường ra các nước trước hết với các nước trong khu vực ASEAN và thu hút nhiều quốc gia hợp tác để tránh tình trạng phụ thuộc vào các công ty Nhật Bản trong việc cung cấp sản phẩm đầu tư cũng như tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Mục đích của việc này, một mặt là để hạn chế và chia nhỏ những rủi ro cho các nhà xuất khẩu Việt Nam khi các thị trường truyền thống bị biến động. Mặt khác, nâng cao tính cạnh tranh, vị thế của hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế, tránh bị ép giá do mất đầu ra. * Ngoài ra, cũng cần có các biện pháp triển khai từ cả hai phía Việt Nam và Nhật Bản Đó là, hai nước cần có trao đổi, bàn bạc cụ thể trong khuôn khổ song phương để đi đến ký hiệp định thương mại giữa hai nước, trong đó Nhật Bản dành cho Việt Nam quy chế tối huệ quốc (MFN) đầy đủ. Hiệp định này nếu được ký sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển hơn nữa. + Sớm thành lập cục xúc tiến thương mại để làm cầu nối giữa Bộ Thương mại, Thương vụ tại các nước với các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài trong việc trao đổi, thu thập thông tin về thị trường cũng như thông tin về hàng hoá nước ngoài. + Trong tiến trình cải thiện môi trường đầu tư và đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phía nhà nước Việt Nam cần hết sức quan tâm tới vốn đầu tư của Nhật Bản vì các nhà đầu tư Nhật khi chuyển sang sản xuất tại Việt Nam sẽ xuất khẩu trở lại Nhật Bản một phần, hoặc có thể toàn bộ sản phẩm của nhà máy họ, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sản xuất tại Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản. Đặc biệt các nhà đầu tư Nhật Bản cũng rất quan tâm đến sự kiện Việt Nam ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ ngày 13/7/2000 và sự kiện Việt Nam đăng cai tổ chức Seagame lần thứ 22 của Đông Nam á. Đây là cơ hội cho các cơ sở đầu tư của họ tại Việt Nam có thể xuất khẩu hàng hoá sang cả thị trường Mỹ và các nước khác giúp cho việc tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung và tạo ra một cơ hội cho việc tiếp thị quảng cáo giới thiệu các sản phẩm mới. Tóm lại, trong xu thế ổn định, hợp tác phát triển của khu vực Châu á - Thái Bình Dương cùng dấu hiệu tích cực trong cải cách phát triển kinh tế ở cả hai quốc gia, với việc phối hợp chặt chẽ triển khai những giải pháp cơ bản nêu trên, chúng ta có thể hy vọng về tương lai rực sáng trong quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới. Kết luận Kể từ khi Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 đến nay, mặc dù có những bước thăng trầm nhưng mối quan hệ giữa hai nước hiện nay đã đạt được những thành tựu đáng kể và tương lai mối quan hệ này có nhiều điều kiện để phát triển hơn nữa. Nghiên cứu mối quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản trong những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ thứ 20 ta thấy có những bước phát triển mạnh mẽ so với thập kỷ trước. Cũng có thể kết luận rằng, từ khi Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam cho tới nay, quan hệ kinh tế Việt – Nhật liên tục phát triển, Việt Nam luôn đạt được thặng dư thương mại với Nhật Bản, cơ cấu của mặt hàng cũng có chuyển biến tích cực góp phần tích cực vào việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế Việt Nam. Qua phần nội dung trên có thể thấy, quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản đã gia tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng. Những thế mạnh của nền kinh tế Việt Nam được phản ánh qua việc Việt Nam xuất khẩu ngày càng nhiều loại hàng hoá vào thị trường Nhật Bản và được thị trường này chấp nhận. Điều đó chứng tỏ rằng hàng Việt Nam đã bước đầu xác lập được vị thế của mình trên thị trường nước này. Những thế mạnh về công nghệ - kỹ thuật của Nhật Bản đã xuất khẩu vào thị trường Việt Nam, được khẳng định qua việc các doanh nghiệp nước ta xuất khẩu ngày càng nhiều các loại hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao sang Nhật Bản và các nước phát triển khác. Một vài năm trở lại đây, nền kinh tế Nhật suy thoái đã làm ảnh hưởng đến tiến trình xuất nhập khẩu giữa hai nước. Trong những năm tới, Việt Nam cần nhiều hơn nưa các nguồn lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý… để phát triển đất nước. Vì vậy, chúng ta cần tận dụng lợi thế trong quan hệ với đối tác Nhật Bản, một có dư thừa về vốn, có trình độ công nghệ cao, phương thức quản lý tiên tiến… Ngoài ra, muốn có chiến lược phát triển đúng đắn trong quan hệ giữa các nước, đòi hỏi phải có cái nhìn lâu dài, về phía Việt Nam chủ yếu là phải thay đổi chính sách, cơ chế quản lý hoạt động ngoại thương theo hướng thông thoáng hơ, phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu hợp tác của Nhật Bản, mặt khác phải nghiên cứu thực tế và có những kiến thức sâu rộng, hiểu biết về nhau cả Việt Nam – Nhật Bản cũng vậy. chúng ta cũng hy vọng rằng với dấu hiệu tích cực của công cuộc khôi phục kinh tế Nhật Bản và khu vực, cùng với quá trình đổi mới của Việt Nam, những kết quả trên sẽ là bước tạo đà quan trọng cho việc gia tăng hơn nữa quan hệ giữa hai nước trong thiên niên kỷ mới này, góp phần vào sự phát triển kinh tế của hai quốc gia cũng như tạo ra bầu không khí hợp tác kinh doanh trong toàn khu vực.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng và giải pháp Quan hệ Thương mai giữa Việt Nam và Nhật Bản.doc
Luận văn liên quan