Thực trạng công tác giám định - Giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay

LỜI MỞ ĐẦU Trong điều kiện nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế gặp rất nhiều rủi ro, kể cả doanh nghiệp bảo hiểm, song đây lại là một cơ hội dành cho các công ty bảo hiểm. Bởi vì, các chủ thể kinh tế có nhu cầu được đảm bảo an toàn hơn bao giờ hết, và lợi ích của bảo hiểm cũng được khẳng định rõ tàng hơn. Ở Việt Nam, đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấy nước thì nền tảng cơ sở hạ tầng đang được tích cực xây dựng. Rất nhiều con đường, cây cầu, rất nhiều nhà ở , xí nghiệp được xây dựng. Mặt khác, khi nhà nước có gói kích cầu hơn một ngàn tỷ USD tập trung vào xây dựng cơ cở hạ tầng, đặc biệt, theo đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam vẫn là một “điểm đầu tư hấp dẫn”, do đó nhu cầu xây dựng trong nước đang trở nên mạnh mẽ, vì thế nhu cầu về bảo hiểm xây dựng cũng trở nên thiết yếu đối với các nhà đầu tư. Mấy năm lại đây, một số công trình xây dựng gặp rủi ro, sập đổ như cầu Cần Thơ, cầu Trung Lương gây ra thiệt hại to lớn về người và của. Và vì thế, chúng ta thấy rõ hơn về vai trò của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng. Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện PTI, em đã có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về nghiệp vụ Bảo hiểm xây dựng, và nhận thấy đây là một loại hình bảo hiểm rất tiềm năng trong khi tỷ lệ doanh thu phí của nghiệp vụ này tại Công ty những năm qua chỉ dao động trong khoảng 3% tổng doanh thu phí bảo hiểm chung. Do đó, em đã quyết định chọn đề tài “thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay”. Nội dung bài báo cáo thực tập tốt nghiệp được chia thành 2 phần: Phần 1:Giới thiệu chung về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện PTI. Chương I: Tổng quan về công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện PTI. Chương II:Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện PTI. Chương III:Một số khuyến nghị và giải pháp. Phần 2: Chuyên đề “thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay”. Chương I : Lý luận chung về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và công tác giám định – bồi thường. Chương II. Thực trạng công tác giám định bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng Chương III. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giám định- bồi thường của nghịêp vụ bao hiểm mọi rủi ro xây dựng MỤC LỤC Số trang LỜI MỞ ĐẦU .1 Phần I: Giới thiệu chung về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI Chương I: Tổng quan về công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện .3 1.1.1 Lịch sử hình thành . .3 1.1.2 Quá trình phát triển . 4 1.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty PTI .6 1.2 Một vài nét về phòng bảo hiểm Dự án . 8 Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI 2.1.Hoạt động kinh doanh của công ty .10 2.1.1Kết quả hoạt động kinh doanh 12 2.1.2 Dự phòng bồi thường 13 2.1.3 Cơ cấu doanh thu bán hàng 13 2.1.4 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch 2009 13 2.2 Hoạt động đầu tư .16 2.2.1 Về hoạt động đầu tư bất động sản .16 2.2.2 Về hoạt động đầu tư góp vốn 16 2.3 Hoạt động hạn chế và đề phòng tổn thất .16 2.4 Giám định và giải quyết bồi thường 17 2.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh năm 2009 17 2.6 Đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty .18 2.6.1 Kết quả đạt được .18 2.6.2 Những điểm còn tồn tại .20 Chương III: Một số khuyến nghị và giải pháp 3.1 Phương hướng hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới 21 3.2 các giải phát nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra . 22 3.3 Kiến nghị với công ty 23 Phần 2: Chuyên đề “thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay”. Chương I : Lý luận chung về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và công tác giám định – bồi thường 1.1. Tổng quan về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng 24 1.1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng 24 1.1.1.2. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng 25 1.1.2. Một số định nghĩa 25 1.1.3. Phạm vi bảo hiểm và công việc bảo hiểm trong nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng 33 1.1.3.1. Bảo hiểm thiệt hại vật chất .33 1.1.3.2. Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba . 35 1.1.3.3. Phạm vi bảo hiểm áp dụng chung cho bảo hiểm thiệt hại vật chất và bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba 36 1.2. Nguyên tắc giám định bồi thường .38 1.2.1 Vai trò của giám định bồi thường 38 1.2.2. Nguyên tắc của giám định bồi thường .40 1.3. Phân biệt bảo hiểm xây dựng với bảo hiểm lắp đặt .41 Chương II: Thực trạng công tác giám định bồi thường của nghiệp vụ Bảo Hiểm mọi rủi ro xây dựng 2.1 Thực trạng công tác giám định- bồi thường trong nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng ở PTI .42 2.1.1. Công tác giám định .42 2.1.1.1. Yêu cầu của công tác giám định 42 2.1.1.2. Quy trình giám định bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI .43 2.1.1.3. Kết quả giám định .44 2.1.2 Công tác bồi thường 46 2.1.2.1. Yêu cầu công tác bồi thường . 46 2.1.2.2 Quy trình bồi thường bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI 47 2.2 Thực trạng công tác đề phòng và hạn chế tổn thất của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng 52 2.3 Đánh giá chung công tác giám định bồi thường nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng tại PTI .54 Chương III. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giám định- bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng 3.1 Một số giải pháp hoàn thiện công tác giám định- bồi thường 55 3.1.1. Về công tác giám định .55 3.1.2. Về công tác bồi thường .56 3.1.3. Về các công tác khác .59 3.2. Một số kiến nghị .60 3.2.1. Đối với PTI 60 3.2.2. Kiến nghị lên hiệp hội bảo hiểm .62 3.2.3 Một số kiến nghị với nhà nước .62 KẾT LUẬN .64

doc58 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 3005 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Thực trạng công tác giám định - Giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
loại trừ áp dụng chung cho bảo hiểm thiệt hại vật chất và bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba : Doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường về thiệt hại vật chất hoặc trách nhiệm đối với người thứ ba gây nên bởi, phát sinh từ hoặc có thể quy cho: 1. Chiến tranh, xâm lược, hành động thù địch của nước ngoài (có tuyên chiến hay không tuyên chiến), nội chiến, bạo loạn, bạo động có thể dẫn đến nổi dậy vũ trang hoặc dành chính quyền; 2. Hành động khủng bố có nghĩa là hành động do một người hay một nhóm người thực hiện đơn độc hoặc nhân danh hoặc có liên quan đến bất kỳ tổ chức hoặc chính phủ nào vì mục đích chính trị, tôn giáo, tư tưởng hoặc các mục đích tương tự bao gồm cả ý đồ gây ảnh hưởng đến bất kỳ chính phủ nào, làm cho dân chúng hoặc bất kỳ bộ phận dân chúng nào lo sợ. Những loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này không bao gồm những tổn thất, thiệt hại, chi phí, phí tổn do bất kỳ nguyên nhân nào trực tiếp hay gián tiếp gây ra bởi, bắt nguồn từ hoặc có liên quan đến bất kỳ hành động nào được thực hiện để kiểm soát, ngăn chặn, dập tắt hoặc có liên quan đến những sự kiện được nêu tại khoản 1 và 2 của Điều này. Nếu căn cứ theo những loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này mà doanh nghiệp bảo hiểm từ chối bồi thường cho tổn thất, thiệt hại, chi phí hay phí tổn theo hợp đồng bảo hiểm, thì Người được bảo hiểm có trách nhiệm chứng minh rằng các tổn thất, thiệt hại, chi phí hay phí tổn đó thuộc trách nhiệm bảo hiểm và không thuộc các trường hợp loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này. 3. Phản ứng hạt nhân, phóng xạ hạt nhân hay nhiễm phóng xạ 4. Hành động cố ý hay sơ suất lặp đi lặp lại của người được bảo hiểm; 5. Ngừng công việc dù là toàn bộ hay một phần; 6. Tổn thất đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy tính, bao gồm: - Tổn thất hay thiệt hại đối với dữ liệu hoặc phần mềm, đặc biệt là bất kỳ sự thay đổi bất lợi nào về dữ liệu, phần mềm hoặc các chương trình máy tính do việc xoá, làm hỏng hoặc làm biến dạng các cấu trúc ban đầu của dữ liệu, phần mềm, chương trình máy tính đó gây ra và mọi tổn thất gián đoạn kinh doanh do có nguyên nhân từ các tổn thất trên trừ các tổn thất hoặc thiệt hại đối với dữ liệu hoặc phần mềm là hậu quả trực tiếp từ một thiệt hại vật chất được bảo hiểm xảy ra đối với phần vật chất của tài sản. - Tổn thất hoặc thiệt hại phát sinh từ việc mất hoặc suy giảm khả năng sử dụng, truy cập các dữ liệu, phần mềm hay các chương trình máy tính và mọi tổn thất gián đoạn kinh doanh có nguyên nhân từ các tổn thất trên. 1.2. Nguyên tắc giám định bồi thường 1.2.1 Vai trò của giám định bồi thường: Thứ nhất: giám đinh bồi thường là một khâu quan trọng trong quá trình triển khai sản phẩm bảo hiểm: Thông thường, triển khai một sản phẩm bảo hiểm được chia thành các giai đoạn: - Thiết kế sản phẩm mới: Thông qua nghiên cứu thị trường và khách hàng, công ty đưa ra các sản phẩm mới nhằm thõa mãn nhu cầu khách hàng. - Khai thác sản phẩm: Khi sản phẩm đã được thiết kế, các nhà bảo hiểm tiến hành tung sản phẩm của mình ra thị trường, cung cấp cho khách hàng thông qua việc ký kết các hợp đồng bảo hiểm. - Đề phòng hạn chế tổn thất: sau khi ký hợp đồng với khách hang, công ty bảo hiểm đã cam kết chi trả bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xẩy ra. Vì vậy, để giảm thiểu số vụ phải bồi thường, số tiền phải bồi thường mỗi vụ, công ty bảo hiểm trích một phần doanh thu phí để tiến hành các công việc nhằm đề phòng hạn chế tổn thất, tăng mức độ an toàn cho đối tượng bảo hiểm, và cả công ty bảo hiểm. - Giám định và bồi thường: là giai đoạn cuối của quá trình triển khai sản phẩm bảo hiểm. Đây là giai đoạn công ty thực hiện cam kết của mình, thể hiện quyền lợi của người tham gia, uy tín của nhà bảo hiểm. Thứ hai: Giám định bồi thường là khâu trực tiếp quyết định tính hấp dẫn của sản phẩm bảo hiểm và mang lại uy tín cho công ty bảo hiểm. Sản phẩm bảo hiểm với đặc tính dễ bắt chước, vì thế trong sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt thì chất lương sản phẩm là công cụ cạnh tranh hữu hiệu. Mặt khác, chất lượng sản phẩm bảo hiểm được khách hàng cẩm nhận chủ yếu thông qua công tác giám định bồi thường. Mong muốn lớn nhất của khách hàng là được giải quyết thỏa đáng và nhanh chóng khi không may cso rủi ro xẩy ra đối với đối tượng mà họ mua bảo hiểm. Do đó, thực hiện tốt khâu này là tăng tính thõa mãn cho khách hàng, tăng tính hấp dẫn của sản phẩm bảo hiểm và mang lại uy tín cho công ty. Thứ ba: Giám định bồi thường là một điều kiện ảnh hưởng đến quyết định tái tục của khách hàng: Chỉ khi nào khách hàng được thõa mãn, cảm thấy hài lòng về chất lượng sản phẩm thông qua công tác giám định, bồi thường có nghĩa là công ty đã có chỗ đứng trong lòng khách hàng. Nhờ đó khách hàng sẽ quay lại với công ty nhiều hon, tức là tỷ lệ tái tục các hợp đồng bảo hiểm sẽ cao hơn, công ty bảo hiểm giữ được khách hàng, tăng uy tín trên thị trường. Thứ tư: Giám định, bồi thường ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của công ty bảo hiểm: Thông qua công tác giám định, công ty lấy kết quả làm cơ sở cho công tác bồi thường. Số tiền bồi thường là một khoản chi phí lớn đối với bất kỳ công ty bảo hiểm nào. Mặt khác, trong công tác giám dịnh bồi thường, rất dễ xẩy ra các hành vi gian lận, trục lợi bảo hiểm. Chỉ khi nào công ty bảo hiểm kiểm soát được công tác giám định và chi phí bồi thường thì các doanh nghiệp mới có thể đảm bảo được mục đích lợi nhuận. Thứ năm: Giám định bồi thường có vai trò quan trọng trong công tác chống trục lợi bảo hiểm: Nếu công tác giám định không tốt, trình độ chuyên môn của cán bộ giám định không cao, thì thường dẫn đến sai sót, tạo điều kiện cho người tham gia gian lận bảo hiểm, làm cho công tác bồi thường sai. Hoặc nếu cán bộ giám định có đạo đức không tốt, có thể gian lận bảo hiểm lại xuất phát từ họ. Từ đó gây thiệt hại cho công ty. 1.2.2. Nguyên tắc của giám định bồi thường - Khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh nghiệp ủy quyền thực hiện giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất, chi phí giám định là do công ty chịu. 1.3. Phân biệt bảo hiểm xây dựng với bảo hiểm lắp đặt CAR EAR Các công trình xây dựng trên công trường Máy móc và thiết bị được sản xuất ở nhà máy và lắp đặt trên công trường Vật liệu chủ yếu là bê tông, đá và cát Chủ yếu là sắt thép Chủ thầu chịu rủi ro chế tạo Nhà sản xuất chịu rủi ro chế tạo Tập trung giá trị thấp Tập trung giá trị cao Nếu giá trị xây dựng > 50 % tổng số tiền bảo hiểm thì cấp đơn bảo hiểm xây dựng (CAR policy) Nếu giá trị lắp đặt > 50 % tổng số tiền bảo hiểm thì cấp đơn bảo hiểm lắp đặt (EAR policy ) Phạm vi của Đơn bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng không bao gồm chạy thử nhưng có thể mở rộng bảo hiểm bằng điều khoản Sửa đổi bổ sung (100). Phạm vi của Đơn bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt bao gồm cả quá trình chạy thử của máy móc, thiết bị lắp đặt CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH BỒI THƯỜNG CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG 2.1 Thực trạng công tác giám định- bồi thường trong nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng ở PTI 2.1.1. Công tác giám định 2.1.1.1. Yêu cầu của công tác giám định - Xác định chính xác nguyên nhân gây ra tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không? - Tính toán chính xác tổn thất thực tế xẩy ra trong tai nạn - Xác định số tiền bồi thường thuộc trách nhiệm bảo hiểm để tạo điều kiện giải quyết bồi thường một cách nhanh chóng, chính xác. - Đề xuất biện pháp ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tổn thất trong tương lai. - Giúp các cán bộ khai thác thực hiện tốt hơn công tác đánh giá rủi ro đối với các nhiệm vụ tương tự 2.1.1.2. Quy trình giám định bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI Sơ đồ quy trình giám định bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng: Bước 1: nhận yêu cầu giám định / thông tin tổn thất Bước 2: xử lý thông tin Bước 3: tiến hành giám dịnh Bước 4: lập /trình duyệt phương án xử lý, khắc phục tổn thất Bước 5:thu thập,hoàn thiện hồ sơ giám định và giám sát khắc phục tổn thất Bước 1 : nhận yêu cầu giám định/thông tin tổn thất - Khi nhận thông báo tổn thất từ NĐBH, cần thu thập các thông tin ban đầu liên quan đến tổn thất theo Phiếu tiếp nhận thông tin (BM.PTI.TS.04.01); - Vào sổ theo dõi tổn thất; - Người được phân công phải lập tức xuống ngay hiện trường (nếu có thể); Thu thập các thông tin ban đầu liên quan đến tổn thất theo mẫu Thông báo tổn thất (BM.PTI.TS..04.02); - Hướng dẫn khách hàng kê khai theo mẫu thông báo tổn thất; - Thông báo lãnh đạo đơn vị và bộ phận liên quan phối hợp giải quyết. bước 2: Xử lý thông tin * Đánh giá sơ bộ tổn thất - Đánh giá sơ bộ tổn thất có (hoặc có khả năng) thuộc trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm hay không? Nếu tổn thất không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì có thể thông báo ngay cho khách hàng để khách hàng có biện pháp thích hợp đối với tài sản của mình tránh tổn thất phát sinh thêm. * Hướng dẫn khách hàng xử lý ban đầu GĐV/NĐPC hướng dẫn khách hàng: - Yêu cầu khách hàng có các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất đồng thời cố gắng giữ nguyên hiện hiện trạng tổn thất để PTI hoặc đại diện của PTI tiến hành giám định. - Thực hiện các biện pháp nhằm bảo lưu quyền đòi người thứ ba của PTI. - Thông báo tổn thất tới các cơ quan chức năng và các bên liên quan. * Tập hợp hồ sơ tài liệu có liên quan đến tổn thất * Xem xét phân cấp - Sau khi tập hợp các hồ sơ tài liệu ban đầu của vụ tổn thất, trên cơ sở đánh giá sơ bộ nguyên nhân và mức độ tổn thất, GĐV/NĐPC xác định tổn thất có thuộc phân cấp của đơn vị hay không và báo cáo lãnh đạo đơn vị hướng xử lý. bước 3: Tiến hành giám định GĐV/NĐPC đề xuất phương án giám định: - Tự giám định - Thuê giám định Lãnh đạo đơn vị (trường hợp tổn thất thuộc phân cấp), lãnh đạo Công ty (trường hợp tổn thất trên phân cấp) căn cứ vào thông tin báo cáo ban đầu và đề xuất của GĐV/NĐPC để quyết định phương án giám định tổn thất. bước4 : Lập/trình duyệt phương án xử lý, khắc phục tổn thất * GĐV/NĐPC đề xuất phương án chi tiết xử lý tổn thất: GĐV/NĐPC trình lãnh đạo xem xét duyệt phương án xử lý tổn thất (BM.PTI.TS.04.09). * Duyệt phương án xử lý tổn thất Lãnh đạo xem xét duyệt phương án xử lý tổn thất. bước 5: Thu thập, hoàn thiện hồ sơ giám định và giám sát khắc phục tổn thất GĐV/NĐPC tiến hành thu thập bổ sung hồ sơ khắc phục tổn thất, chuyển cho bộ phận bồi thường. 2.1.1.3. Kết quả giám định Công tác giám định là một khâu rất quan trọng, công ty PTI luôn chú trọng thực hiện tốt công tác này, để đảm bảo chăm sóc khách hàng tận tình, khách quan, chính xác, khi các công trình mà công ty nhận bảo hiểm gặp rủi ro. Theo thời gian hoạt động, số lượng khách hàng tăng lên, tất yếu số trường hợp khiếu nại bồi thường cũng sẽ tăng lên, vì thế công tác giám định bồi thường càng cần được chú trọng. Bảng 6: Tình hình giám định tai nạn Năm Số vụ tai nạn (vụ) Số tai nạn do PTI giám định (vụ) Số tai nạn thuê giám định độc lập (vụ) Tỷ lệ số tai nạn tự giám định (%) 2004 9 4 5 44.4% 2005 10 3 7 30% 2006 14 6 8 42.9% 2007 17 7 10 41.2% 2008 25 16 9 64% 2009 25 9 16 36% (Nguồn : công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện) Ta thấy, qua các năm, số vụ tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm ngày càng tăng, một phần do số hợp đồng ký kết được qua các năm tăng lên, một phần do đặc thù của đối tượng bảo hiểm là các công trình xây dựng, thời gian thi công thường kéo dài nhiều năm, nên có những năm, rủi ro tích tụ lại và số vụ tổn thất tăng lên rõ rệt. Năm 2007, số vụ tổn thất gần gấp đôi năm 2004, sang năm 2008, số vụ tổn thất là 177,8% năm 2004. Do PTI thường tự giám định những tổn thất ước tính dưới 50 triệu, nên tỷ lệ số tai nạn tự giám định không cao, dưới 45%, còn lại là công ty phải bỏ chi phí thuê giám định độc lập. Chỉ có năm 2008, số tiền bồi thường bình quan một vụ là 42,2 triệu, nên tỷ lệ tự giám định tăng lên 64%. Đồ thị 1 : Tình hình giám định tổn thất Số vụ tai nạn tăng lên, số tai nạn do PTI tự giám định cũng tăng lên. Những tổn thất của nghiệp vụ này nếu trong phân cấp thì phòng nào khai thác, phòng đó tự giám định, nếu trên phân cấp phải trình lên phòng TSKT, nhưng do hiện tại, PTI chưa có phòng giám định độc lập nên năng lực giám định cũng chưa cao. Công ty thường tự giám định những tổn thất ước tính dưới 50 triệu, còn những tổn thất nằm trên mức ấy, doanh nghiệp thuê giám định độc lập. Ta thấy khoảng cách giữa hai đường số vụ tai nạn và đường do PTI giám định ngày càng xa nhau, chứng tỏ số vụ tai nạn mà PTI phải thuê giám đinh độc lập ngày càng tăng. Đường thuê giám định luôn năm trên đường tự giám định, chứng tỏ, công ty còn phải thuê giám định cho hầu hết các vụ tổn thất, trừ năm 2008, tỷ lệ tự giám định của công ty cao hơn tỷ lệ thuê giám định do tổn thất bình quan không cao. Chình việc phải bỏ chi phí để thuê giám đinh độc lập, điều này sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của công ty, công ty cần sớm thành lập phòng chuyên trách giám định- bồi thường. 2.1.2 Công tác bồi thường 2.1.2.1. Yêu cầu công tác bồi thường: - Giải quyết đúng quy định, chế độ Bảo hiểm + Đúng trách nhiệm bảo hiểm: về đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm + Đúng thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra, thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm. - Công ty bảo hiểm tiến hành bồi thường nhanh chóng, kịp thời, có phương án thay thế khi cần thiết, phục vụ khách hàng tận tình, mọi lúc, mọi nơi. 2.1.2.2 Quy trình bồi thường bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI Sơ đồ quy trình bồi thưòng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng bứoc 1:tiếp nhận , kiểm tra và bổ sung hồ sơ bước 2: xét bồi thường bứơc3: phê duyệt bồi thường bước 4: thông báo bồi thường/ từ chối bồi thường bước 5:thực hiện công việc sau bồi thường bước 6: đóng hồ sơ giải quyết bồi thường bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra và bổ sung hồ sơ. - Bồi thường viên tiếp nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường từ bộ phận giám định và/ hoặc từ khách hàng. Hồ sơ yêu cầu bồi thường gồm các chứng từ theo Danh mục hồ sơ giám định, bồi thường (BM.PTI.TS.04.02). - Sau khi tiếp nhận hồ sơ bồi thường từ bộ phận giám định và/hoặc từ khách hàng, bồi thường viên phải ghi giấy biên nhận hồ sơ (BM.PTI.TS.06.01). Biên nhận này phải được lưu 01 bản trong hồ sơ bồi thường, 01 bản được gửi cho giám định viên và/hoặc khách hàng. bước 2: Xét bồi thường * Xác minh phí - Chỉ xem xét khiếu nại khi có xác minh phí bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực sau khi Người được bảo hiểm thực hiện trách nhiệm đóng phí bảo hiểm trừ khi có thỏa thuận bằng văn bản về việc quy định thời hạn thanh toán phí. Trường hợp có vấn đề nảy sinh liên quan đến phí bảo hiểm, cần phải có ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị. * Kiểm tra tính hợp lệ của tổn thất - Người yêu cầu bồi thường phải là người có quyền lợi bảo hiểm theo đơn bảo hiểm/ hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm * Đánh giá trách nhiệm bảo hiểm đối với yêu cầu bồi thường của người được bảo hiểm - Nếu tổn thất được xác định thuộc phạm vi trách nhiệm theo hợp đồng bảo hiểm chuyển sang bước tính toán số tiền bồi thường. * Xác định số tiền bồi thường - Để tính toán chính xác số tiền bồi thường cần phải dựa trên giá trị bảo hiểm của hạng mục tài sản bị tổn thất trên cơ sở thu thập các thông tin như: hóa đơn, chứng từ, sổ sách, hồ sơ quyết toán về giá trị gốc của hạng mục tài sản và chi phí sửa chữa khắc phục tổn thất. * Lập tờ trình bồi thường - Chuyển hồ sơ để kế toán kiểm tra lại chứng từ, số tiền bồi thường và thực hiện dự phòng thanh toán với khách hàng (yêu cầu kế toán ký xác nhận vào tờ trình bồi thường). Trên tờ trình ghi rõ ngày giao/ngày nhận giữa kế toán với nghiệp vụ. Nếu vụ tổn thất đã thực hiện giám định (thuê ngoài và/hoặc tự giám định) mà chưa xác định rõ chi phí thì sẽ trình duyệt sau. Chi phí giám định phải hạch toán vào chi phí giải quyết tổn thất không được hạch toán vào nguồn chi phí quản lý. bước 3: Phê duyệt bồi thường * Đối với tổn thất trên phân cấp - Hồ sơ tổn thất trên phân cấp phát sinh ở giai đoạn ở giai đoạn bồi thường. Do phương án sửa chữa đề xuất tại thời điểm giám định không thực hiện được hoặc do biến động tỷ giá làm tăng chi phí khắc phục thiệt hại nên dẫn đến số tiền tổn thất vượt phân cấp của đơn vị. * Đối với tổn thất trong phân cấp - Trình bồi thường kèm theo toàn bộ tài liệu có liên quan để lãnh đạo bộ phận ký vào tờ trình bồi thường. Sau đó, trình lãnh đạo đơn vị ký duyệt bồi thường theo phân cấp. - lãnh đạo xem xét và có ý kiến về việc bồi thường theo phân cấp bước 4: Thông báo bồi thường/từ chối bồi thường * Thông báo bồi thường - Khi có quyết định về số tiền bồi thường, bồi thường viên gửi cho khách hàng thông báo bồi thường (BM.PTI.TS.06.05), đề nghị khách hàng xác nhận bãi nại, bảo lưu và thế quyền đòi người thứ ba cho PTI (nếu có) . * Thông báo từ chối bồi thường - Liên hệ với khách hàng giải thích lý do từ chối bồi thường. Nếu cần thiết có thể tổ chức họp với khách hàng để giải thích lý do từ chối bồi thường. * Thanh toán bồi thường - Vào sổ theo dõi giải quyết bồi thường (BM.PTI.TS.06.07) - Phòng kế toán thực hiện thủ tục theo quy định để chuyển trả tiền bồi thường cho khách hàng và phí giám định. Trường hợp trình phí giám định sau bồi thường, thì thủ tục thanh toán phí giám định cũng giống như thanh toán bồi thường. Lưu ý: Cam kết về thời hạn thanh toán của PTI với khách hàng bước 5: Thực hiện công việc sau bồi thường * Thu hồi bồi thường tái bảo hiểm Đối với tổn thất thuộc trách nhiệm bồi thường có liên quan đến nhà nhận tái bảo hiểm thì đơn vị phải gửi về Công ty 01 bộ hồ sơ pho to sao y bản chính. - Thông báo thu phí giám định (nếu có) * Đòi người thứ ba Đối với hồ sơ bồi thường có liên quan đến việc đòi người thứ ba sẽ được quy định theo Quy trình đòi người thứ ba. * Thanh lý tài sản - Trong trường hợp có tài sản thu hồi sau bồi thường, bộ phận thực hiện công tác giám định – bồi thường thu hồi và bàn giao tài sản và các tài liệu liên quan cho Phòng tài chính -kế toán đơn vị/Công ty. - Phòng tài chính – kế toán đơn vị/Công ty là đơn vị đầu mối thực hiện xử lý tài sản sau bồi thường theo quy định tài chính của công ty * Thống kê và báo cáo Bồi thường viên làm thống kê và báo cáo theo quy trình của nghiệp vụ - kỹ thuật * Kiến nghị Trong quá trình giải quyết bồi thường, bồi thường viên luôn theo dõi và phân tích các tiêu chí sau : - Loại tổn thất theo loại đối tượng tài sản, nguyên nhân tổn thất thường gặp - Đối tượng khách hàng/ngành nghề kinh doanh/địa bàn hoạt động. - Trên cơ sở đó có ý kiến phản ánh, đề xuất với ban lãnh đạo về việc sửa đổi các quy định nghiệp vụ, điều kiện điều khoản bảo hiểm và các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất. Mọi kiến nghị gửi về Phòng tài sản kỹ thuật để tập hợp và xem xét trước khi trình Ban lãnh đạo Công ty bước 6: Đóng hồ sơ giải quyết bồi thường - Hồ sơ được đóng sau khi tiến hành thanh toán bồi thường và có xác nhận đã thu đòi Tái bảo hiểm/đồng bảo hiểm, người thứ ba, thanh lý tài sản (tuỳ trường hợp nếu có). Kết quả bồi thường của nghiệp vụ: Sau khi giám định, nếu tổn thất thuộc trách nhiệm của PTI, công ty tiến hành bồi thường cho khách hàng. Kết quả bồi thường được thể hiện qua bảng sau: Bảng 7: STBT nghiệp vụ CAR qua các năm 2004-2009 (đơn vị: tỷ đồng) Năm Số vụ bồi thường STBT STBT bình quân Doanh thu phí (triệu) Tỉ lệ BT/DT (%) Số vụ Tăng trưởng (%) STBT (triệu) Tăng trưởng (%) BQ (triệu) Tăng trưởng (%) 2004 9 - 679 - 75,4 - 7.520 9 2005 10 11.11 804 18,4 80,4 6,6 8.878 9,1 2006 14 40 1.205 48,9 86,1 7,1 11.999 10 2007 17 21,43 1.890 56,8 111,20 29,2 14.531 13 2008 25 47 1.055 42,17 42,2 -62,1 17.367 6,1 2009 25 0 2.294 117,4 91,8 117,5 27.634 8,3 (Nguồn: công ty bảo hiểm bưu điện) Nhìn vào bảng ta thấy, số vụ công ty phải bồi thường tăng qua các năm, và số vụ tai nạn của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng xẩy ra đều thuộc phạm vi bảo hiểm của công ty. Năm 2006, số vụ phải bồi thường tăng 40% so với năm 2005 tương ứng với 4 vụ, năm 2008 tăng nhiều nhất- 8 vụ so với 2007, tăng 47%. Năm 2009 không tăng vụ tổn thất nào so với 2008. Số tiền bồi thường qua các năm cũng tăng lên theo số vụ tai nạn, nhưng ngược lại so với số vụ tổn thất, năm 2008 tăng trưởng 47%, nhưng số tiền bồi thường lại giảm 42,17%; do số tiền bồi thường bình quân thấp là 42,2 triệu so với 2008 là 111,2 triệu. Năm 2009, nếu số vụ tổn thất tăng 0, thì số tiền bồi thường lại tăng mạnh 117,4%, bởi vì số tiền bồi thường bình quân cao, 91,8 triệu với 2008 là 42,2 triệu. Điều đó chúng tỏ, những tổn thất xẩy năm 2009 nghiêm trọng hơn nhiều so với 2008. Công ty cũng phải xem xét lại chất lượng các hợp đồng mới ký kết và công tác quản trị rủi ro của những hợp đồng ký kết ở các năm trước. Biểu đồ 1: Doanh thu phí và STBT của nghiệp vụ CAR năm 2003-2009 Nhìn vào biểu đồ , ta cũng thấy được lợi nhuận của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng tăng nhanh qua các năm, khi mà doanh thu phí cảu nghiệp vụ này tăng nhanh, tăng mạnh, còn số tiền bồi thường- khoản chi lớn nhất- lại tăng lên với số tuyệt đối không cao. Do đó, đóng góp của nghiệp vụ này vào trong tình hình hoạt động của công ty ngày một lớn hơn, vì thế công ty cần có chiến lược phát triển nghiệp vụ này, đặc biệt khi tiềm năng phía trước còn đang rất lớn. 2.2 Thực trạng công tác đề phòng và hạn chế tổn thất của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng - Nguy cơ cháy nổ trên công trường: Đây là nguy cơ thường xuyên xảy ra do quá trình thi công có sử dụng nhiệt, lưu kho các vật liệu dễ cháy hay do kỷ luật lao động không tốt, quản lý không tốt dẫn đến cháy nổ do dùng lửa trong sinh hoạt của công nhân. Để đảm bảo chủ thầu thực hiện tốt công tác PCCC trên công trường, Khai thác viên nên áp dụng điều khoản: Sửa đổi bổ sung 112 quy định các điều kiện đặc biệt liên quan đến các thiết bị PCCC, điều kiện cho các công việc sử dụng nhiệt, bố trí trông coi (house keeping), bố trí nơi chứa nguyên vật liệu - Nguy cơ động đất: Ở Việt Nam nguy cơ xảy ra động đất được phân theo các khu vực với mức độ nhạy cảm khác nhau . Do đó, để đảm bảo thiết kế đủ an toàn cho động đất, áp dụng điều khoản Sửa đổi bổ sung 008 hoặc loại trừ tổn thất do động đất (SĐBS 009). * Phải quy định giới hạn phụ khi áp dụng Sửa đổi bổ sung 008. - Nguy cơ về mưa, bão, lũ lụt: Đây là nguy cơ phổ biến nhất, do đó, Khai thác viên lưu ý lựa chọn, áp dụng các điều khoản Sửa đổi bổ sung sau: + Tiến độ thi công (005): Không bồi thường cho những tổn thất phát sinh do thực hiện sai tiến độ thi công hoặc kéo dài thời gian thi công hơn khoảng thời gian quy định trong điều khoản này; + Lều và kho chứa hàng (107): Quy định lán trại và kho đặt cao hơn mực nước cao nhất trong vòng 20 năm; + Vật liệu xây dựng (109): Quy định việc cất trữ vật liệu xây dựng ở nơi an toàn, không bị đe doạ bởi lũ lụt trong 20 năm; hoặc + Loại trừ tổn thất do mưa lớn, lũ lụt (010). * Phải quy định giới hạn phụ khi áp dụng Sửa đổi bổ sung 107, 109. - Bất cẩn: Xem xét và đánh giá kinh nghiệm của các nhà thầu, trình độ của công nhân, kỹ thuật áp dụng, kỷ luật lao động,… - Tài sản của bên thứ ba: Một số nguy cơ tổn thất đối với tài sản của bên thứ ba thường gặp có thể được bảo hiểm hoặc loại trừ như sau: + Các công trình ngầm (102): Bảo hiểm cho tổn thất đối với các công trình ngầm sẵn có tại khu vực thi công (Không bảo hiểm cho tổn thất hậu quả) với điều kiện chủ thầu đã có sơ đồ mạng cáp, đường ống ngầm và đã tiến hành các biện pháp cần thiết để đề phòng, hạn chế tổn thất cho các công trình ngầm này trong khi thi công; + Chấn động và suy yếu kết cấu chịu lực công trình (120): Bảo hiểm cho các tổn thất lún, nứt hay sụp đổ những công trình kiến trúc xung quanh công trường. Thực tế cho thấy khả năng tổn thất trong trường hợp xây dựng, lắp đặt các công trình trong khu vực dân cư là rất cao, do đó Khai thác viên phải tiến hành giám định hoặc thuê giám định hiện trạng những công trình kiến trúc xung quanh công trường kỹ lưỡng trước khi áp dụng điều khoản này; + Loại trừ tổn thất đối với mùa màng và cây trồng theo SĐBS 103: Một số trường hợp trong quá trình thi công, chủ thầu sử dụng các chất liệu, vật liệu gây ô nhiễm không khí hoặc nguồn đất, nguồn nước dẫn đến thiệt hại đối với cây trồng ở khu vực xung quanh. Ví dụ: Trong quá trình làm đường, chủ thầu đun nóng nhựa đường ở ngoài trời tạo ra rất nhiều khói, bụi gây thiệt hại cho cây nông nghiệp của bà con nông dân ở xung quanh. Ngoài ra khi đánh giá rủi ro cần chú ý - Đối với các công trình có kết cấu không quá phức tạp như: Xây dựng nhà chung cư, văn phòng, siêu thị, đường xá,… Khai thác viên có thể tự đánh giá rủi ro và đưa ra nhận định của mình, trên cơ sở đó xác định mức phí bảo hiểm và các điều kiện, điều khoản cho phù hợp; - Đối với những công trình có tính chất phức tạp như: Xây dựng cầu, lắp đặt nhà máy thuỷ điện, xi măng,… Khai thác viên trên cơ sở các thông tin sơ bộ có thể báo cáo Lãnh đạo Đơn vị thuê các đơn vị giám định độc lập tiến hành giám định và đánh giá rủi ro; - Một số trường hợp bắt buộc phải tiến hành giám định trước khi cấp Đơn bảo hiểm như xây dựng cao ốc trong khu vực đông dân cư, dự án cải tạo hay mở rộng những nhà máy có sẵn với giá trị lớn,…; 2.3 Đánh giá chung công tác giám định bồi thường nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng tại PTI Qua các phân tích trên, ta có thể thấy công tác giám định- bồi thường có vai trò rất quan trọng trong kinh doanh bảo hiểm nói chung và trong nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng nói riêng. Tình hình biến động của chi bồi thường sẽ ảnh hưởng đến biến động của lợi nhuận. Công ty đã có sự cố gắng lớn trong công tác giám định tổn thất, nhưng do hiện tại công ty chưa có phòng giám định- bồi thường chuyên trách nên tỷ lệ tự giám định còn đang thấp, và chât lượng giám định cũng chưa cao. Công tác giám định bồi thường ở PTI trong những năm qua đã đạt được những thành công nhât định và đạt được kết quả đáng khích lệ, đặc biệt trong điều kiện nhiều biến động như thời gian qua. Tỷ lệ bồi thường trên doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng luôn ở tỷ lệ thấp, năm cao nhất là năm 2007, tỷ lệ 13%, năm thấp nhất là năm 2008, tỷ lệ 6,1%. Với tỷ lệ bồi thường thấp, doanh nghiệp có thể đấy mạnh khai thác các hợp đồng mới có chất lượng, tiến hành phòng ngừa rủi ro cho các công trình đang được công ty bảo hiểm. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH- BỒI THƯỜNG CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG 3.1 Một số giải pháp hoàn thiện công tác giám định- bồi thường 3.1.1. Về công tác giám định Đối với công tác giám định thì phải có các biện pháp để giám định nhanh chóng nhất. Muốn vậy công tác giám định cần phải có các giải pháp sau: Thứ nhất: Tăng cường đội ngũ giám định viên bảo hiểm cả về số lượng và chất lượng. Để phục vụ tốt nhất khách hàng, công ty cần tăng cường đào tạo thêm đội ngũ giám định viên bảo hiểm. Ngoài ra phải đào tạo thêm về nghiệp vụ giám định cho các cán bộ các phòng khu vực để ngoài nhiệm vụ Thứ hai: Năng cao nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức cho các cán bộ giám định. Để chất lượng công tác giám định ngày một nâng cao, đội ngũ giám định viên không những cần đông đảo mà còn cần phải có năng lực chuyên môn nghiệp vụ vững chắc. Mấy năm lại đây, số vụ tai nạn xẩy ra ngày càng nhiều hơn, mỗi vụ lai có những tình huống phức tạp riêng, nhiều vụ tai nạn xây dựng thiếu minh bạch. Bên cạnh đó, hành vi cố ý gian lận, trực lợi bảo hiểm ngày càng tăng với nhiều hành vi, thủ đoạn tinh vi, đòi hỏi giám định viên phải hiểu biết thực tế, có chuyên môn về bảo hiểm và cả về xây dựng. Đây là một đòi hỏi rất khó khăn, bởi vì đặc điểm của ngành xây dựng là rất phức tạp, mang tính kỹ thuật sâu sắc, gây khó hiểu cho những người không được đào tạo chính quy. Ngoài ra, giám định viên còn phải có khả năng phán đoán các tình huồng xẩy ra và có kiến thức về giám định tổng hợp. Với sự ra đời ngày càng nhiều công ty bảo hiểm, thì giám định viên chính là vũ khí quan trọng để công ty cạnh tranh, thu hút khách hàng về phía mình. Vì thế công ty cần thiết phải thành lập ngay phòng giám định- bồi thường, và thường xuyên tổ chức lớp đào tạo, huấn luyện năng cao trình độ nghiệp vụ cho giám định viên. Cử một số giám định viên đi học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài; mời các chuyên gia giỏi về xây dựng đội ngũ giám định viên có chất lượng cao. Bên cạnh đó, công ty phải thường xuyên tuyển mộ, thu hút các giám định viên có năng lực về làm việc cho công ty. Công ty cũng phải có chế độ ưu đãi, thưởng phạt công minh, kịp thời đối với đội ngũ giám định viên, từ đó năng cao tinh thần tự giác, đạo đức nghề nghiệp của giám định viên. Thứ ba: Thuê giám định độc lập trong trường hợp cần thiết. Trong nhiều trường hợp, tai nạn xảy ra có tổn thất quá lớn, tình huống có nhiều phức tạp, mang tính kỹ thuật nhiều, giám định của công ty không đủ năng lực để giám định , công ty phải thuê giám định độc lập. Thực tế hầu hết khi các rủi ro xây dựng xẩy ra, công ty đều phải thuê giám định độc lập. Thứ tư: Đưa công nghệ vào công tác giám định. Đứng trước tình hình ngày càng phức tạp của các công trình xây dựng, sự khó khăn trong công tác giám định, công ty cần phải áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong công tác giám định để công tác giám định gặp ít sai sót nhất, nhất là khi xu hướng trục lợi ngày càng trở nên tinh vi hơn. Thứ năm: Một số giải pháp khác. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng có liên quan đến công trình để có thể giám định chặt chẽ và toàn diện. Trong quá trình thi công công trình, công ty phải thường xuyên cho người giám sát công trình, nhất là các bước thi công quan trọng. Xem xét công trình có vi phạm các quy tắc về xây dựng và bảo hiểm không. Công ty phải có quy chế rõ ràng trong việc xử phạt các hành vi gian lận từ phía các giám định viên, cũng như các chế tài xử phạt vi phạm từ phía người tham gia bảo hiểm. 3.1.2. Về công tác bồi thường Công tác bồi thường là khâu quan trọng nhằm hoàn thiện sản phẩm bảo hiểm. Vì bảo hiểm là sự cam kết chi trả, bồi thường nên hoạt động bồi thường thể hiện chất lượng sản phẩm, thể hiện uy tín và tính chuyên nghiệp của công ty bảo hiểm. Vì vậy, công tác bồi thường phải được thực hiện nhanh chóng, chính xác, vừa thỏa mãn được khách hàng, vừa đảm bảo được lợi nhuận cho công ty: Thứ nhất: Đào tạo năng cao chất lượng cán bộ bồi thường. Trình độ cán bộ bồi thường rất quan trọng trong việc giám đinh- bồi thường một cách nhanh chóng. Chỉ có nắm vững chuyen môn nghiệp vụ, thì cán bộ giám định- bồi thường mới hướng dẫn khách hàng hoàn thành hồ sơ một cách nhanh chóng nhất, giảm đi những phiền hà tốn kém cho khách hàng. Chỉ có nắm cũng chuyên môn nghiệp vụ thì cán bộ bồi thường mới tính toán chính xác, hợp lý số tiền bồi thường, đồng thời phát hiện và loại bổ những hồ sơ không hợp lệ, kiểm tra những hồ sơ có nghi vấn. Việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, còn làm nâng cao tinh thần, trách nhiệm và đạo đức trong công việc của cán bộ bồi thường. Thứ hai: Biện pháp tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến cho mọi người về bảo hiểm và vai trò của bảo hiểm, cũng như các biện pháp đối phó với rủi ro. Khi các chủ thầu, nhà đầu tư hay công nhân thi công hiểu rõ về bảo hiểm, về các biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro thì sẽ có các biện pháp tích cực hơn trong hạn chế tai nạn. Thứ ba: Biện pháp ổn định chi trả một cách hợp lý Đối với công tác giải quyết bồi thường, về phía công ty, yếu tố quan trọng nhất là nhằm hạn chế số tiền bồi thường. Do tai nạn xẩy ra bất ngờ không lường trước được, nên tuy người ta có thể ước lượng được xác suất của môt rủi ro dựa trên quy luật số lớn song không thể biết được nó xẩy ra lúc nào. Vì thế, có lúc số vụ tai nạn xẩy ra một cách dồn dập, khi đó số tiển bồi thường của công ty sẽ rất lớn, và công ty khó có thể đảm bảo được khả năng thanh toán, đó là một rủi ro của công ty. Vì thế công ty cần có những biện pháp hạn chế tổn thất để hạn chế rủi ro: - Công ty có các hướng dẫn về các biện pháp đề phòng bạn chế tổn thất, có các khẩu hiệu về đề cao tính an toàn trong xây dựng. - Như thường xuyên tiến hành thanh kiểm tra các hoạt động đảm bảo an toàn lao động, các biện pháp hạn chế rủi ro mà công trường thi công đang thực hiện - Có những biện pháp giảm phí thích hợp cho những người tham gia bảo hiểm có ít kiếu nại, ít tổn thất và cũng có những biện pháp thích hợp với những đối tượng có tiển lệ xấu. Thứ tư: Biện pháp tránh tồn đọng hồ sơ: Mặc dù nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng có số vụ tai nạn ít, nhưng mỗi vụ tai nạn xẩy ra lại rất phức tạp, công tác giải quyết bồi thường lại thường phải kéo dài, thậm chí là nhiều năm. Chính vì thế vừa ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình, ảnh hưởng đến tất cả các bên liên quan đến công trình, vừa ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh và tên tuổi của công ty. Do đó, công ty phải có các biện pháp tránh tồn đọng hồ sơ bồi thường: - Đảm bảo công tác giám định nhanh chóng, chính xác, cung cấp đầy đủ hồ sơ cho bộ phận giải quyết bồi thường. - Hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng bước trong quá trình thu thập hồ sơ, chứng từ có liên quan tới tai nạn, để giải quyết bồi thường nhanh chóng, đầy đủ. - Với các tai nạn xẩy ra so với đơn vị đã ký hợp đồng, công ty cần có các biện pháp thích hợp để giải quyết nhanh chóng cho khách hàng, sau đó tiến hành chi trả nội bộ. Thứ năm: Biện pháp tránh trục lợi bảo hiểm: - Tiến hành điều tra khẩn trương, giữ bí mật về công tác điều tra. Phải tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau để có thể sàng lọc những tình tiết hợp lý, hay không hợp lý trong sự kiện bảo hiểm đó. - Công ty phải có các chế tài xử phạt thích đáng cho các hành vi cố tình gian lận, trục lợi bảo hiểm của cả bên tham gia bảo hiểm và cả bên gián định- bồi thường. Thứ sáu: Biện pháp tái bảo hiểm để san sẻ rủi ro: Để đảm bảo được khả năng chi trả bồi thường cho mỗi vụ tỏn thất xẩy ra- với số tiền bảo hiểm và số tiền bồi thường chắc chắn lớn- công ty nhất thiết phải có một nghiệp vụ rất quan trọng: đó là tiến hành tái các hợp đồng bảo hiểm xây dựng ký kết được, chỉ trừ một số hợp đồng công ty có thể tự đảm bảo được. Để công tác tái được diễn ra một cách suôn sẻ và chắc chắn, tránh trường hợp công ty đã ký được hợp đồng bảo hiểm gốc nhưng không ký được hợp đồng tái, công ty cần thiết phải ký hợp đồng tái bảo hiểm cố định với công ty nhận tái có tiềm lực và được tin cậy. 3.1.3. Về các công tác khác: Ngoài những giải pháp trên, để hoàn thiện hơn công tác giám định - bồi thường, công ty cũng cần phải quan tâm đến một số giải pháp sau: - Xác minh lại ngày giờ xẩy ra tai nạn, hiệu lực bảo hiểm còn hợp lý không. Do đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng thường rất lớn, khi tai nạn xẩy ra nhà bảo hiểm thường biết được ngay, nên thường không phải xác minh ngày giờ. Vì thế công ty chỉ cần tập trung chủ yếu vào xác minh hiện trường, xác minh các lời khai của các bên liên quan. + Xác minh tại hiện trường dựa vào những tàn tích còn lại, phán đoán các lý do, dự đoán thiệt hại… + Xác minh dựa trên lời khai của các bộ phận làm việc trên công trường. + Xác minh dựa trên lời khai của dân cư, cơ quan xung quanh công trường, tìm hiểu xem họ có phản ánh gì về công trường hay không? - Thường xuyên cập nhật tin tức, giá cả thị trường các nguyên vật liệu xây dựng, để có thể xác định được thiệt hại một cách đúng giá, và có phương án bồi thường hợp lý. - Bên cạnh đó, công ty phải giám sát chặt chẽ công tác giám định tổn thất, các bộ phận khác của công ty có liên quan, bằng cách thanh tra nội bộ. - Trang bị công nghệ cho công tác giải quyết bồi thường, công ty đã thực hiện nối mạng giúp cho công tác truyền tin được nhanh chóng, chính xác, an toàn. Công ty phải có các lớp huấn luyện tin học cho nhân viên, để họ sử dụng máy thành thạo và nhanh hơn. Hiện các công tác theo dõi bồi thường đều được thực hiện và lưu số liệu trên máy. 3.2. Một số kiến nghị 3.2.1. Đối với PTI 3.2.1.1. Về quản lý: - Thành lập phòng giám định- giải quyết bồi thường: Khi thành lập phòng chuyên trách về giám định- giải quyết bồi thường thì công tác giám định, bồi thường sẽ được tiến hành một cách chuyên nghiệp hơn. Phòng giám định- giải quyết bồi thường sẽ có chức năng: + Kiểm tra, hướng dẫn các phòng về công tác giám định bồi thường theo phân cấp. + Yêu cầu các phòng có liên quan phối hợp để tiến hành công tác giám định bồi thường được diễn ra nhanh chóng, chính xác. + Được quyền giám định và bồi thường theo phân cấp Phòng giám định, bồi thường phải có nhân viên thường trực cả trong ngày nghỉ để bất cứ lúc nào có thông báo rủi ro, nhân viên thường trực có thể thông báo cho giám định viên tiến hành công việc nhanh chóng, tạo tâm lý tốt cho khách hàng. - Có cơ cấu quản lý đồng bộ thống nhất giữa các phòng để nâng cao hiệu quả công tác giám định- bồi thường: Sau khi đã thành lập được phòng giám định- bồi thường và có đội ngũ giám định viên đông đảo, có trình độ thì công ty phải tiến hành tổ chức và phân cấp công việc cho hợp lý và đồng bộ. Phân công lịch công tác đấy đủ cho các giám định viên và thường trực viên, để bất cứ lúc nào khách hàng gọi đều có thể phục vụ tốt nhất. - Khuyến khích các cán bộ làm việc nhiệt tình, hiệu quả trên cơ sở hiệu quả công việc. Vì giám định là một khâu rất quan trọng trong kinh doanh sản phẩm bao hiểm, đồng thời nó cũng là một khâu chiếm nhiều thời gian, phức tạp khó khăn nhất nên cần có các biện pháp khuyến khích như thưởng, tăng lương cho những người làm việc trong ngày nghỉ… bên cạnh những hình phạt nghiêm minh. - Công ty phải thành lập ban kiểm tra, thanh tra cho công tác giám định bồi thường: Công tác giám định bồi thường ảnh hưởng lớn đến uy tín công ty nên công ty cần phải tiến hành thanh kiểm tra công tác này. Ban kiểm tra, thanh tra phải chịu trách nhiệm giám sát và kiểm tra việc giám định bồi thường ở những vụ tổn thất lớn. 3.2.1.2. Về nhân sự: - Tăng cường đội ngũ giám định- bồi thường. Để có thể thực hiện mô hình quản lý thông qua đường dây nóng của phòng giám định bồi thường, công ty cần có một đội ngũ nhân viên đông đảo. Luôn có những nhân viên sẵn sàng phục vụ khách hàng bất cứ lúc nào. Ngoài đội ngũ giám định, bồi thường chuyên nghiệp, công ty cần có đội ngũ giám định, bồi thường viên ở các phòng riêng biệt, để có thể giải quyết các rủi ro trong phân cấp. - Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các giám định, bồi thường viên: Để chất lượng công tác giám định bồi thường được tốt thì chỉ với một đội ngũ đông đảo thôi chứ đủ, mà cần phải có căng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tế và đạo đức nghề nghiệp. Khi các vụ tai nạn xẩy ra ngày càng nhiều, tình tiết phức tạp, hành vi gian lận tinh vi, thì các giám định viên phải có khả năng phán đoán và khả năng giám định tổng hợp. Có thế mới tiến hành giám định nhanh chóng chính xác được. Để có được đội ngũ giám định, bồi thường viên này, công ty phải có kế hoạch tuyển chọn kỹ càng, thường xuyên mở lớp đào tạo nghiệp vụ, có chế tài xử phạt, khen thưởng hợp lý. - Hướng dẫn khai thác viên làm tốt công tác đánh giá rủi ro ban đầu: Khai thác viên là người tìm kiếm hợp đồng cho công ty, và chất lượng hợp đồng sẽ quyết định đến công tác giám định- bồi thường sau này. Nếu khai thác viên đánh giá tốt rủi ro của từng công trình khai thác sẽ hạn chế được những tổn thất xẩy ra, nâng cao hiệu quả kinh doanh cảu công ty. 3.1.1.3. Về cơ sở vật chất kỹ thuật: - Đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ công tác giám định bồi thường: Trước thực tế tình hình trục lợi phức tạp, công nghệ thi công công trình ngày càng mới mẻ, công ty cần phải đầu tư trang thiết bị, máy móc kỹ thuật vào trong công tác giám định bồi thường. Dụng cụ và trang thiết bị càng tinh vi hiện đại thì kết quả giám định- bồi thường sẽ càng chính xác. 3.1.1.4. Về kỹ thuật giám định- bồi thường: - Kết hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng để thực hiện công tác giám định nhanh chóng, chính xác. Thu thập tin tức từ nhiều phía để tránh sai sót trong giám định, và ngăn chặn các hành vi trục lợi. - Tiến hành giám định- bồi thường nhanh chóng, chính xác. Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, giám định bồi thường viên cần nhanh chóng có mặt tại công trình để tiến hành giám định tổn thất. Công tác giám định bồi thường cần tiến hành sao cho thuận lợi nhất, ít gây phiền hà nhất cho người tham gia bảo hiểm nhưng phải đảm bảo không bị trục lợi bảo hiểm. 3.2.2. Kiến nghị lên hiệp hội bảo hiểm: - Tạo một thị trường bảo hiểm cạnh tranh lành mạnh: Hiệp hội cần có những tác động điều chỉnh thị trường, giúp các doanh nghiệp cùng hợp tác và phát triển. Tổ chức hội nghị giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm học hỏi kinh nghiệm, tạo mối quan hệ thông tin giữa các bên. Khi các doanh nghiệp có mối qua hệ chặt chẽ với nhau, thì khách hàng khó có thể trục lợi bảo hiểm trong quá trình giám định bồi thường, đặc biệt qua bảo hiểm trùng. Các công ty có mối quan hệ với nhau, có thể giúp đỡ nhau về phương tiện, giám đinh hay bồi thường hộ… - Tạo điều kiện cho các cán bộ bảo hiểm được học hỏi, nghiên cứu chuyên sâu: Hiệp hội nên thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo cho các cán bộ đại diện của tất cả các công ty. Mời các chuyên gia nước ngoài đến truyền đạt kinh nghiệm…. - Thay mặt các doanh nghiệp đề xuất với bộ tài chính sửa đổi và hoàn thiện các văn bản, quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm. 3.2.3 Một số kiến nghị với nhà nước: - Hoàn hiện luật kinh doanh bảo hiểm: Nhà nước cần có những quy định chặt chẽ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các quy đinh về các khâu từ khai thác cho đến giám định, bồi thường. Nhà nước cũng cần có quy định cụ thể về các trường hợp cố tình trục lợi bảo hiểm. Hành vi trục lợi bảo hiểm là hành vi cố ý lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nên không chỉ dừng lại ở xử phạt về tài chính, mà còn phải xử phạt theo luật hình sự. - Tạo sự thồng nhất giữa các ban ngành và phối hợp giữa các công ty bảo hiểm: Trong công tác giám định bồi thường, luôn luôn có liên quan tới các cơ quan chức năng. Việc công ty bảo hiểm có thể tiến hành giám định bồi thương nhanh chóng chính xác được hay không còn phụ thuộc vào các cơ quan đó. Đối với nghiệp vụ Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, bộ xây dựng đóng vai trò là một cơ quan hữu quan quan trọng, Bộ tài chính cần có sự thống nhất với bộ cây dựng trong công tác khai thác nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và công tác giám định bồi thường của nghiệp vụ này. - Giáo dục và tuyên truyền: Nhà nước cần tuyên truyền rộng rãi vai trò của bảo hiểm. KẾT LUẬN Trong khi nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng cơ bản ngày càng cao, nhu cầu về bảo hiểm xây dựng cũng vì thế mà thiết yếu hơn. Trong các khâu của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dưng, khâu giám định bồi thường là khâu quan trọng nhất, là khâu chứng minh cho khách hàng thấy chất lượng sản phẩm, uy tín của công ty trong những cam kết bảo hiểm. Công tác giám định bồi thường cũng quyết định đến lợi nhuận, ảnh hưởng tới khả năng tài chính của công ty. Vì thế công tác giám định bồi thường luôn được công ty bảo hiểm quan tâm, để đưa hoạt động trở nên chuyên nghiệp hơn. Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề, em chỉ tiếp cận được một số khía cạnh của vấn đề. Hi vọng rằng một số ý kiến của em trong chuyên đề có thể giúp ích cho Công ty và những người muốn tìm hiểu về loại hình bảo hiểm này. Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Công ty Cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện cũng như các anh các chị phòng bảo hiểm kinh doanh Dự Án đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian em thực tập ở đây. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.s Lục Mạnh Hiển đã tận tình giúp em hoàn thành chuyên đề một cách hoàn chỉnh nhất. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.PGS.TS Nguyễn Văn Định, Bảo hiểm thương mại,Nhà xuất bản Lao động xã hội 2007 2.Báo cáo tổng hợp kinh doanh công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện năm 2004-2009 3. Báo cáo tổng kết cuối năm của Hội Sở Giao Dịch năm 2009 4. www.baoviet.com.vn NHỮNG TỪ VIẾT TẮT PTI : Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện XD : Xây dựng BH : Bảo hiểm TSKT : Tài sản kỹ thuật CAR: Bảo hiểm xây dựng EAR : Bảo hiểm lắp đặt NĐBH : Người được bảo hiểm HÀNG VCNĐ : Hàng vận chuyện nội địa STBT : Số tiền bồi thường GĐV/NĐPC : Giám định viên hoặc người được phân cấp CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP Họ và tên người nhận xét: Trần Mạnh Hùng Chức vụ : Trưởng phòng kinh doanh bảo hiểm dự án Nhân xét báo cáo thực tập của: Sinh viên: Trịnh Thị Bích Hồng Lớp : Đ2BH1 : khóa 2 trường Đại Học Lao Động Xã Hội Đề tài: “Thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay”. Trong thời gian thực tập từ 04/01/2010 đến 25/04/2010 , sinh viên Trịnh Thị Bích Hồng luôn chấp hành các nội quy, quy định của công ty, có ý thức tự nghiên cứu, học hỏi các kiến thức về Bảo Hiểm phi nhân thọ trong và ngoài phạm vi đề tài thực tập. Đề tài thực tập của sinh viên Trịnh Thị Bích Hồng có ý nghĩa thực tế giúp công ty nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả trong khâu giải quyết nhanh và chính xác công tác giám định và bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro trong bảo hiểm xây dựng hiện nay. Đề nghị Quý trường tạo điều kiện để sinh viên Trịnh Thị Bích Hồng hoàn thành khóa học. Hà nội, ngày 20 tháng 04 năm 2010 HSGD - CÔNG TY CP BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN HÀ NỘI TRƯỞNG PHÒNG DỰ ÁN NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Họ và tên giảng viên hướng dẫn : Lục Mạnh Hiển Chức vụ : Thạc sĩ Nhận xét báo cáo thực tập của : Sinh viên : Trịnh Thị Bích Hồng Lớp Đ2BH1 – Khóa 2006-2010 Đề tài: “Thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay”. ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… Hà nội ,ngày 20 tháng 04 năm 2010 Người nhận xét MỤC LỤC Số trang LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………..………….1 Phần I: Giới thiệu chung về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI Chương I: Tổng quan về công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện…………………………………………………………………………….3 1.1.1 Lịch sử hình thành……………………………………….…………….3 1.1.2 Quá trình phát triển……………………………………….……………4 1.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty PTI………………………………………….6 1.2 Một vài nét về phòng bảo hiểm Dự án……………………….…………8 Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI 2.1.Hoạt động kinh doanh của công ty ……………………………………….10 2.1.1Kết quả hoạt động kinh doanh ………………………………………..12 2.1.2 Dự phòng bồi thường…………………………………………………13 2.1.3 Cơ cấu doanh thu bán hàng……………………………………………..13 2.1.4 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch 2009…………………………13 2.2 Hoạt động đầu tư………………………………………………………….16 2.2.1 Về hoạt động đầu tư bất động sản…………………………………….16 2.2.2 Về hoạt động đầu tư góp vốn…………………………………………16 2.3 Hoạt động hạn chế và đề phòng tổn thất………………………………….16 2.4 Giám định và giải quyết bồi thường………………………………………17 2.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh năm 2009……………17 2.6 Đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty……………………………...18 2.6.1 Kết quả đạt được……………………………………………………...18 2.6.2 Những điểm còn tồn tại……………………………………………….20 Chương III: Một số khuyến nghị và giải pháp 3.1 Phương hướng hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới………..21 3.2 các giải phát nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra……………………….…22 3.3 Kiến nghị với công ty……………………………………………………..23 Phần 2: Chuyên đề “thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay”. Chương I : Lý luận chung về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và công tác giám định – bồi thường 1.1. Tổng quan về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng……………………………24 1.1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng…………24 1.1.1.2. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng………25 1.1.2. Một số định nghĩa……………………………………………………..25 1.1.3. Phạm vi bảo hiểm và công việc bảo hiểm trong nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng………………………………………………………………..33 1.1.3.1. Bảo hiểm thiệt hại vật chất………………………………………...33 1.1.3.2. Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba…………………….…35 1.1.3.3. Phạm vi bảo hiểm áp dụng chung cho bảo hiểm thiệt hại vật chất và bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba…………………………………..36 1.2. Nguyên tắc giám định bồi thường ……………………………………….38 1.2.1 Vai trò của giám định bồi thường……………………………………..38 1.2.2. Nguyên tắc của giám định bồi thường……………………………….40 1.3. Phân biệt bảo hiểm xây dựng với bảo hiểm lắp đặt……………………...41 Chương II: Thực trạng công tác giám định bồi thường của nghiệp vụ Bảo Hiểm mọi rủi ro xây dựng 2.1 Thực trạng công tác giám định- bồi thường trong nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng ở PTI…………………………………………………………………….42 2.1.1. Công tác giám định………………………………………………….42 2.1.1.1. Yêu cầu của công tác giám định……………………………………42 2.1.1.2. Quy trình giám định bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI………...43 2.1.1.3. Kết quả giám định.............................................................................44 2.1.2 Công tác bồi thường……………………………………………………46 2.1.2.1. Yêu cầu công tác bồi thường………………………………….…..46 2.1.2.2 Quy trình bồi thường bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI…………..47 2.2 Thực trạng công tác đề phòng và hạn chế tổn thất của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng……………………………………………………..52 2.3 Đánh giá chung công tác giám định bồi thường nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng tại PTI…………………………………………………………………...54 Chương III. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giám định- bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng 3.1 Một số giải pháp hoàn thiện công tác giám định- bồi thường……………55 3.1.1. Về công tác giám định………………………………………………...55 3.1.2. Về công tác bồi thường……………………………………………….56 3.1.3. Về các công tác khác………………………………………………….59 3.2. Một số kiến nghị………………………………………………………….60 3.2.1. Đối với PTI……………………………………………………………60 3.2.2. Kiến nghị lên hiệp hội bảo hiểm………………………………….......62 3.2.3 Một số kiến nghị với nhà nước………………………………………...62 KẾT LUẬN…………………………………………………………………...64

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay.doc