Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Xã nên triển khai đồng bộ các giải pháp giúp nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở tận dụng tiềm năng đất đai và kinh tế xã hội của vùng. + Cần phải xác định tính phù hợp của các loại hình sử dụng đất để giải quyết các vấn đề sau: - Việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất tạo thành một hệ thống hợp lý, một lớp che phủ thực vật bảo vệ, có khả năng bồi dưỡng độ màu mỡ của đất, không gây xói mòn hoặc làm thoái hoá, không ảnh hưởng xấu đến môi trường. - Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn thuận lợi cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. - Các loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế, đưa lại thu nhập cao cho nhân dân. - Các loại hình sử dụng đất phù hợp với kinh tế và điều kiện sản xuất của địa phương. + Để có những giải pháp thiết thực hơn nữa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bền vững đất đai nông nghiệp trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, các công trình nghiên cứu tiếp theo cần đi sâu vào một số khía cạnh sau: - Cần tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu tình hình sử dụng đất đai nông nghiệp ở cấp xã trên các vùng miền đại diện để có những tổng kết đánh giá và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai nông nghiệp ở tất cả các địa phương trong toàn quốc.

doc60 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 1810 | Lượt tải: 13download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
000 0,84 Công 100 (công) 50 000 5,00 Giống 100 16000 1,60 Máy móc ( quy ra thóc ) 320 4000 1,28 Vôi 600 900 0,54 Chi phí khác 1,30 ( Nguồn: điều tra và thu thập) Số liệu bảng 7 cho thấy: Sản xuất lạc có chi phí khoảng 12,58 triệu đồng/ha/vụ. Trong đó chi phí cao nhất là công lao động chăm sóc, phân bón và giống là: 9,46 triệu đồng/ha/vụ. Sẳn xuất khoai lang, rau đậu các loại có tổng chi phí trung bình khoảng 8,50 triệu đồng/ha/vụ. Bảng 8. Hiệu quả kinh tế cây trồng chính ( Đơn vị tính: Triệu đồng/ha/vụ ) Cây trồng Giá trị sản xuất Chi phí sản xuất Giá trị gia tăng Lúa 23,54 15,38 8,16 Sắn 17,40 7,84 9,56 Lạc 17,10 12,58 4,52 Khoai Lang 15,00 9,20 5,80 Rau, đậu các loại 24,20 7,60 16,60 ( Nguồn: điều tra và thu thập ) Bảng 8 cho thấy: Giá trị gia tăng của các nhóm cây trồng trong vùng cũng biến đổi tương ứng, cụ thể như sau: Nhóm các cây rau đậu có giá trị gia tăng cao nhất vùng đạt 16,60 triệu đồng/ha/vụ là do: Chi phí đầu vào cho sản xuất rau đậu là không cao lắm so với các cây trồng ngắn ngày khác. Đồng thời nhờ sự đầu tư các loại phân bón một cách khoa học và áp dụng hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Mặc khác xã có vị trí thuận lợi giáp với nhiều xã trong huyện và tỉnh Quảng Trị nên thị trường tiêu thụ rộng lớn, ổn định và nhờ sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của các cấp chính quyền địa phương. Tiếp đến là nhóm cây lương thực: Sắn 9,56 triệu đồng/ha/vụ, lúa 8,16 triệu đồng/ha/vụ, cây khoai lang 5,80 triệu đồng/ha/vụ. Nguyên nhân là: Người dân đã biết áp dụng các phương pháp canh tác với kỹ thuật cao. Hơn nữa chi phí đầu vào như máy móc, thuốc bảo vệ thực vật, giống,... cho sản xuất không cao lắm. Mặc khác do Phong Hòa là địa phương có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời nên người dân có kinh nghiệm sản xuất, đầu tư hợp lý khoa học. Một số giống cao sản được đưa vào sản xuất nên cho năng suất cao như Khang Dân, HT1,... Bên cạnh đó đất để sản xuất khá phù hợp cho yêu cầu của từng loại cây trồng nên thường cho năng suất cao. Một số khâu trong sản xuất đã được cơ giới hoá như khâu : làm đất, thu hoạch,… Cuối cùng là nhóm cây công nghiệp: lạc: 4,52 triệu đồng/ha/vụ. Do chi phí để sản xuất lạc khá cao, 12,58 triệu đồng/ha/vụ. Trong đó chi phí cao nhất là công, phân bón và giống là: 9,46 triệu đồng/ha/vụ. Trong khi đó giá trị sản xuất lại không cao lắm 17,10 triệu đồng/ha/vụ. Cây lạc là cây mà người dân địa phương chưa chú trọng đầu tư lắm họ chỉ sản xuất để đáp ứng cho nhu cầu tại chỗ của địa phương. Bảng 9. Hiệu quả kinh tế cây trồng qua các năm ( Đơn vị tính: Triệu đồng/ha /vụ ) Cây trồng Tính trên một ha trong một vụ Giá trị sản xuất Chi phí sản xuất Giá trị gia tăng 2006 2007 2008 2006 2007 2008 2006 2007 2008 Lúa 14,80 19,53 23,54 9,10 12,23 15,38 5,70 7,30 8,16 Sắn 10,00 14,00 17,40 4,00 5,53 7,84 6,00 8,47 9,56 Lạc 13,50 14,95 17,10 9,12 10,45 12,58 4,38 4,50 4,52 Kh. lang 9,50 12,00 15,00 5,28 7,34 9,20 4.22 4,66 5,80 Rau, đậu 15,80 20,30 24,20 5,50 6,75 7,60 10,30 13,55 16,60 ( Nguồn: Điều tra và thu thập ) Từ bảng 9 cho ta thấy: Giá trị sản xuất của các loại cây trồng trong xã luôn tăng qua các năm cụ thể năm 2006 giá trị sản xuất lúa đạt 14,80 triệu đồng/ha/vụ, đến năm 2008 tăng lên 23,54 triệu đồng/ha/vụ. Chi phí sản xuất biến động tăng theo từng năm do giá cả vật tư đầu vào ngày càng cao. Sản xuất lúa có chi phí năm 2006 là 9,10 triệu đồng/ha/vụ. Đến năm 2008 tăng lên 15,38 triệu đồng/ha/vụ và giá trị gia tăng cũng tăng theo từ 5,70 triệu đồng/ha/vụ năm 2006 lên 8,16 triệu đồng/ha/vụ năm 2008. Tuy nhiên, sản xuất một số cây trồng giá trị gia tăng tăng không đáng kể như cây lạc và cây khoai lang từ khoảng 4,38 triệu đồng/ha/vụ ( 2006 ) lên 4,52 triệu đồng/ha/vụ ( 2008 ) đối với cây lạc và từ 4,22 triệu đồng/ha/vụ ( 2006) lên 5,80 triệu đồng/ha/vụ (2008). Sự gia tăng mạnh nhất về giá trị sản xuất cũng như giá trị gia tăng thấy ở nhóm cây rau đậu các loại. Sau đó đến nhóm cây lương thực, cuối cùng là cây công nghiệp khác. Cụ thể đối với nhóm cây rau đậu giá trị sản xuất từ 15,80 triệu đồng/ha/vụ ( 2006 ) lên 24,20 triệu đồng/ha/vụ ( 2008 ) và giá trị gia tăng từ 10,30 triệu đồng/ha/vụ (2006) đến năm 2008 lên 16,60 triệu đồng/ha/vụ. Trong lúc đó chi phí sản xuất chỉ từ 5,50 - 7,60 triệu đồng/ha/vụ. Như vậy, chi phí và thu nhập hàng năm đối với từng loại cây trồng trong cả chu kỳ, ở vùng này các nhóm cây trồng rau đậu, các cây thuộc nhóm cây lương thực đang là những cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và có xu hướng phát triển mạnh trong thời gian tới. Tuy nhiên, để đảm bảo nhu cầu lương thực, đảm bảo độ phì cho đất thì các cây trồng như đậu, lạc và cây lúa vẫn cần phải được duy trì và nâng cao hiệu quả hơn nữa. 4.3.2.2. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính Thông qua điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn người dân về hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã chúng tôi thu được kết quả sau sau: Bảng 10. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính ( Đơn vị tính: Triệu đồng/ha/năm ) Loại hình sử dụng đất Giá trị sản xuất Chi phí sản xuất Giá trị gia tăng Lúa Đông xuân - lúa Hè Thu 46,80 29,72 17,08 Lúa - khoai lang 38,54 23,49 15,05 Lúa - lạc 40,64 28,84 11,80 Lạc, sắn - khoai lang 49,10 30,24 18,86 Lạc, đậu - khoai lang 56,30 30,74 25,56 Sắn, đậu - khoai lang 54,00 25,28 28,72 Sắn, khoai lang - rau, đậu 56,20 25,02 31,18 Rau, đậu - rau, đậu 48,40 15,20 33,20 ( Nguồn: Điều tra và thu thập ) Trên địa bàn xã có 8 kiểu sử dụng đất. Qua tính toán chúng tôi nhận thấy: Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất này có sự cách biệt khá rõ rệt. Một số kiểu sử dụng đất cho giá trị gia tăng/ha/năm thấp như: lúa - lạc, lúa - khoai lang và lúa Đông xuân - lúa Hè thu, lần lượt là :11,8 triệu đồng/ha/năm, 15,05 triệu đồng/ha/năm và 17,08 triệu đồng/ha/năm. Do chi phí sản xuất cao nhưng giá trị sản xuất lại không cao lắm, như loại hình sử dụng đất lúa 2 vụ giá trị sản xuất là 46,80 triệu đồng/ha/năm trong lúc đó chi phí để sản xuất là 29,72 triệu đồng/ha/năm. Tiếp đến là các kiểu sử dụng đất lạc, sắn - khoai lang; lạc, đậu - khoai lang lần lượt là 18,86 triệu đồng/ha/năm và 25,56 triệu đồng/ha/năm. Cuối cùng các kiểu sử dụng đất như: sắn, đậu - khoai lang; sắn, khoai lang - rau, đậu; rau, đậu - rau, đậu cho giá trị gia tăng/ha/năm cao nhất lần lượt là 28,72 triệu đồng/ha/năm, 31,18 triệu đồng/ha/năm và 33,20 triệu đồng/ha/năm. Trong lúc đó chi phí sản xuất của loại hình sử dụng đất rau, đậu - rau, đậu là thấp nhất chỉ có 15,20 triệu đồng/ha/năm. Chi phí sản xuất cao nhất vẫn là loại hình sử dụng đất: Lạc, sắn - khoai lang; Lạc, đậu - khoai lang; lúa 2 vụ, chi phí sản xuất của các loại hình sử đụng dất còn lại chênh nhau không lớn lắm chỉ dao động từ 23 - 28 triệu đồng/ha/năm. Các loại hình sử dụng đất này phân bố khá hợp lý, chân đất cao phân bố các cây trồng cạn hoa màu, rau đậu, sắn, khoai,... chân đất trũng phân bố các loại cây lúa. Nhìn chung trên chân đất trũng, cây lúa đóng vai trò chủ đạo. Kiểu sử dụng đất lúa Đông xuân - lúa Hè thu là kiểu sử dụng đất bền vững thích hợp với chân đất này. Cho giá trị sản xuất là 46,80 triệu đồng/ha/năm. Các loại hình sử dụng đất trồng cây rau, màu cho hiệu quả kinh tế cao hơn cây lương thực. Điều này thể hiện ở đây điều kiện khá phù hợp với loại hình sử dụng đất trồng cây rau màu. Hơn nữa, người dân biết cánh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào canh tác làm giảm chi phí đầu tư mang lại nhiều hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó như có thị trường tiêu thụ lớn và ổn định, sự định hướng và chỉ đạo kịp thời của chính quyền địa phương. Những loại hình sử dụng đất mang giá trị gia tăng cao được nông dân ưu tiên đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, có một số loại hình sử dụng đất hiệu quả mang lại chưa cao là do người dân không chú trọng chăm sóc sản xuất nhằm đa dạng hóa sản phẩm mà chỉ sản xuất nhỏ lẻ. Hơn nữa chi phí sản xuất trong những loại hình sử dụng đất này khá cao điều này là do mức đầu tư phân bón và công lớn, chưa tân dụng được lao động lúc nông nhàn như các loại hình sử dụng đất rau màu. Trong tương lai để phát triển kinh tế xã hội, sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng thì những loại hình sử dụng đất mang lại hiệu quả cao cần được nhân rộng. Đưa các giống mới có năng suất cao vào sản xuất, tăng cường công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp cho nông dân vươn lên làm giàu trên mảnh đất quê hương. Tuy nhiên, để đảm bảo an ninh lương thực thì cần phải đảm bảo diện tích đất trồng cây lương thực như: cây lúa. 4.3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt xã hội. Giải quyết lao động dư thừa trong nông thôn là vấn đề xã hội lớn, đang được sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách. Trong khi ngành công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển để thu hút toàn bộ lao động dư thừa trong nông thôn thì phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm và sản xuất hàng hoá là một giải pháp quan trọng để tạo thêm việc làm, tăng thêm của cải vật chất cho xã hội và tăng thu nhập cho nông dân. Qua đó góp phần củng cố an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hạn chế tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên, góp phần vào việc giải quyết mối quan hệ cung cầu trong đời sống nhân dân, làm thay đổi một cách cơ bản tập quán canh tác, tạo thói quen áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. + Nâng cao thu nhập cho người dân, xoá đói giảm nghèo. Luật đất đai đã quy định cụ thể quyền lợi và trách nhiệm của người được giao đất. Vì vậy sau khi nhận đất người dân yên tâm đầu tư vốn và sức lao động cho sản xuất. Mặt khác người dân đã chủ động áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Từ đó năng suất lao động không ngừng tăng lên, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và xóa đói giảm nghèo. Đây chính là hiệu quả về mặt xã hội có ý nghĩa lớn nhất của chính sách giao đất nông nghiệp cho người lao động. Theo số liệu báo cáo của xã Phong Hòa thì, trong những năm gần đây, số hộ đói nghèo của xã liên tục giảm. Tỷ lệ hộ đói nghèo của xã năm 2006 là 8,94 % đã giảm xuống 5,94% , giảm 3 % vào năm 2007. Đến năm 2008, toàn xã chỉ còn lại 5,47% số hộ nghèo và không có hộ đói. Điều này là do một số hộ đã thu được khối lượng nông sản khá và bắt đầu có những sản phẩm nông nghiệp bán ra thị trường với số lượng lớn. Đây thực sự là một thành công lớn trong công tác xoá đói giảm nghèo của chính quyền và nhân dân địa phương, trong đó có sự đóng góp của chính sách giao đất nông nghiệp tới tay người lao động. + Tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất đối với lao động sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, khi được giao đất, người lao động có tư liệu sản xuất để canh tác, sản xuất ra lương thực. Thực tế ở địa phương sản xuất nông nghiệp đã thu hút được nguồn lao động và giải quyết việc làm tại chỗ. Nhưng ngành sản xuất nông nghiệp khả năng sử dụng lao động là có giới hạn. Tùy thuộc vào loại hình sản xuất, quy mô sản xuất mà số lượng lao động được sử dụng là khác nhau. Đối với sản xuất lúa: Số liệu điều tra cho thấy bình quân một ha sử dụng 100 lao động cho một vụ, không tính lao động trong quá trình chăm sóc, trong quá trình này hầu hết là sử dụng lao động nhàn rỗi trong gia đình. Khi xuống thời vụ thì lao động được sử dụng tập trung cao nên thiếu lao động. Khi hết thời vụ thì lực lượng lao động lại nhàn rỗi trở lại. Tương tự đối với các loại cây như: Sắn, lạc, khoai lang, rau,... Đối với các cây lạc và rau đậu các loại thì cần lượng lao động nhiều hơn nhưng không tập trung. Từ khi Đảng và nhà nước có chính sách đổi mới, sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất các sản phẩm hàng hoá, việc đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp đã thu hút nhiều lao động tham gia. Bởi vì: Các cây trồng hàng hoá đòi hỏi sự chăm sóc rất cao, đầu tư nhiều lao động. Khi sản xuất hàng hoá phát triển, yêu cầu về cung ứng vật tư, bao tiêu sản phẩm tăng lên, một bộ phận lao động đã chuyển sang hoạt động thương mại và dịch vụ. Bảng 11. Tình hình lao động và thu nhập trong nông nghiệp qua các năm Các chỉ tiêu Đơn vị tính 2006 2007 2008 Tổng dân số Người 9345 9390 9462 Tổng số hộ Hộ 1923 1933 1948 Số hộ nông nghiệp Hộ 1246 1249 1253 Tổng số lao động Người 3413 3459 3567 Lao động trong nông nghiệp Người 2047 2068 2105 Thu nhập bình quân đầu người Triệu đồng 6,0 7,0 6,8 Bình quân lao động mỗi hộ Người 3 3 3 (Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội qua các năm 2006, 2007, 2008) Qua bảng số liệu cho thấy năm 2008 có 2105 lao động trong nông nghiệp chiếm 59,01 % trong tổng lao động hiện có của địa phương. Hàng năm số lao động trong nông nghiệp tăng là do việc thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện tích các loại cây lượng thực ( sắn từ diện tích 97,40 ha năm 2006 lên 117 ha năm 2008 ) và nhóm cây rau đậu các loại từ 42 ha năm 2006 tăng lên thành 62 ha năm 2008, đã thu hút hàng trăm lao động tham gia. Có thể thấy rằng tỷ lệ lao động trên địa bàn là rất thấp so với tổng dân số 22 % năm 2008, cơ cấu lao động cũng không đồng đều giữa các lĩnh vực (lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ 59,00 % so với tổng số lao động, còn lại là lao động trong các lĩnh vực khác ). Mặc khác qũy đất nông nghiệp của xã ít dẫn đến diện tích đất bình quân trên đầu người rất thấp (1796,90 m2/người ) so với trung bình chung toàn huyện ( 6620,00 m2/người). Như vậy, trong nông nghiệp việc sử dụng lao động và khả năng giải quyết việc làm trên địa bàn xã có phần tăng lên nhưng chưa tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi của nhân dân và chưa đảm bảo khả năng giải quyết việc làm cho những lao động thất nghiệp. Vì vậy đã làm nhiều lao động trong nông nghiệp phải chuyển sang một số ngành tiểu thủ công nghiệp hoặc đi làm ăn xa. Thu nhập của người dân ngày càng tăng ( 6 triệu đồng/năm, năm 2006 lên gần 7 triệu đồng/năm, năm 2008), kéo theo đời sống vật chất, tinh thần và trình độ dân trí tăng lên, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Năng lực sản xuất của các hộ sẽ được phân công phù hợp với từng kiểu sử dụng đất, giá trị công lao động đảm bảo, tận dụng mọi nguồn lao động sẵn có của khu vực nông thôn. + Nâng cao dân trí, xây dựng xã hội văn minh giàu đẹp. 4.3.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt môi trường Trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp đã làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường do đó để cho quá trình sản xuất được bền vững ngoài vấn đề về kinh tế - xã hội, chúng ta phải xem xét đến vấn đề môi trường. Bởi vì môi trường có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đối với đời sống cây trồng, vật nuôi, cũng như con người. Việc nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của sử dụng đất và hệ thống cây trồng hiện tại tới môi trường là vấn đề rất lớn và phức tạp, đòi hỏi phải có số liệu phân tích đất, nước và nông sản trong một thời gian khá dài. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Thông qua điều tra và khảo sát thực tế cho thấy: Trong nông nghiệp, các hộ tích cực thâm canh tăng vụ, không để đất hoang hoá. Trong lâm nghiệp, các hộ gia đình tích cực trồng rừng. Đến nay trên địa bàn xã không còn hiện tượng phá rừng, lũ lụt, hạn hán dần được khắc phục, giảm thiệt hại do thiên tai gây ra đối với sản xuất và trong đời sống sinh hoạt của con người. Bảng 12. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng đất về môi trường Các chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2006 Năm 2008 Độ che phủ % 28 28,05 Hệ số sử dụng đất Lần 2,23 2,33 (Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội của xã và điều tra thu thập) Qua bảng số liệu cho thấy: Xã Phong Hòa có độ che phủ thấp chỉ đạt 28,05 % năm 2008 là do xã nằm ở vùng đồng bằng có diện tích trồng rừng và trồng các loại cây lâu năm ít. Hệ số sử dụng đất ít có sự thay đổi qua các năm, năm 2006 là 2,23 lần đến năm 2008 đạt 2,33 lần. Do một số loại cây trồng như sắn, lạc, rau đậu,... người ta trồng xen với nhau có khi lên đến ba vụ trong năm nhưng diện tích xen canh không lớn lắm ( 201 ha ) so với diện tích chuyên canh 2 vụ ( 596,15 ha ). Điều đó cũng có gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái như sau: + Mặc tích cực - Sử dụng tối đa quỹ đất hiện có, đưa phần diện tích chưa sử dụng vào sử dụng nhằm cải tạo đất hoang hóa. - Trồng xen nhiều loại cây trồng với nhau trên một diện tích đất đã làm giảm sự xói mòn, rửa trôi, tăng độ xốp cho đất, tận dụng nhiều loại dinh dưỡng trong đất. - Sự kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt đã hạn chế được lượng phân bón hóa học, tân dụng được lượng phân gia súc thải ra, làm giảm chi phi sản xuất mặc khác góp phần cải tạo tăng độ phì cho đất. + Mặc tiêu cực - Hiện tượng xói mòn rửa trôi vẫn còn do độ che phủ thấp. Bên cạnh đó tốc độ đô thị hóa tăng lên mà độ che phủ thấp sẽ tác động đến sự sống của con người và sinh vật,... - Khai thác hết nguồn dinh dưỡng từ đất, làm cho đất bạc màu. - Lượng thuốc hóa học sử dụng sẽ tăng lên làm gây hại đến môi trường sống cho chúng ta. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm độ phì ở những vùng thâm canh cao là vấn đề sử dụng phân bón mất cân đối. Trong các nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng phân bón ở Việt Nam tại nhiều vùng với nhiều loại cây trồng còn thiếu khoa học và lãng phí. Nông dân mới chỉ quan tâm nhiều đến sử dụng phân đạm, ít quan tâm đến phân lân và phần lớn chưa quan tâm đến kali và các nguyên tố trung, vi lượng khác. Do vậy cần phải có những hiểu biết nhất định về cách bón phân. [ ] Bảng 13. Lượng đầu tư phân bón cho các cây trồng Stt Cây trồng Lượng phân bón ( Kg/ha/vụ ) Đạm Lân Kali Vôi Ghi chú 1 Lúa 240 400 160 500 2 Sắn 100 60 3 Lạc 100 400 60 600 4 Rau đậu các loại 100 60 5 Khoai lang 100 30 ( Nguồn: Điều tra và thu thập ) Kết quả điều tra hộ nông dân về mức đầu tư phân bón cho các loại cây trồng hàng năm cho thấy: Nhóm các cây lương thực, lượng phân bón cao hơn các cây khác. Cụ thể như phân đạm được bón 240 kg/ha/vụ ( lúa ), 100 kg/ha/vụ ( sắn ); Lân là 400 kg/ha/vụ ( lúa ); kali 160 kg/ha/vụ( lúa ), 60 kg/ha/vụ ( sắn ). Dạng phân đạm chủ yếu được bón từ phân Urê, lân chủ yếu từ Supe lân, Kali chủ yếu từ Kali clorua. Việc cân đối giữa đạm, lân, kali đối với mỗi cây trồng là rất khác nhau. Nông dân hầu như chưa coi trọng và không có thói quen bón phân Kali hoặc bón không đủ cho cây trồng vì thế ảnh hưởng không tốt đến khả năng chống chịu của cây nhất là chống chịu sâu bệnh. Từ đó dẫn đến việc sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật tăng lên. Từ đó gây nên các nguy cơ gây thoái hoá và ô nhiễm đất được xem xét trên các lĩnh vực sau: Làm chua đất, làm ô nhiễm NO3, ô nhiễm đất do phú dưỡng . Đặc biệt lượng phân chuồng bón cho cây trồng còn quá thấp so với yêu cầu bón phân cân đối. Đây là một trong những nguyên nhân thoái hóa đất do suy kiệt mùn và chất hữu cơ trong đất. Đạm và lân được dùng nhiều trong số các loại phân vô cơ. Kali đầu tư ít và không đều, đa số cây trồng không được bón đủ lượng kali. Việc bón không đủ lượng kali cần thiết sẽ dẫn đến suy kiệt hàm lượng Kali trong đất và gây ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nông sản phẩm. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp hàng hoá bền vững cần phải có hướng dẫn cụ thể tỷ lệ phân bón đạm, lân và kali cân đối cho từng cây trồng. Mặt khác để có thể nhận định chính xác về sự ảnh hưởng của phân bón đến đất, nước, sinh vật,... cần được nghiên cứu phân tích đầy đủ các chỉ tiêu về đất, nước và các nông sản phẩm. Từ kết quả điều tra về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất trồng trọt tại xã Phong Hòa chúng tôi nhận thấy, hầu hết các loại cây trồng đều được phun thuốc bảo vệ thực vật ít nhất là 2 lần/vụ, ở nhưng vụ có dịch bệnh gây hại cao lượng phun tăng lên nhiều lần. Quá trình ngập nước thường xuyên của loại hình sử dụng đất trồng lúa 2 vụ làm cho một số tính chất vật lý của đất như chế độ khí, kết cấu đất có thể xấu đi, tăng cường một số chất độc như CH4, H2S, có ảnh hưởng đến hoạt động của ví sinh vật đất và của cây trồng cũng như khả năng hòa tan của một số chất dinh dưỡng trong đất. Mỗi loại sâu bệnh, cỏ dại phát triển ở những chân đất nhất định vì vậy nếu độc canh lúa tạo điều kiện cho sâu bệnh, cỏ dại lây lan và phát triển làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây trồng từ đó làm năng suất, chất lượng cây trồng sẽ giảm. Thực tế cho thấy, các kiểu sử dụng đất có sự luân canh giữa lúa và các cây trồng cạn như các loại rau sẽ vừa giảm được sự tích lũy của các nguồn sâu bệnh hại trong đất, vừa bảo vệ được độ phì của đất do bảo tồn được mùn và chất hữu cơ trong đất. Vì thế sẽ dẫn đến ít phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hơn, an toàn cho việc sử dụng nông sản và giảm sự thoái hóa đất. Cây sắn có khả năng hút chất dinh dưỡng từ đất rất lớn, đồng thời nó phá vỡ kết cấu đất làm đất bị xói mòn rửa trôi chất dinh dưỡng, làm cho đất ngày càng bạc màu. Vì thế nên có kế hoạch bón phân hợp lý có phương thức canh tác thích hợp đẩy mạnh xen canh sắn với cây họ đậu để trả lại dinh dưỡng cho đất nhờ sự cố định đạm của cây họ đậu. Nhìn chung, các hình thức canh tác trên địa bàn là khá hợp lý. Phối hợp nhiều hình thức xen canh khá hợp lý. Nhờ đó đất được trả lại một phần dinh dưỡng và được phục hồi. 4.3.5. Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 4.3.5.1. Mặt tích cực Nhìn chung quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp của xã là khá lớn và đa dạng. Diện tích đất có khả năng đưa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp còn nhiều. Trong thời gian qua, ủy ban nhân dân xã cùng với người dân đã thực hiện tốt việc khai thác quỹ đất này vào sản xuất có hiệu quả. Trong nông nghiệp có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, mở rộng quy mô sản xuất, tích cực thâm canh tăng vụ làm cho hệ số sử dụng đất tăng lên hàng năm, năng xuất và sản lượng cây trồng luôn có sự tương đồng giữa các vụ gieo trồng hoặc năm sau cao hơn năm trước. Từ đó đã giải quyết được nhiều lao động nông thôn, nâng cao được thu nhập cho nông dân. Ngành lâm nghiệp được chú trọng, hàng năm diện tích trồng rừng tăng lên, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ và bảo vệ môi trường. Nhờ được đầu tư về cơ sở hạ tầng, nguồn vốn và kỹ thuật mà lượng hàng hóa nông sản đa dạng, đồng thời tạo ra các vùng chuyên canh để có lượng hàng hóa lớn phục vụ nhu cầu của thị trường. Đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ và công nghiệp phục vụ nông nghiệp phát triển thúc đẩy chủ trương hiện đại hóa công nghiệp nông nghiệp nông thôn của Đảng và Nhà nước, nâng cao mức sống người dân nông thôn. 4.3.5.2. Mặt tồn tại Chưa tạo ra được nhiều mô hình sản xuất tập trung có quy mô như mô hình kinh tế trang trại,... Do diện tích đất chưa sử dụng là đất cát ở thôn Đức Phú là loại đất không thích hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp nên khó đưa vào sử dụng cho mục đích nông nghiệp. Vì vậy chủ trương phủ xanh đất trống đồi núi trọc khó hoàn thành do đó đẫn đến độ che phủ thấp. Ý thức của người dân trong việc sử dụng, khai thác đất chưa cao. Vẫn còn trường hợp lấn chiếm đất đai, vi phạm pháp luật trong việc quản lý và sử dụng đất. Khả năng nắm bắt thông tin giá cả thị trường chưa nhạy bén hơn nữa thông tin còn thiếu và nhiễu. Khả năng hoạch toán trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, chưa cụ thể. Trình độ ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Nông dân chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy hậu quả về sau, gây ảnh hưởng cho sản xuất và đời sống chính họ. Tuy cơ sở hạ tầng có đầu tư nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ nên ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và giao lưu hàng hóa, nên hiệu quả sử dụng đất bị ảnh hưởng. 4.4. Tiềm năng đất đai Với diện tích đất nông nghiệp hiện có, đồng thời cộng với quỹ đất bằng chưa sử dụng khá lớn 695,75 ha chiếm 19,77 % tổng diện tích tự nhiên, phần lớn trong số này là đất cát khó đưa vào sản xuất nông nghiệp, lại phân bố ở những khu vực không thuận lợi nên rất khó khai thác, nên đây là điều kiện để địa phương có thể đầu tư, áp dụng khoa học công nghệ để phát triển mạnh ngành công nghiệp khai thác chế biến vật liệu xây dựng. Bên cạnh đó có thể phát triển mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi, đặc biệt tân dụng diện tích mặt nước trên các ao hồ, sông suối để phát triển ngành thủy sản, nâng độ che phủ của rừng bằng việc phủ xanh diện tích đất chưa sử dụng. Thực hiện các biện pháp thâm canh, tăng vụ để nâng cao hệ số sử dụng đất. + Sản xuất nông nghiệp: Trong tương lai quỹ đất để mở rộng sản xuất nông nghiệp rất hạn chế, nên tiềm năng khai thác chỉ có thể tăng cường theo hướng thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sử dụng các giống cây mới cho năng suất và chất lượng cao. Có thể chuyển một số diện tích đất trồng lúa năng suất thấp sang trồng các loại cây có hiệu quả kinh tế cao hơn và nuôi trồng thủy sản. + Lâm nghiệp: Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp là 900,10 ha, trong thời gian tới tiềm năng đất lâm nghiệp có thể được mở rộng từ việc đưa đất chưa sử dụng vào trồng rừng sản xuất tăng tỷ lệ che phủ rừng tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân. + Nuôi trồng thủy sản: Với diện tích hiện trạng là 2 ha, trong tương lai có thể chuyển từ diện tích đất trồng lúa hiệu quả thấp, đất sông suối, ao hồ sang phục vụ nuôi trồng thủy sản. 4.5. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm phát triển bền vững 4.5.1. Sự cần thiết sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu. Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại, bởi nhiều lẽ: - Tài nguyên đất vô cùng quý giá, bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân. Dù cho những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vĩ đại, con người hiện đại vẫn phải sống dựa vào đất. - Tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi. - Diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng kỹ thuât. - Do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người, hậu quả của chiến tranh nên diện tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái hóa, hoặc ô nhiễm dẫn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác. - Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất, dịch vụ và chất độc hóa học để lại sau chiến tranh cũng đáng báo động. Hoạt động canh tác và đời sống còn bị đe dọa bởi tình trạng ngập úng, ngập lũ, lũ quét, đất trượt, sạt lở đất, thoái hóa lý, hóa học đất... - Sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên đất tốt mới có hiệu quả. Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm. Vì vậy, mỗi khi sử dụng đất đang sản xuất nông nghiệp cho các mục đích khác cần cân nhắc kỹ để không rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt. 4.5.2. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai Phong Hòa có lợi thế rất lớn về sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản. Là vùng có truyền thống sản xuất nông nghiệp, có khí hậu thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và đa dạng hoá cây trồng. Đất đai màu mỡ giao thông, thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Việc thâm canh, tăng vụ, tăng hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa quyết định nhằm phát huy thế mạnh của vùng để khai thác tốt nhất tiềm năng các nguồn lực của xã. Cho nên, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thì việc chuyên môn hóa trong sản xuất là điều kiện chủ yếu. Trong những năm gần đây, sản xuất nông sản hàng hóa ở Phong Hòa đã bắt đầu hình thành và từng bước phát triển tạo tiền đề cho phát triển các cây trồng hàng hóa trong những năm tới. + Định hướng sử dụng đất nông nghiệp dựa trên các căn cứ sau: - Những cây trồng, những kiểu sử dụng đất lựa chọn là những cây đã được trồng cho hiệu quả ở xã hoặc ở những vùng có điều kiện tương tự. - Tiềm năng các nguồn lực của xã (đất đai, lao động, vị trí địa lý, giao thông, thuỷ lợi...) - Định hướng phát triển nông nghiệp của huyện, xã trong những năm tới. - Khả năng đầu tư vốn, lao động và khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. + Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong tương lai cần: - Sử dụng đất triệt để trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng đất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, tận dụng mọi nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người dân, phù hợp với năng lực sản xuất của từng hộ. - Đưa nhanh tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung với khối lượng lớn. Chuyển đổi một số diện tích trồng cây lương thực sang trồng các loại cây rau quả hàng hóa có thị trường tiêu thụ ổn định, có khả năng xuất khẩu và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. - Sử dụng đất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường. Môi trường là yếu tố bên ngoài tác động vào quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Đó là các yếu tố về khí hậu, đất và nước. Vì vậy trong quá trình sử dụng đất phải bảo vệ đất, bố trí thời vụ phù hợp với các điều kiện thời tiết, khí tượng, thuỷ văn nhằm khai thác một cách tối ưu các điều kiện đó mà không ảnh hưởng đến môi trường. Vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ môi trường là phải phát triển một nền nông nghiệp bền vững có hệ thống cây trồng đa dạng, ổn định kết hợp hài hoà giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản. - Tổ chức sản xuất có hiệu quả các vùng lúa cao sản và vùng lúa chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu tại chỗ và thị trường. Thực hiện thâm canh để đạt giá trị sản xuất cao nhất trên một đơn vị diện tích đất canh tác. 4.6. Các giải pháp thực hiện 4.6.1. Chiến lược sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững Ưu tiên sử dụng đất tốt cho nông nghiệp, dành đất xấu (có khả năng sản xuất thấp) cho các mục đích phi nông nghiệp. Điều hòa giữa áp lực tăng dân số và tăng trưởng về kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng đất bền vững. Quản lý hệ thống nông nghiệp nhằm đảm bảo có sản phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất. Bảo đảm phát triển tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương mại, chất đốt, xây dựng và dân dụng mà không làm mất nguồn nước và thoái hóa đất. Sử dụng đất trên cơ sở quy hoạch bảo đảm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của người sử dụng đất và cộng đồng. Khi phân bố sử dụng đất cho các ngành kinh tế quốc dân cần sử dụng bản đồ, tài liệu đất và đánh giá phân hạng đất đai mới xây dựng, nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo sử dụng lâu dài. Thực hiện chiến lược phát triển đa dạng, khai thác tổng hợp đa mục tiêu: nông - lâm kết hợp, chăn nuôi dưới rừng, nông - lâm và chăn nuôi kết hợp, nông - lâm - ngư kết hợp, nông lâm ngư mục kết hợp, nông ngư kết hợp,... Quản lý lưu vực để bảo vệ đất và nước, phát triển thủy lợi, giữ vững cân bằng sinh thái. Phát triển các cây lâu năm có giá trị kinh tế, thương mại cao và góp phần bảo vệ đất như: cây ăn quả. Áp dụng quy trình và công nghệ canh tác thích hợp theo từng tiểu vùng và hệ thống cây trồng. Phát triển ngành công nghiệp phân bón và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón thông qua viêc phối hợp tốt giữa phân bón hữu cơ, vô cơ, phân sinh học, vi lượng, trên cơ sở kết quả nghiên cứu phân tích đất, đặc điểm đất đai và nhu cầu dinh dưỡng của cây. Trong canh tác nông nghiệp, cần quan tâm thâm canh ngay từ đầu, thâm canh liên tục và theo chiều sâu. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách quản lý và bảo tồn tài nguyên đất. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, giao đất, giao rừng, cho dân vay vốn phát triển sản xuất, thâm canh nhằm xóa đói, giảm nghèo và bảo đảm an toàn lương thực. Phát động quần chúng làm công tác bảo vệ đất. Đẩy mạnh hợp tác giữa các tổ chức trong nước, khu vực và quốc tế trong việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án và kế hoạch hành động bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững. 4.6.2. Giải pháp về mặt kinh tế 4.6.2.1. Giải pháp về vốn đầu tư Vốn là nhu cầu cần thiết cho quá trình phát triển sản xuất nông lâm nghiệp. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả ngoài yếu tố kỹ thuật cũng do vốn quyết định. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuất nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp: Các hộ gia đình cần phải huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Trong điều kiện hiện nay cần có chính sách trợ giá, trợ cước đối với giống và vật tư trong sản xuất nông nghiệp, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm giảm nhẹ những khó khăn cho sản xuất. Trên địa bàn đã có nguồn vốn tín dụng thuộc ngân hàng chính sách, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn,... ngoài ra còn có nguồn tín dụng của dự án ICCO ( nguồn vốn xoay vòng phục vụ cho hộ dân vay vốn để phát triển sản xuất và chăn nuôi ) cho vay với lãi xuất ưu đãi giúp nhân dân đầu tư sản xuất. Nhưng nhìn chung, vốn vay ít, thủ tục rườm rà, chu kỳ vay ngắn, chưa nói đến việc vay vốn còn có những yêu cầu về thế chấp tài sản. Do đó để giúp nông dân có vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa cần: - Thay đổi thủ tục vay vốn, đa dạng hoá các hình thức cho vay tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được nguồn vốn này. Mặc khác cần quan tâm đến chu kỳ vay vốn, thời hạn vay và lãi xuất phù hợp để người dân phát triển sản xuất. Ưu tiên người vay vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá. - Sử dụng nhiều hình thức bảo đảm tiền vay đối với tín dụng dạng nhỏ, mở rộng khả năng cho vay đối với tín dụng không đòi hỏi thế chấp. - Các trung tâm dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp có thể ứng trước vốn, kỹ thuật cho nông dân thông qua việc cung cấp vật tư, giống, tạo điều kiện để cho nông dân gieo trồng và chăm sóc đúng thời vụ. - Ngoài ra nhà nước cần có sự hỗ trợ cho việc bao tiêu thu mua nông sản kịp thời vào vụ thu hoạch để nông dân hoàn trả vốn vay và tiếp tục đầu tư sản xuất. Nhà nước cần khuyến khích đầu tư cho việc xây dựng các nhà máy chế biến nông sản, đầu tư xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. 4.6.2.2. Giải pháp về thị trường Sản phẩm nông nghiệp rất đa dạng có thể thay đổi về chủng loại và số lượng. Việc phát triển sản xuất trong nông nghiệp đòi hỏi phải được thực hiện theo kế hoạch. Muốn vậy cũng cần phải tổ chức xây dựng các mô hình sản xuất thử để giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm và dự báo thị trường. +Thị trường nông sản ở địa phương gặp những khó khăn chính sau: - Giao thông đi lại khó khăn. - Lượng hàng hoá không tập trung, quy cách chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu của khách hàng. - Chưa có cơ sở dịch vụ ổn định nên thường bị tư thương ép giá. Vì vậy cần thiết phải phân tích thị trường trước mắt và lâu dài, để có định hướng cho sản xuất nông nghiệp để tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu tiêu thụ hàng hoá của thị trường. Ở địa phương tập trung giải quyết hai vấn đề chính là xây dựng vùng sản xuất chuyên canh hàng hoá và phát triển hệ thống giao thông, nhất là giao thông nông thôn. Mặc khác, đẩy mạnh việc kiên cố hoá hệ thống mương tưới, tăng cường bơm tiêu úng cục bộ trong mùa mưa, đặc biệt cần nghiên cứu để có các vùng sản xuất sản phẩm sạch, an toàn với công nghệ cao. Để có được thị trường tiêu thụ nông sản ổn định, cần phải quy hoạch và hình thành các hợp tác xã dịch vụ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, cần có những chính sách khuyến khích các hộ nông dân làm dịch vụ bao tiêu sản phẩm hàng hóa. Hình thành các trung tâm thương mại ở các thị tứ và thị trấn, thị xã, thành phố tạo môi trường trao đổi hàng hóa. Thực hiện chính sách thị trường mềm dẻo, đa phương, đa dạng, coi trọng vấn đề chiếm lĩnh thị trường tại chỗ bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm để đảm bảo sức cạnh tranh. Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp xúc, khảo sát thị trường, tiếp cận với những thông tin dự báo thị trường nhằm mở rộng phạm vi tiêu thụ sản phẩm. Thông tin thị trường đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong giải pháp thị trường. Cần tăng cường công tác thông tin thị trường, giao trách nhiệm cho một bộ phận thường xuyên theo dõi, thu thập, xử lý và phổ biến tiếp thị. 4.6.3. Giải pháp về mặt kỹ thuật 4.6.3.1. Đẩy mạnh công tác qui hoạch sử dụng đất cấp làng, thôn Một trong những tồn tại của việc sử dụng đất đai nông nghiệp là công tác quy hoạch sử dụng đất cấp thôn, làng chưa được quan tâm, dẫn đến việc phát triển sản xuất manh mún, không đảm bảo số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hoá theo yêu cầu của thị trường. Quy hoạch sử dụng đất vi mô nhằm điều chỉnh cơ cấu cho phù hợp với từng loại đất đai, từ đó lựa chọn các loại cây trồng vật nuôi, các mô hình canh tác cho phù hợp, bố trí sản xuất hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất cấp thôn, làng là một biện pháp kỹ thuật được tiến hành trước tiên cho sản xuất nông nghiệp. 4.6.3.2. Tăng cường công tác chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp Người dân cần được đào tạo và chuyển giao kỹ thuật mới để họ có cơ hội tiếp cận với những tiến bộ mới về khoa học và công nghệ, đồng thời ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn vào các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và văn hoá xã hội. Các yếu tố này lại thay đổi không ngừng theo thời gian và theo các vùng địa lý khác nhau. Do vậy, khi chuyển giao tiến bộ kỹ thuật phải tuân thủ chặt chẽ các bước chuyển giao. Cơ sở khoa học lựa chọn tiến bộ kỹ thuật cho một địa phương cụ thể phải đáp ứng được một số tiêu chuẩn sau: - Phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp địa phương như đất đai, khí hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ tập quán,... - Khai thác được tiềm năng thế mạnh ở địa phương. - Đơn giản, đầu tư vốn ít, đem lại hiệu quả nhanh chóng. - An toàn cho hệ sinh thái của địa phương. - Có thị trường tiêu thụ ổn định. - Trong chuyển giao kỹ thuật cần tập trung vào việc hướng dẫn kỹ thuật gây trồng và chăm sóc các loài cây có năng suất cao. 4.6.3.3. Nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ. Nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng là điều kiện tiên quyết để nông hộ có thể tiếp thu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế năng lực của xã là lao động có chất lượng thấp. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực, nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một giải pháp hết sức quan trọng góp phần thực hiện thành công định hướng sử dụng đất. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ về giống cây trồng, chế biến vào sản xuất nông nghiệp. Đầu tư các dây chuyền công nghệ cho chế biến nông sản. Kết hợp với các viện nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới nhằm chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất, phát triển sản xuất hàng hóa với chất lượng cao hơn theo nhu cầu của thị trường. Gắn công tác khuyến nông với sản xuất theo cơ chế thị trường, chú trọng vào các khâu giống mới, dịch vụ sản xuất, mô hình sản xuất kinh doanh giỏi, mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ khuyến nông tiếp cận với người sản xuất, thực hiện các hợp đồng chuyển giao và tiếp nhận khoa học kỹ thuật và dịch vụ khoa học công nghệ. Tăng cường áp dụng việc bón phân hợp lý, cân đối và phòng trừ sâu bệnh đúng quy trình. Kết hợp tưới tiêu, cải tạo lại đồng ruộng với việc luân canh cây trồng cho phù hợp. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp như hoàn thiện hệ thống giao thông đáp ứng cho nhu cầu vận chuyển sản phẩm và vật tư nông nghiệp. Đẩy mạnh việc kiên cố hoá hệ thống mương tưới, tăng cường bơm tiêu úng cục bộ trong mùa mưa, đặc biệt cần nghiên cứu để có các vùng sản xuất sản phẩm sạch, an toàn với công nghệ cao. Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận Phong Hòa là xã có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế hiện chưa được khai thác triệt để. Nằm ở vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là nông nghiệp, và có hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy thuận tiện cho việc giao lưu với các địa phương khác trong tỉnh và các tỉnh khác. Xã có nhiều điều kiện thuận lợi để hội nhập, cùng phát triển với các địa phương khác. Tuy nhiên, sự phát triển chưa tương xứng với điều kiện vốn có. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn chủ yếu vẫn là trồng lúa, lạc, sắn và một số rau đậu khác phục vụ nhu cầu lương thực tại chỗ và thị trường nhỏ chưa vươn xa được. Các sản phẩm của sản xuất nông nghiệp còn khá khiêm tốn cả về chủng loại và số lượng. Kết quả sử dụng đất đai nông nghiệp được đánh giá trên ba mặt: + Hiệu quả kinh tế: Trong những năm qua mặc dù còn gặp nhiều biến động phức tạp nhưng phần lớn diện tích đất đã được đưa vào sử dụng có hiệu quả. Hiệu quả sử dụng đất không ngừng được tăng lên. Một số cây trồng cho hiệu quả kinh tế khá cao, cao nhất là nhóm các cây rau, đậu có giá trị gia tăng đạt 16,60 triệu đồng/ha/vụ. Một số loại hình sử dụng mang lại hiệu quả khá cao trong đó loại hình sử dụng đất rau, đậu - rau, đậu có giá trị gia tăng cao nhất, đạt 33,20 triệu đồng/ha/năm. Hiệu quả của các cây trồng và các loại hình sử dụng đất ngày càng tăng. Nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất cần tăng diện tích sản xuất cây có giá trị với các cây rau đậu phù hợp trên địa bàn. Tuy nhiên, để kết hợp tốt giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội cần chuyển một phần diện tích lúa Đông xuân - lúa Hè thu sang các loại hình sử dụng đất lúa Đông xuân - rau hoặc rau - lúa Hè thu. + Hiệu quả về mặt xã hội : - Nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho người dân. - Tạo việc làm cho người lao động. - Nâng cao dân trí, xây dựng xã hội văn minh giàu đẹp. + Hiệu quả về mặt môi trường: - Bảo vệ và nâng cao độ phì, giảm sự ôi nhiễm cho đất - Hạn chế tác động tàn dư của các loại hóa chất đến con người và sinh vật. 5.2. Kiến nghị + Xã nên triển khai đồng bộ các giải pháp giúp nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở tận dụng tiềm năng đất đai và kinh tế xã hội của vùng. + Cần phải xác định tính phù hợp của các loại hình sử dụng đất để giải quyết các vấn đề sau: - Việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất tạo thành một hệ thống hợp lý, một lớp che phủ thực vật bảo vệ, có khả năng bồi dưỡng độ màu mỡ của đất, không gây xói mòn hoặc làm thoái hoá, không ảnh hưởng xấu đến môi trường. - Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn thuận lợi cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. - Các loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế, đưa lại thu nhập cao cho nhân dân. - Các loại hình sử dụng đất phù hợp với kinh tế và điều kiện sản xuất của địa phương. + Để có những giải pháp thiết thực hơn nữa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bền vững đất đai nông nghiệp trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, các công trình nghiên cứu tiếp theo cần đi sâu vào một số khía cạnh sau: - Cần tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu tình hình sử dụng đất đai nông nghiệp ở cấp xã trên các vùng miền đại diện để có những tổng kết đánh giá và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai nông nghiệp ở tất cả các địa phương trong toàn quốc. - Cần đi sâu phân tích hiệu quả của mô hình sản xuất nông lâm kết hợp cũng như chủng loại cây ăn quả, cây nông nghiệp nhằm lựa chọn và đề xuất được chủng loại cây trồng và các mô hình sử dụng đất hiệu quả nhất, có hiệu quả cả về kinh tế lẫn xã hội và môi trường giúp địa phương phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, góp phần ổn định kinh tế xã hội và môi trường sinh thái. Phần 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Bài giảng kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Huế [2]. Nguyễn Văn Bộ, Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXBNN, Hà Nội 2000. [3]. Lê Thanh Bồn, Giáo trình Thổ Nhưỡng Học, Đại học Nông Lâm Huế, 2002. [4]. Chế độ sở hữu đất đai theo quan niệm của Mác và anghen, Tạp chí Địa chính, số 1, trang 11. [5]. Đại từ điển kinh tế thị trường. Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, Hà nội 2000, trang 262, 963. [6]. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của một số xã thuộc huyện Hương Trà, tỉnh thừa Thiên Huế. Khóa luận tốt nghiệp. [7]. Đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá huyện Gia Lộc - tỉnh Hải Dương, luận văn cao học. [8]. Hội khoa học đất. Đất Việt Nam. NXB NN, Hà Nội 2000. [9]. Đinh Duy Khánh, Đoàn Công Quỳ, Đánh giá hiệu qủa kinh tế sử dụng đất canh tác huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. [10]. Luật Đất đai 2003- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. [11]. Đỗ Nguyên Hải, Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp, Khoa học đất, số 11, trang 120. [12]. ThS. Nguyễn Thị Hải, Bài giảng quy hoạch sử dụng đất, Đại học Nông Lâm Huế, 2005. [13]. Phòng tài nguyên và môi trường, Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai năm 2008. [14]. Thực trạng quản lý và sử dụng đất đai ở xã Sông Trà, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam, khóa luận tốt nghiệp. [15]. Ủy ban nhân dân xã Phong Hòa, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2006, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2007. [16]. Ủy ban nhân dân xã Phong Hòa, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2007, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2008. [17]. Ủy ban nhân dân xã Phong Hòa, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2009. [18]. Ủy ban nhân dân xã Phong Hòa, Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết xã phong hòa đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. [19]. Ủy ban nhân dân xã Phong Hòa, Tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2007 và kế hoạch sử dụng đất năm 2008. [20]. Ủy ban nhân dân xã Phong Hòa, Tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2008 và kế hoạch sử dụng đất năm 2009. Phần 7. PHỤ LỤC Qua điều tra và thu thập chúng tôi thu được kết quả sau: Bảng 14. Giá trị sản xuất của một số loại hình sử dụng đất chính tại xã Phong Hòa. ( Đơn vị tính: Triệu đồng/ha ) Loại cây trồng chính Giá hiện hành ( Đồng/kg ) Sản lượng ( Tạ ) Giá trị ( Triệu đồng ) Lúa Đông xuân - lúa Hè thu 4000 117,00 46,08 Lúa - Khoai lang 4000 3000 58,86 50,00 38,54 Lúa - Lạc 4000 9500 58,86 18,00 40,64 Lạc, Sắn - Khoai lang 9500 1000 3000 18,00 170,00 50,00 49,10 Lạc, đậu - Khoai lang 9500 2200 3000 18,00 110,00 50,00 56,30 Sắn, đậu - Khoai lang 1000 2000 3000 170,00 110,00 50,00 54,00 Sắn, Khoai lang - Rau, đậu 1000 3000 2200 170,00 50,00 110,00 56,20 Rau, đậu - Rau, đậu 2200 220,00 48,40 Bảng 15. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Lúa Đông xuân - lúa Hè thu trên một ha. Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 480 7000 3,36 Lân 800 3300 2,64 Kali 320 14 000 4,48 Công 200 (công) 50 000 10,00 Giống 200 6000 - 8000 1,2 - 1,6 Máy móc ( quy ra thóc ) 640 4000 2,56 Nước ( quy ra thóc ) 320 4000 1,28 Chi phí khác 4,00 Tổng cộng: 29,72 Bảng 16. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Lúa - Khoai lang trên một ha Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 340 7000 2,38 Lân 430 3300 1,49 Kali Công 200 (công) 50 000 10,00 Giống 100 6000 - 8000 0,6 - 0,8 2,00 Máy móc ( quy ra thóc ) 320 4000 1,28 2,00 Nước ( quy ra thóc ) 160 4000 0,64 Chi phí khác 3,00 Tổng cộng: 23,49 Bảng 17. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Lúa - Lạc trên một ha Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 340 7000 2,38 Lân 800 3300 2,64 Kali 320 14 000 4,48 Vôi 600 900 0,54 Công 200 (công) 50 000 10,00 Giống 100 100 6000 - 8000; 16000 0,6 - 0,8 1,60 Máy móc ( quy ra thóc ) 640 4000 2,56 Nước ( quy ra thóc ) 160 4000 0,64 Chi phí khác 3,30 Tổng cộng: 28,84 Bảng 18. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Lạc, Sắn - Khoai lang trên một ha Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 300 7000 2,10 Lân 430 3300 1,42 Kali 120 14 000 1,68 Vôi 600 900 0,54 Công 260 (công) 50 000 13,00 Giống 100 16000 1,60 0,30 + 2,00 Máy móc + Trâu 2,00 + 2,00 Chi phí khác 3,600 Tổng cộng: 30,24 Bảng 19. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Lạc, đậu - Khoai lang trên một ha Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 280 7000 1,96 Lân 450 3300 1,48 Kali 90 14 000 1,26 Vôi 600 900 0,54 Công 260 (công) 50 000 13,00 Giống 100 16 000 1,6 1,00 + 2,00 Máy móc + Trâu 2,00 + 2,00 Chi phí khác 3,90 Tổng cộng: 30,74 Bảng 20. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Sắn, đậu - Khoai lang trên một ha Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 280 7000 1,96 Lân 50 3300 0,16 Kali 90 14 000 1,26 Công 220 (công) 50 000 11,00 Giống 0,30 + 1,00 2,00 Máy móc + Trâu 2,00 + 2,00 Chi phí khác 3,60 Tổng cộng: 25,28 Bảng 21. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Sắn, Khoai lang - Rau, đậu trên một ha Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 275 7000 1,92 Lân 80 3300 0,26 Kali 60 14 000 0,84 Công 260 (công) 50 000 11,00 Giống 0,30 + 2,00 1,00 Máy móc + Trâu 2,00 + 2,00 Chi phí khác 1,00 + 1,30 1,40 Tổng cộng: 25,02 Bảng 22. Chi phí trung gian trong loại hình sử dụng đất Rau, đậu - rau, đậu trên một ha Các chỉ tiêu Trọng lượng (Kg/ha) Đơn giá Tổng số tiền (Triệu đồng) Phân bón Đạm 150 7000 1,00 Lân 100 3300 0,33 Kali Công 120 (công) 50 000 6,00 Giống 2,00 Máy móc + Trâu 3,00 Chi phí khác 2,80 Tổng cộng: 15,2 Phiếu điều tra nông hộ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.doc
Luận văn liên quan