Luận văn Nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh tiểu học

Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu từ sự tri giác cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, hiểu cái đẹp theo cách người ta thường nói về nghệ thuật. Sự tri giác cái đẹp được hiểu là quá trình cảm thụ cái đẹp mà kết quả của nó là những rung cảm thẩm mỹ, những tình cảm thẩm mỹ. Cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới, người Việt Nam luôn trân trọng cái đẹp và giàu có xúc cảm thẩm mỹ. Điều này thể hiện khá đậm nét trong những truyện cổ tích Việt Nam. Các nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích là hiện thân của cái đẹp. Chúng được tác giả dân gian gửi gắm những quan niệm đẹp về đạo lí, về tình người. Hình tượng các nhân vật trong truyện cổ tích là sự kết hợp của nhiều yếu tố, song cái đẹp cũng đóng góp vào sự hình thành cũng như sự hoàn thiện hình tượng nhân vật đó.

pdf99 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 05/12/2015 | Lượt xem: 2337 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh tiểu học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi hồn nhiên, ngây thơ và hiếu động. Các em không thể ngồi hàng giờ nghe thuyết giảng về bài học đạo đức hay bài lí luận về nhân cách. Trong phân môn Kể chuyện, các em sẽ được giáo dục về kiến thức, về đạo đức và phát triển nhân cách. Chương trình phân môn Kể chuyện ở Tiểu học được xây dựng dưới những dạng bài sau: kể chuyện theo tranh, kể chuyện đã nghe đã đọc, kể chuyện được chứng kiến tham gia. Tuy nhiên, truyện cổ tích được xây dựng trong phân môn Kể chuyện chủ yếu ở hai dạng chính là kể chuyện theo tranh và kể chuyện đã nghe đã đọc. 65 Dạng bài kể chuyện theo tranh được sử dụng ở tất cả các lớp. Với dạng kể này, học sinh không tiếp cận trực tiếp với văn bản kể chuyện mà thông qua hệ thống tranh được in sẵn trong sách giáo khoa, các em sẽ nghe lời giáo viên kể, sau đó tự mình kể lại toàn bộ câu chuyện. Ở dạng bài kể chuyện đã nghe đã đọc (chủ yếu xuất hiện ở lớp 4, 5), học sinh sẽ kể lại những câu chuyện mà mình được nghe, được đọc trong sách giáo khoa, trên báo chí, nghe qua truyền hình, để kể lại. Đặc biệt Nhà xuất bản Giáo dục đã phát hành cuốn Truyện đọc ở từng khối lớp để bổ trợ cho phân môn Kể chuyện. Với mỗi chủ đề học sinh lại được đọc những câu chuyện khác nhau, trong đó có cả truyện cổ trong nước và nước ngoài. Khi học sinh kể chuyện dù theo lời của mình, lời tác giả hay lời nhân vật, thì các em đều được hóa thân vào câu chuyện. Đây chính là hình thức dạy học mới giúp các em không chỉ đứng ngoài nhận xét mà còn được “sống” trong câu chuyện. Một dạng nữa cũng rất phổ biến. Đó là dạng kể lại câu chuyện đã học ngay sau giờ Tập đọc. Loại truyện này chủ yếu thực hiện ở lớp 2 và lớp 3. Nhờ được đọc nhiều lần và tìm hiểu kĩ câu chuyện, các em có thể kể lại câu chuyện đó một cách dễ dàng dựa trên trí tưởng tượng của mình. Trong phân môn Tập làm văn, truyện cổ tích cũng góp phần không nhỏ vào dạng bài văn kể chuyện và văn miêu tả. Truyện cổ hình thành cho học sinh kỹ năng xây dựng cốt truyện, xây dựng đoạn văn, luyện tập phát triển câu chuyện hay tả ngoại hình, tả hành động. Với phân môn này các em không chỉ dừng lại ở đọc văn bản hay kể lại chuyện, các em được tự sáng tạo ra câu chuyện dựa trên những hiểu biết của mình. Tiếp cận với những truyện cổ tích trong sách Tiếng Việt, chúng tôi còn nhận thấy truyện cổ cũng được chọn lựa khá phong phú, nhân vật trong truyện 66 đa dạng. Nhân vật là con người có nhiều loại: đạo sĩ, có dì ghẻ, bố ghẻ; nhân vật là lực lượng siêu nhiên có bà Tiên, ông Bụt Truyện về nhân vật là trẻ thơ trong truyện cũng được chú ý tới để đưa vào chương trình dạy học. Những truyện đó đều rất sâu sắc, thông qua các hoạt động đọc và kể lại trong quá trình dạy học dẫn dắt học sinh nhận thức được nội dung câu chuyện và hướng tới mục đích giáo dục nhận thức và giáo dục đạo đức cho các em. 3.2. Ý nghĩa giáo dục đối với học sinh Tiểu học, thông qua việc dạy các phân môn có truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ Trong quá trình giáo dục, Tiểu học là bậc học đầu tiên, là bậc học xây nền tảng vốn tri thức cho mỗi học sinh. Cũng vì thế, đây là bậc học quan trọng trong việc hình thành và phát triển các kiến thức và kĩ năng sống cho mỗi học trò. Xây dựng chương trình giáo dục, các nhà khoa học xác định mỗi môn học khi được lựa chọn sẽ thực hiện một nhiệm vụ và đảm nhiệm một mục tiêu giáo dục nhất định. Không là ngoại lệ, Tiếng Việt bậc Tiểu học được lựa chọn cũng theo định hướng ấy. Việc dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học hướng tới những mục tiêu sau: 1. Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói), để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. 2. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. 3. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen gìn giữ sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách Việt Nam cho học sinh. 67 Từ định hướng ấy, việc lựa chọn nội dung các kiến thức cho từng phân môn đều thể hiện mục đích giáo dục cho học sinh. Truyện cổ tích là một trong những mảng kiến thức được lựa chọn và triển khai dạy từ lớp 1 đến lớp 5 ở nhiều khía cạnh khác nhau. Việc lựa chọn những tác phẩm ấy đều gắn với những mục đích giáo dục nhất định cho học sinh Tiểu học. Thông qua những câu chuyện về thế giới nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích của Nguyễn Đổng Chi và Nguyễn Cừ, ta có thể nhận ra nhiều bài học cho con người và bồi dưỡng năng lực văn – tiếng Việt cho các em. 3.2.1. Giáo dục nhận thức * Giáo dục kĩ năng sống: hiểu biết thêm về xã hội, biết được những gì giá trị, những gì phi giá trị Khi mở sách Tiếng Việt chúng ta thấy các em được học bài theo rất nhiều chủ điểm như: Gia đình (Tiếng Việt 1), Ông bà (Tiếng Việt 2), Măng non (Tiếng Việt 3), Truyện cổ tích là món quà mà người nghệ sĩ dân gian tặng cho trẻ thơ. Những trang văn có mặt trong sách Tiếng Việt của học sinh Tiểu học, ngoài việc hình thành, phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết hay bồi dưỡng đạo đức thì thông qua câu chuyện chúng còn hướng tới giáo dục các em nhận thức về một xã hội còn những bất công, những mảnh đời bất hạnh. Chẳng hạn trong truyện Sự tích tiếng kêu ác! ác! cho các em nhận ra sự bất công giữa người lao động thuộc tầng lớp dưới và tầng lớp trên – giữa kẻ thống trị và người bị thống trị. Cha mẹ Sim và Sam là người bị áp bức, chà đạp, nhà Đạo trong Mường là kẻ cậy thế bức người nghèo khó. Gia đình nhà Sim và Sam là người ở cho nhà Đạo trong Mường. Làm vất vả nhưng gia đình họ bị đối xử thậm tệ: “Lúc làm được thì nhà Đạo còn cho ăn mỗi ngày hai bữa cơm muối. Nhưng khi họ ốm thì rau củ cũng không có mà ăn”. Không chỉ có 68 cha mẹ em bé làm giúp cho họ, mà hai đứa trẻ còn ít tuổi cũng bị sai khiến làm việc. Nào đi chăn vịt, trông con cho nhà Đạo. Lỡ may làm sai, hay không làm được thì bị chửi mắng, rồi làm ngựa cho con cháu nó cưỡi. Cuộc sống vất vả, tủi cực chỉ được trả công với bữa ăn đạm bạc duy trì cuộc sống. Nhưng rồi tai họa liên tục ập đến gia đình ấy. Người cha bị gãy tay không còn làm được nhiều việc như trước, Đạo đã không cho gia đình em bé ở lại, lấy cớ để đuổi đi. Sau bao năm đi ở, đổi lại, họ chỉ có một con dao cùn và chiếc cuốc mẻ. Đó là tài sản duy nhất mà nhà Đạo cho họ mang theo. Bất công cho người đi ở, làm đầy tớ. Sống một cuộc sống cơ cực, để rồi khi không còn giá trị bị hắt hủi, đuổi đi tay trắng. Đó chính là thực trạng của xã hội có giai cấp, có áp bức bóc lột. Truyện cổ tích cũng giúp các em nhỏ tuổi nhận thức được những cảnh đời trái ngược đang tồn tại giữa dân gian: “kẻ ăn không hết, người lần không ra”. Những nhà giàu có thừa mứa của cải thóc gạo, chiêng ché, ruộng vườn như ông cậu (Lươn thần và cậu bé nghèo khổ); như cụ Bá (Con mối làm chứng) hầu hết các các em bé lại phải cơ hàn, khổ cực. Tiếp xúc với cổ tích, các em còn nhận biết được những giá trị và những gì phi giá trị. Đặc biệt, học sinh nhận biết được lẽ phải, trái, chính, tà, trắng, đen, thiện, ác, tốt, xấu, Thông qua câu chuyện của các nhân vật trẻ thơ trong cổ tích, học sinh Tiểu học cũng sáng rõ hơn những loại người khác nhau trong xã hội. Từ những nhận biết như thế sẽ hình thành trong các em những tình cảm tốt đẹp, sự yêu ghét đúng. Ví như đọc / nghe Mồ Côi xử kiện (Tiếng Việt 3, tập 1), cac em hẳn sẽ vỡ lẽ ra rằng, lão chủ quán cơm kia bức người quá đáng, tham lam một cách vô lí để đoạt tiền của người lương thiện. Việc làm đó của lão chủ quán thật 69 xấu. Các em cũng sẽ nhận thức ra một điều: Người yếu đuối hay bị kẻ mạnh ức hiếp. Và, các em cũng thấy vui vì lẽ phải đã được bảo vệ. Khi đọc / nghe những truyện cổ tích có nhân vật trẻ thơ là nhân vật trung tâm, các em còn nhận ra những cuộc đời trong xã hội cũ đau thương và bất hạnh. Hầu hết nhân vật trẻ thơ trong những lời kể có những cuộc sống khốn khó (Lươn thần và cậu bé nghèo khổ, Sự tích chim hít cô, Sự tích chim đa đa ). Cậu bé trong truyện Lươn thần và cậu bé nghèo khổ là đứa trẻ mồ côi. Trong nhà chí có người già và bé thơ yếu ớt, cô đơn không thể có được cuộc sống bình thường như mọi người. Hay trong Sự tích chim hít cô, không chỉ có hoàn cảnh bất hạnh: là trẻ mồ côi, sống với người cô già, cuộc sống của họ lúc nào cũng thiếu thốn. Cặm cụi mò cua, bắt ốc, hái mót cũng không đủ ăn. Mà em bé còn chịu một số phận bất hạnh, sau bao nhiêu cố gắng để tồn tại trên cõi đời này, thì đứa trẻ thơ dại chỉ vì sự tham, ích kỉ của người cô mà phải chết. Chết trong tủi cực, chết vì đói trong căn nhà nghèo khổ. Chú bé trong Chiếc bật lửa thần, chú bé chịu nỗi đau mất cha mẹ khi còn nhỏ, không nơi nương tựa, lại phải một thân một mình đương đầu với cuộc sống mưu sinh. Em lang thang, ăn mày, duy trì sự tồn tại bằng sự bố thí của mọi người. Đạo lí làm con hiếu kính cha mẹ được biểu hiện rõ trong Sự tích bàn chân người bị lõm. Cậu bé Pja lấy phần “thịt người chết” trong làng mang về không ăn, cất lên gác bếp sấy khô. Để sau này bảo toàn thi hài mẹ, hành động đó thể hiện lòng hiếu thảo sâu sắc. Đó là tình cảm của người con dành cho bậc sinh thành. Khi mẹ chết, đạo làm con cậu ngày đêm túc trực bên mẹ, thịt trâu, xẻo thịt bàn chân mình để người mẹ ra đi được yên lòng. Những câu chuyện như thế, lẽ nào không gợi lên ở các em tình cảm mẫu tử thiêng liêng? 70 Truyện Con mối làm chứng lại cho các em sự thú vị bất ngờ. Ở đó các em có thể nhận biết được bản chất của kẻ tham lam, lật lọng dù đó là kẻ giàu có. Cụ Bá chẳng thể nuốt lời, lường gạt đứa trẻ. Xưa nay, con trẻ hay bị người lớn “bắt nạt”. Đọc truyện này, các em sẽ lớn lên một chút, cứng cỏi hơn trước những tình huống bị người lớn lấn át. * Hình thành và bồi dưỡng trí tưởng tượng, khả năng tư duy Nghiên cứu truyện cổ tích viết cho thiếu nhi, các nhà khoa học đều thống nhất rằng: Cổ tích là một thể loại đặc biệt của văn chương, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và tưởng tượng, hư cấu. Vì vậy, những yếu tố kì diệu nảy sinh, thể hiện khát vọng của con người. Đó là lý do tại sao cổ tích là sản phẩm mang đậm chất hư cấu, tưởng tượng. Hư cấu, tưởng tượng trong cổ tích gắn liền với đặc điểm của trẻ em. Với trí tưởng tượng phong phú, các em có thể nghe và cảm nhận được theo cách riêng của tuổi thơ. Cổ tích giúp các em phát triển trí tưởng tượng một cách lành mạnh và qua đó làm giàu trí tuệ cho học trò. Chẳng hạn như truyện Cô bé trùm khăn đỏ (Tiếng Việt 1, tập 2), được sử dụng vào dạy học phân môn Kể chuyện. Trong phân môn này, học sinh sẽ thực hiện kể câu chuyện theo tranh và rút ra ý nghĩa. Đặc điểm của phân môn này ở lớp 1, học sinh khi học kể chuyện với tranh sẽ có những câu hỏi gợi ý theo từng bức tranh. Điều đó giúp các em dễ dàng hơn trong việc nắm bắt nội dung câu chuyện cũng như hình thành ở các em thao tác tư duy, tưởng tượng để xâu chuỗi nội dung câu chuyện và biểu đạt ra thành lời. Ứng với mỗi bức tranh được xây dựng có những câu hỏi cụ thể: Bức tranh 1: Khăn Đỏ được mẹ giao việc gì? Từ hình ảnh bức tranh vẽ (người mẹ đưa giỏ bánh cho cô bé), với gợi ý câu hỏi các em dễ dàng nhận ra nhiệm vụ mà người mẹ giao cho cô bé. Đó là: 71 Mẹ giao làn bánh cho Khăn Đỏ, dặn Khăn Đỏ mang bánh cho bà, nhớ đừng la cà dọc đường. Bức tranh 2: Khăn Đỏ bị sói lừa như thế nào? Bức tranh vẽ cô bé và sói đang nói chuyện. Từ đó sẽ giúp các em liên tưởng tới cuộc trò chuyện giữa sói và cô bé. Cô bé đã bị lừa như thế nào? Khi biết Khăn Đỏ đi sang nhà bà ngoại, chó sói cố gắng hỏi nhà bà ngoại cô bé và dụ dỗ em đi theo đường rừng với âm mưu để ăn thịt cả hai bà cháu. Bức tranh 3: Sói đến nhà bà làm gì? (Sói đến để ăn thịt người bà trước sau đó cải trang làm bà ngoại cô bé để ăn thịt em). Khăn Đỏ hỏi gi? (Khăn Đỏ liên tục đặt ra các câu hỏi với người bà là Sói đóng giả: Sao hôm nay tai bà to thế? Sao hôm nay tay bà to thế? Sao hôm nay mồm bà to thế?). Sói trả lời thế nào? (Tương ứng với mỗi câu hỏi của cô bé là câu trả lời của Sói: Tai bà to để bà nghe cháu được rõ hơn. Tay bà to để ôm cháu được chặt hơn. Mồm bà to để ăn cháu được dễ hơn. Bức tranh 4: Bác thợ săn làm gì khi thấy sói? (Bác thợ săn đã lấy dao rạch bụng sói và đã cứu được hai bà cháu bị sói ăn thịt). Khăn Đỏ hiểu ra điều gì sau câu chuyện? (Khăn Đỏ đã ân hận và nhận ra rằng: Từ nay mình phải nhớ lời mẹ dặn, đi đâu không được la cà dọc đường. Ý nghĩa truyện: qua câu chuyện khuyên các em phải biết vâng lời cha mẹ. Đi đâu không được la cà dọc đường, đi đến nơi về đến chốn. Tương tự như bức tranh 1, 2 thì bức tranh 3, 4 có các câu hỏi gợi ý rất cụ thể để học sinh nắm bắt nội dung câu chuyện. Mỗi bức tranh thể hiện nội dung một đoạn câu chuyện, việc phân chia tương ứng với các bức tranh và định ra các câu hỏi gợi ý là một cách thức giúp các em khi chỉ mới ở lớp 1 72 dần dần hình thành các kỹ năng tư duy và sử dụng tiếng Việt, học cách diễn đạt. Trong giờ học kể chuyện, học sinh kể từng đoạn như vật sẽ gợi cho các em cách tư duy móc nối các tình tiết, từ đó hình thành nên cốt truyện và rút ra ý nghĩa truyện. Truyện Bông hoa cúc trắng (thuộc chủ điểm gia đình) cũng được sử dụng trong phân môn Kể chuyện của lớp 1. Giống như câu chuyện trên học sinh sẽ thực hiện kể lại câu chuyện theo tranh và bước đầu rút ra ý nghĩa. Bức tranh 1:Người mẹ ốm nói gì với con? (Trong một túp lều, người mẹ ốm nằm trên giường, trên người đắp một chiếc áo. Bà nói với con gái ngồi bên: “Mẹ thấy trong người mệt lắm. Con mời thầy thuốc về đây cho mẹ”. Bức tranh 2: Cụ già nói gì với cô bé? (Trên đường đi tìm thầy thuốc cô bé gặp một cụ già râu tóc bạc phơ. Ông nhận làm thầy thuốc. Sau khi xem bệnh cho mẹ cô bé xong. Cụ bảo: Bệnh mẹ cháu nặng lắm. Cháu hãy đi đến gốc đa đầu rừng, hái cho ta một bông hoa cúc trắng thật đẹp về đay để ta làm thuốc. Bức tranh 3: Cô bé làm gì sau khi hái được bông hoa? (Theo lời thầy thuốc cô bé đã hái được bông hoa nhưng bỗng cô nghe văng vẳng bên tai tiếng cụ già: Mỗi cánh của bông hoa sẽ là một ngày mẹ cháu được sống thêm. Cô bé đã xé mỗi cánh hoa ra thành nhiều sợi. Bức tranh 4: Câu chuyện kết thúc như thế nào? (Điều kì lạ đã xảy ra, mỗi sợi biến ngay thành một cánh hoa nhỏ, dài mượt và trắng bóng. Mẹ cô bé đã sống lại. Đó là phần thưởng cho tấm lòng hiếu thảo của cô bé). Ý nghĩa truyện: Ca ngợi tình yêu mẹ, lòng hiếu thảo của cô bé trong truyện đã làm cho trời đất cũng cảm động, giúp cô chữa khỏi bệnh cho mẹ. Truyện Cô bé trùm khăn đỏ và truyện Bông hoa cúc trắng, là hai câu chuyện đều được sử dụng trong chủ điểm gia đình.Không chỉ với mục đích 73 rèn các kĩ năng kể chuyện, thao tác tư duy của trẻ mà bên cạnh đó còn hướng tới mục đích giáo dục đạo đức theo từng chủ điểm. Cụ thể trong chủ điểm này, giáo dục các phẩm chất mang khía cạnh gia đình (như vâng lời mẹ, hiếu thảo). Với hệ thống câu hỏi trải dài toàn bộ câu chuyện, khi tìm hiểu bài với từng câu hỏi sẽ giúp hình thành dần kiến thức bài học cho các em. Từng bước rèn luyện thao tác tư duy, tưởng tượng của học sinh. Trong phân môn Kể chuyện, không giống với ở lớp 1, ở lớp 2 các em kể chuyện theo tranh nhưng không có câu hỏi gợi ý. Mức độ rèn khả năng ghi nhớ (hồi tưởng lại, tưởng tượng lại câu chuyện), cũng như thao tác tư duy, khả năng diễn đạt câu chuyện được tăng lên. Trong Cậu bé thông minh (Tiếng Việt 3, tập 1), phân môn kể chuyện có yêu cầu như sau: Dựa vào các tranh (được in trong sách giáo khoa), kể lại từng đoạn của câu chuyện Cậu bé thông minh. Sách Tiếng Việt đưa ra 6 hình ảnh trong 3 ô tranh “lớn” có đánh số thứ tự. Giáo viên căn cứ vào vưn bản truyện trong phần Tập đọc trước đó để hướng dẫn học sinh hình dung ra nội dung của “từng đoạn” có diễn tả qua từng ô: - Ở ô số 1: Có 3 hình ảnh, đó là một cai lính đang cầm chiếc loa, một đoàn người dân đang lắng nghe người cầm loa nói và hình ảnh con gà trống với những quả trứng gà. Ngày xưa, thời vua chúa khi cần báo tin gì thường hay sai sứ giả cầm loa đi khắp nơi báo tin. Đó là gợi ý giúp các em tìm ra nội dung. Đó là việc ông vua hạ lệnh cho mỗi làng trong vùng nộp một con gà trống biết đẻ trứng, nếu không sẽ bị trị tội. Cậu bé thưa với cha nói chuyện với làng, cấp tiền cho hai cha con lên kinh gặp vua. 74 - Ở ô số 2: Có 2 hình ảnh, đó là một người lớn đang bé đứa trẻ và cậu bé gặp Đức Vua. Tương ứng với ô số 2 có nội dung: Cậu bé đã nghĩ cách để cho vua thấy lệnh của ngài là vô lí. Cậu bé kêu khóc om sòm trước cung vua. Khi gặp vua rồi cậu nói lí do tại sao như vậy. Đó là vì bố cậu bé đẻ em bé bắt đi xin sữa, không xin được nên bị đuổi đi. Cậu chuyện kể của cậu bé khiến đức vua thấy vô lí ở chỗ tại sao đàn ông sao đẻ con được. Khi đó cậu bé mới nhắc lại lệnh vua ban cho làng để nhà vua thấy sự vô lí đó và xóa lệnh vua ban đi. - Ô số 3: Có 1 hình ảnh. Đó là sứ giả đang cầm một chiếc kim và cậu bé trên tay cầm con chim. Nội dung của ô này là: Nhà vua lại thử tài cậu bé một lần nữa, sai người đem đến cho cậu bé một con chim sẻ và yêu cầu cậu bé lầm ba mâm cỗ. Trước tình huống đó cậu bé đã đưa cho sứ giả một chiếc kim khâu, nhờ nhà vua rèn cho thành một con dao sắc để xẻo thịt chim. Qua thử thách vua đã tìm được người tài giỏi, ban thưởng cho cậu bé. Vậy là qua từng ô giúp học sinh tư duy phân tích và trí nhớ cốt truyện. Truyện Mồ côi xử kiện (Tiếng Việt 3, tập 1), được dạy trong hai phân môn Tập đọc và Kể chuyện. Ở phân môn Tập đọc, cũng có giải nghĩa hai từ là: “công đường” và “bồi thường” để giúp học sinh hiểu rõ hơn ý nghĩa của từ liên quan nội dung truyện. Phần Tập đọc có bốn câu hỏi được sử dụng giúp học sinh tìm hiểu nội dung truyện. Trong đó, ba câu liên quan tới nhân vật (bác nông dân và Mồ Côi). Câu hỏi cuối cùng đòi hỏi học sinh hiểu toàn bộ câu chuyện và gợi cho các em khả năng sáng tạo. Hệ thống câu hỏi được sử dụng: 1. Chủ quán kiện bác nông dân về điều gì? (Về tội, bác vào quán hít mùi thịt của lơn quay, gà luộc, vịt rán mà không trả tiền). 75 2. Tìm câu nêu rõ lí lẽ của bác nông dân? (Tôi chỉ vào quán ngồi nhờ để ăn miếng cơm nắm. Tôi không mua gì cả). 3. Tại sao Mồ Côi bảo bác nông dân xóc 2 đồng bạc đủ 10 lần? (Vì tiền chủ quán đòi bác phải trả 20 đồng, bác chỉ có 2 đồng nên phải xóc 10 lần thì mới thành 20 đồng. Như vậy, bác nông dân đã bồi thường cho chủ quán đủ số tiền. Một bên hít mùi thịt, một bên nghe tiếng bạc. Thế là công bằng. 4. Em hãy thử đặt tên khác cho truyện? (Với câu hỏi này yêu cầu học sinh hiểu truyện và có sự sáng tạo để đặt tên khác cho truyện mà vẫn phù hợp với nội dung câu chuyện. Học sinh có thể đặt là, Mồ Côi phân xử hay Công lí... Phân môn kể chuyện yêu cầu: Dựa vào các tranh (sau) kể lại câu chuyện Mồ Côi xử kiện. Vậy là ở bài này yêu cầu cao hơn truyện Cậu bé thông minh. Sách đòi hỏi học sinh khả năng sắp xếp, gắn kết cốt truyện và khả năng khái quát trí nhớ toàn bộ cốt truyện. Với 4 ô trang lớn. 3.2.2. Giáo dục bồi dưỡng năng lực Văn – Tiếng Việt Ở Tiểu học, việc dạy học các phân môn của Tiếng Việt hướng tới nhiệm vụ hình thành và phát triển các năng lực ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết). Cũng từ mục tiêu ấy, nội dung tri thức về ngôn ngữ Tiếng Việt được tổ chức giới thiệu thành các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu. Mỗi phân môn được triển khai với một muc đích nhất định, đảm nhiệm một kỹ năng nhất định. Đối với phân môn Tập đọc, thông qua quá trình đọc và “giải mã” các đơn vị ngôn ngữ giáo viên có thể hướng học sinh rút ra những giá trị về nội dung và nghệt thuật của tác phẩm. Để làm được điều đó, giáo viên phải căn cứ vào ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện qua văn bản. Việc phân tích, giải mã các đơn vị ngôn ngữ phải gắn với dụng ý nghệ thuật của tác giả, để qua đó hiểu và đánh giá đúng giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm. 76 Truyện cổ tích Em bé thông minh (Tiếng Việt 3, tập 1), được sử dụng trong cả ba phân môn Tập đọc, Kể chuyện và Chính tả. Trong phân môn Tập đọc khi rèn kĩ năng đọc kết hợp với giải nghĩa từ, học sinh đọc phần chú giải. Đó là phần nêu những từ khó hiểu trong câu chuyện và được giải nghĩa, giúp học sinh có thêm vốn từ để làm văn cũng như sử dụng trong giao tiếp. Nội dung phần chú giải của bài được in trong sách giáo khoa: - Kinh đô: nơi vua và triều đình đóng. - Om sòm: ầm ĩ, gây náo động. - Trọng thưởng: Tặng cho phần thưởng lớn. Bên cạnh một số từ khó đã có sẵn trong phần chú giải, giáo vien cũng có thể đưa ra thêm một số từ khó hiểu nữa và giải nghĩa sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Ví dụ trong bài này, giáo viên giải thích cho học sinh vè từ “Sứ giả”. Đối với phân môn Chính tả, khi đặt câu hỏi: Những chữ nào trong bài Chính tả được viết hoa? Với câu hỏi này học sinh dễ dàng chỉ ra các chữ được viết hoa trong văn bản truyện: Thứ nhất là các chữ ở đầu dòng, các chữ sau các dấu chấm câu (dấu ., dấu ?, dấu !) Thứ hai là các chữ thuộc danh từ “Đức Vua”, Hai chữ này được viết hoa để chỉ sự tôn kính (trong truyện, chữ “Đức Vua” có 4 lần xuất hiện). Những chữ khác như “ông vua”, “nhà vua” ở trong văn bản thì viết bình thường, không viết hoa. Những danh từ chỉ người khác cũng không viết hoa. Ví như “cậu bé”, “sứ giả”. Ở nghĩa sâu sắc hơn, học sinh có thể trả lời. Hai chữ / từ Đức vua đều xuất phát từ lời của cậu bé tâu bày với Đức Vua hoặc nới về Đức Vua trong câu chuyện. Cách sử dụng như vậy cho thấy giá trị biểu cảm của lời nói, thái 77 độ cung kính, sự hiểu biết thông minh của cậu bé thôn dân, của thần dân đối với đấng chí tôn. Ở phân môn Chính tả: văn bản truyện Cậu bé thông minh, người làm sách lại lưu ý thêm về cách diễn đạt về dấu câu “:”. Lời nói của cậu bé được diễn đạt sau những dấu câu nào ? Học sinh có thể trả lời rằng: Lời nói của cậu bé được đặt sau dấu “:”. Đây là dấu câu cho biết lời đối thoại của nhân vật. Trước khi nhân vật thoại, thì văn bản phải dùng dấu đó. Ở phân môn Chính tả, qua ngữ liệu Cậu bé thông minh, thầy cô giáo cần lưu ý học sinh cách viết hoa cho đúng các trường hợp. Đó là sau câu hỏi, sau dấu “:”. Hơn nữa, để rèn luyện kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh tiếp cận các tuyến nhân vật, về cử chỉ, hành động, lời nói của nhân vật, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu ngữ điệu sao cho phù hợp. Ví dụ: truyện Cậu bé thông minh (Tiếng Việt 3, tập 1), có mặt trong ba phân môn Tập đọc, Kể chuyện và Chính tả. Ở phân môn Tập đọc, căn cứ vào diễn biến câu chuyện thì đối với nhân vật em bé mỗi nhân vật chúng ta có những giọng điệu khác nhau. Nghiên cứu văn bản tác phẩm còn giúp giáo viên có thể áp dụng vào quá trình dạy học kể chuyện cho học sinh Tiểu học. Phân môn Kể chuyện có mặt hầu hết trong sách Tiếng Việt Tiểu học ở các lớp. Truyện Cô bé trùm khăn đỏ (Tiếng Việt lớp 1), Cậu bé thông minh (Tiếng Việt lớp 3). Từ những cốt truyện, những đặc trưng nghệ thuật của truyện cổ tích (hư cấu, tưởng tượng, đối chiếu, so sánh nhân vật), giáo viên sẽ có điều kiện tạo và sử dụng các đồ dùng trực quan phục vụ cho hoạt động kể chuyện, giúp giờ kể chuyện của giáo viên thêm sinh động, hấp dẫn. Học sinh sẽ thích thú và dễ nhớ, dễ hiểu khi giáo viên trình bày câu chuyện. 78 Ví dụ: Khi dạy phân môn Kể chuyện với câu Chuyện Cô bé trùm khăn đỏ (Tiếng Việt 1, tập 2), học sinh kể từng đoạn của truyện, khi giáo viên tổ chức cho học sinh đóng vai, để việc phân vai trở nên hứng thú, hấp dẫn hơn với trẻ, giáo viên nên cho các em trang phục mặt nạ Sói, quàng khăn đỏ cho cô bé. Cũng từ những hiểu biết về văn bản, đặc biệt là những hiểu biết về các tuyến nhân vật mà học sinh có thể đóng kịch, diễn lại nội dung câu chuyện. Những hiểu biết về thế giới nhân vật sẽ giúp các em có những lời nói, hành động, cử chỉ, ngữ điệu phù hợp với nhân vật. Đây là cơ sở giúp giáo viên có thể áp dụng khi dạy phân môn kể chuyện cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 3. Đối với lớp 4, 5, từ những hiểu biết về ngôn ngữ, các em sẽ biết cách sử dụng các yếu tố ngôn ngữ ấy để kể lại nội dung câu chuyện. Các em có thể vận dụng cách sử dụng ngôn từ mà tác giả đã dùng để kể lại, cũng có thể kết hợp ngôn ngữ truyện với ngôn ngữ của các em. Điều đó hướng tới mục đích giúp cac em biết dùng lời riêng để kể lại đúng nội dung câu chuyện. Khi nghiên cứu thế giới nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích của hai tác giả Nguyễn Đổng Chi và Nguyễn Cừ, cũng tạo ra những cơ sở phục vụ cho việc dạy học phân môn Tập làm văn. Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện cổ tích ta có thể tìm hiểu khả năng sử dụng ngôn ngữ để miêu tả nhân vật giúp học sinh kể lại một sự việc, câu chuyện nào đó. Đây cũng là hoạt động cần thiết khi tạo lập văn bản. Muốn kể lại được một câu chuyện dưới dạng văn bản các em cân phải tìm hiểu nhân vật. Thành công của nghệ sĩ dân gian khi sáng tạo truyện cổ tích không chỉ ở việc tạo ra cốt truyện mà còn ở cách diễn xướng. Nó có nghĩa là kể chuyện như thế nào? Bởi truyện dân gian sáng tác để kể mà không phải để đọc. Chính là cách kể chuyện đó ra sao? Giọng điệu kể ở đây không đơn giản là một tín 79 hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói mà còn là một giọng điệu mang nội dung, tình cảm, thái độ ứng xử trước các hiện tượng đời sống. Đây cũng là một yếu tố có thể được vận dụng khi dạy kiểu bài văn kể lại một kỉ niệm khó quên, hay kể lại một câu chuyện mà em yêu thích nhất trong những truyện đã được học, đặc biệt là kể lại một câu chuyện cổ tích mà theo lời một nhân vật trong câu chuyện đó. Khi dạy kiểu bài này, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh cách sử dụng các tính từ chỉ đặc điểm, tính chất; các động từ chỉ hành động, cử chỉ; cac từ láy có tác dụng gợi hình, gợi cảm; chú ý tới cách diễn đạt khi đặt nhân vật vào từng hoàn cảnh khác nhau, trong mỗi hoàn cảnh thì nhân vật hiện lên với những hành động, thái độ như thế nào? Để có thể làm nổi bật nhân vật trong truyện kể về mọi khía cạnh thì trong quá trình hướng dẫn học sinh tạo lập văn bản, trong cổ tích trang bị cho các em những cách thức diễn đạt sáng tạo, độc đáo. Khi kể lại truyện Cô bé quàng khăn đỏ, tác giả đã rất linh hoạt, phù hợp, khi hồn nhiên, vui tươi, dí dỏm, khi lại xót thương. Đối với từng nhân vật mà có giọng kể khác nhau. Ví như: - Câu mở đầu câu chuyện: kể khoan thai. - Từ đoạn sau đến đoạn Khăn Đỏ và bà bị Sói ăn thịt: giọng kể tăng dần căng thẳng. Lời Khăn Đỏ nói với Sói: ngây thơ, hồn nhiên. Lời Sói lúc ngọt ngào khi dỗ Khăn Đỏ vào rừng chơi; lúc ồm ồm, rồi hăm dọa khi giả giọng bà lão trả lời cháu. - Đoạn kết truyện: với giọng hồ hởi. Bài học mà Khăn Đỏ rút ra cho mình: Đọc chậm rãi, thâm thía. Giọng đối với nhân vật sói mang tính chất hả hê còn đối với nhân vật cô bé trong lời đối thoại với chó sói mang tính chất dí dỏm. Sự biến hóa trong cách kể của tác giả thật tài tình. Bên cạnh đó hành động, tính cách của nhân 80 vật cũng được thể hiện khá sinh động. Qua tác phẩm này, các em có thể học và vận dụng vào lối diễn đạt các trạng thái cảm xúc của bản thân. Khi tạo lập văn bản kể chuyện, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh cách tác giả xây dựng nhân vật. Nhân vật phải được khắc họa qua các yếu tố như tạo ra các hành động, lời nói, suy nghĩ, tâm lý, tính cách nhân vật đó. Điều đó được thể hiện cụ thể sinh động bằng cách hướng dẫn các em sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: so sánh, nhân hóa, Ở sách Tiếng Việt 4, trong phân môn Tập làm văn khi hướng dẫn học sinh kể lại hành động của nhân vật, giáo viên có thể mượn đoạn trích trong truyện Cậu bé thông minh, lấy hành động, lời nói, cử chỉ của cậu bé khi đối đáp trả lời ông vua: “Đến trước cung vua, cậu bé kêu khóc om sòm. Vua cho gọi vào, hỏi: - Cậu bé kia, sao dám đến đây làm ầm ĩ ? - Muôn tâu Đức vua – cậu bé đáp – bố con mới đẻ em bé, bắt con đi xin sữa cho em.Con không xin được, liền bị đuổi đi. Vua quát: - Thằng bé này láo, dám đùa với trẫm! Bố ngươi là đàn ông thì đẻ sao được! Cậu bé bèn đáp: - Muôn tâu, vậy sao Đức vua lại ra lệnh cho làng con phải nộp gà trống biết đẻ trứng ạ? Vua bật cười, thầm khen cậu bé, nhưng vẫn muốn thử tài cậu lần nữa.” Từ đoạn trích này, giáo viên phân tích hành động, việc làm của cậu bé: Trước lệnh của ông vua cả làng lo sợ chỉ có cậu bé bình tĩnh, rồi mạnh dạn dũng cảm vào cung để gặp vua. Cậu đã nghĩ ra một cách khiến vua phải thán phục. Sự thông minh, dí dỏm của cậu bé đã giúp cả làng thoát tội. Những cử chỉ, hành động, thái độ của cậu bé cũng chính là sản phẩm của sự sáng tạo 81 nghệ thuật thông qua cách thức xây dựng nhân vật. Còn giọng kể đoạn truyện, đối với nhân vật Đức Vua oai nghiêm khi hỏi cậu bé tại sao lại kêu ầm ĩ, giọng bực tức khi cậu bé kể lại lí do khóc. Cậu bé với ngữ điệu từ tốn, khoan thai. Luyện từ và câu là phân môn dạy về các đơn vị ngôn ngữ và cách thức sử dụng các đơn vị ngôn ngữ ấy vào quá trình tạo ra các sản phẩm giao tiếp. Nghiên cứu thế giới nhân vật trong truyện cổ tích cũng giúp người giáo viên hiểu và nắm được cách sử dụng, sáng tạo các đơn vị ngôn ngữ của tác giả và tận dụng chúng làm kiến thức hướng dẫn học sinh khi dạy Luyện từ và câu ... Khi dạy cho học sinh so sánh hay nhân hóa, giáo viên có thể mượn những câu, những đoạn trong truyện cổ tích, giúp các em nhận thấy rõ đặc điểm, cấu trúc của hai biện pháp này. Ví dụ, khi dạy về biện pháp so sánh, giáo viên có thể chọn câu: “Trời ơi! Cháu sợ quá! Trong bụng sói, tối đen như mực.” (Trích Cô bé trùm khăn đỏ) Hay khi dạy cho học sinh về biện pháp nhân hóa, giáo viên có thể mượn lời nói, suy nghĩ, tình cảm, thái độ của loài vật. Chẳng hạn lời con Sóc nói với cô bé (Cô bé trùm khăn đỏ). “Đi được một quãng thì gặp Sóc, sóc nhắc: - Cô bé quàng khăn đỏ ơi, lúc nãy tôi nghe mẹ cô dặn đi đường thẳng, đừng đi đường vòng cơ mà. Sao cô lại đi đường này?” Như vậy thông qua các câu chuyện, các em còn được học và có cơ sở vận dụng những lối nói, cách viết, cách diễn đạt sáng tạo mới lạ. Chính những hoạt động ấy sẽ giúp các em vừa củng cố, vừa có thể mở rộng phát triển vốn từ. Đó cũng là cơ sở để phát triển vốn ngôn ngữ cho các em. 82 3.2.3.Giáo dục đạo đức Các truyện cổ tích được có mặt trên trang sách Tiếng Việt đề cập đến những nội dung vô cùng phong phú. Đằng sau những lời kể bình dị ấy ta có thể rút ra khá nhiều bài học làm người hữu ích cho các em. Suy cho cùng, xưa nay dù con người nói tới những truyện về thế giới khác như yêu ma, quỷ quái, hay hoa, lá, cỏ cây, ... thì kết lắng lại vẫn là ý nghĩa nhân sinh. Những truyện cổ tích ở sách Tiếng Việt có thể giúp các em nhận ra những bài học bổ ích như: Bài học tu luyện bản thân để trở thành người tốt; bài học về cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình và xã hội; bài học nhận thức về thế giới thiên nhiên và qua đó biết cách ứng xử với thế giới thiên nhiên. Có thể nói, truyện cổ tích tái hiện những mảnh đời, những số phận, những nhân vật, những ước mơ tốt đẹp Ở đó cũng chứa đựng tình cảm giản dị, đời thường mà con người dành cho nhau. Đấy là tình cảm giữa những người thân trong gia đình, tình cảm bạn bè, tình cảm với thiên nhiên. Truyện cổ tích còn tái hiện bức tranh cuộc sống, con trẻ nhận biết và học được nhiều điều hữu ích. Dạy cho các em biết vâng lời cha mẹ, không ham chơi để rồi không nghe theo lời mẹ dặn, đó là lời nhắc nhở trong truyện Cô bé quàng khăn đỏ (Tiếng Việt 1). Cô bé mải mê ham chơi, hái hoa, bắt bướm mà đi theo đường vòng dù được Sóc nhắc nhở phải nghe theo lời mẹ dặn nhưng cô vẫn đi đường vòng để rồi gặp phải chó sói, may có bác thợ săn cứu mà hai bà cháu thoát chết. Đó là một bài học khiến cô bé không bao giờ dám làm sai lời mẹ dặn nữa. Lòng hiếu thảo, ngoan ngoãn thương yêu mẹ của người làm con. Lại được nói tới, thấm thía qua truyện Bông hoa cúc trắng (Tiếng Việt 1). Đấy là một câu chuyện vô cùng xúc động về lòng hiếu thảo của cô bé đối với người 83 mẹ sinh thành của mình. Khi người mẹ ốm, cô bé tận tụy ngày đêm chăm sóc bên mẹ mình. Theo lời của thầy thuốc, cô bé đã không quản ngại gió rét. Trên người chỉ phong phanh một manh áo mỏng nhưng em đã chạy đi tìm bông hoa cúc trắng để về làm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Khi biết mỗi cánh hoa là một ngày mẹ cô được sống thêm, cô bé đã nghĩ cách để mẹ được nối dài những ngày mẹ sống. Em đã xé mỗi cánh hoa ra nhiều sợi. Chính tấm lòng hiếu thảo của đứa con đã khiến ông Tiên cảm động và chữa khỏi cho người mẹ. Đó là một phần thưởng xứng đáng cho tấm lòng hiếu thảo của người làm con. Thời nay, xã hội có nhiều việc lo toan bận bịu, con người ít quan tâm đến nhau hơn. Thậm chí những quan hệ thiêng liêng ruột thịt cũng có thể không được gắn kêt như xưa. Gia đình ít con cái nên người làm bố mẹ chiều, lo lắng cho các con, khiến con cái có thể sao nhãng đạo hiếu của mình. Con cái hư hỏng làm đau lòng cha mẹ. Ban đầu có thể chỉ là việc cỏn con như cô bé quàng khăn đỏ kia, rồi sau thành chuyện lớn hơn. Lòng yêu thương, xót xa, nguyện vọng thành kính của đứa trẻ trong Bông hoa cúc trắng kia thật cỏm động biết nhường nào. Đọc những truyện như thế, chắc con trẻ không thể không có tình cảm, suy nghĩ gì. Có thể một ngày nào đó người thân yêu, cha hay mẹ đau ốm, chúng sẽ không thờ ơ, vô tư mà chơi đùa. Chắc chúng sẽ ân cần hơn? Không chỉ hiếu thảo với cha mẹ, mà cac em còn cần biết yêu thương, biết cách ứng xử với mọi người khác trong gia đình như ông, bà, anh, chị em. Tiền bạc cũng cần cho cuộc sống nhưng nó vẫn không thể thay thế được tình thương. Cổ tích không chỉ phác họa những mối quan hệ trong giao đình mà còn là những mối quan hệ con người với con người ngoài xã hội. Thông qua lời kể 84 về nhân vật trẻ thơ, mối quan hệ của các em với những nhân vật khác nhau, truyện đem đến cho ta bài học tương thân tương ái của con người. Các truyện Chiếc bật lửa thần, Mồ côi xử kiện, Lươn thần dạy cho các em tình cảm “thương người như thể thương thân”. Chú bé xử kiện trong truyện Mồ côi xử kiện (Tiếng Việt 3, tập 1), đã giúp bác nông dân thắng lão chủ quán. Em vừa thông minh vừa có lòng nghĩ cho người khác. Được giàu có sung sướng chú bé (Chiếc bật lửa thần) không hương một mình mà đem vàng bạc chia cho những người khổ trong khắp thiên hạ Những cử chỉ đẹp đẽ giữa con người và con người trong đồng loại như thế sẽ nhen nhóm trong mỗi con người tình cảm tốt đẹp hơn. Có lẽ sau năm 2015, Sách giáo khoa của các bậc học sẽ có thay đổi lớn. Đã đến lúc chúng ta không chỉ dạy chữ mà còn phải dạy đạo đức, dạy cách làm người lương thiện, con người có văn hóa ứng xử. Bài học đạo đức chẳng bao giờ thừa đối với học sinh. Đặc biệt là lứa tuổi bậc Tiểu học. Trí thông minh là một nhân tố không thể thiếu của người lao động ở mọi thời đại, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Qua một số lời kể, trí thông minh giúp con người vượt qua nhiều rắc rối. Thậm chí lâm vào hoàn cảnh hiểm nguy cũng vẫn có thể hóa giải. Trí thông minh là một nhân tố cơ bản để phân biệt con người với muôn loài. Chúng ta có thể thấy chiến thắng của con người có được là nhờ tài trí. Thay đổi tình thế như cậu bé trong truyện Cậu bé thông minh là một ví dụ. Sự tác động tới các em khái niệm trí thông minh là trừu tượng nhưng được truyện cổ tích cụ thể hóa, đơn giản hóa qua những giờ kể chuyện. Câu chuyện kể về một cậu bé ở một vùng nọ, khi nhận được lệnh của vua yêu cầu cả làng phải nộp cho vua một con gà trống biết đẻ trứng, nếu không thì phải chịu tội. Trong khi tất cả mọi người lo sợ thì chỉ có cậu bé bình tĩnh thưa với cha rằng, hãy báo làng cấp tiền cho hai cha con lên kinh để gặp 85 Đức vua, lo việc cho làng. Cậu bé đã nghĩ ra cách để đối đáp với lệnh của nhà vua, khiến cho ông vua phải thầm khen. Đó là, cậu đã đưa ra câu chuyện: Bố cậu đẻ em bé, bắt đi xin sữa cho em, để nhà vua thấy sự phi lí. Và rồi từ câu chuyện đó, cậu bé lật ngược lại chuyện vua ra lệnh là quái gở về lệnh vua ban: Tại sao Đức vua lại ra lệnh cho cả làng phải nộp gà trống biết đẻ trứng ? Để khẳng định về trí thông minh của cậu bé nhà vua thử cậu bé thêm một lần nữa. Nhưng cuối cùng Đức vua cũng phải thán phục về tài trí của cậu bé. Nhờ tài trí mà cậu bé đã được trọng thưởng và được nhà vua gửi vào trường học. Như vậy, mỗi truyện cổ tích là một lời nhắc nhở, một lời khuyên hữu ích về cuộc sống, là một bài học làm người. Bài học ấy có thể là giáo dục cho các em những đức tính đáng quý mà các em cần có, cũng có thể là bài học giáo dục cho các em thái độ sống, ý thức của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Đó cũng là lý do khiến truyện cổ tích đồng hành cùng tuổi thơ. 3.2.4. Giáo dục thẩm mỹ Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu từ sự tri giác cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, hiểu cái đẹp theo cách người ta thường nói về nghệ thuật. Sự tri giác cái đẹp được hiểu là quá trình cảm thụ cái đẹp mà kết quả của nó là những rung cảm thẩm mỹ, những tình cảm thẩm mỹ. Cũng như mọi dân tộc khác trên thế giới, người Việt Nam luôn trân trọng cái đẹp và giàu có xúc cảm thẩm mỹ. Điều này thể hiện khá đậm nét trong những truyện cổ tích Việt Nam. Các nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích là hiện thân của cái đẹp. Chúng được tác giả dân gian gửi gắm những quan niệm đẹp về đạo lí, về tình người. Hình tượng các nhân vật trong truyện cổ tích là sự kết hợp của nhiều yếu tố, song cái đẹp cũng đóng góp vào sự hình thành cũng như sự hoàn thiện hình tượng nhân vật đó. 86 Cảm quan thẩm mỹ dân gian không thừa nhận cái đẹp thuần túy ở hình thức mà cái đẹp đi liền với cái tốt, cái thiện. Chính vì vậy, trong mỗi câu chuyện cổ tích, các nghệ sĩ dân gian đã xây dựng các hình tượng nhân vật với một “loại tính”, “lí tưởng”: hiếu thảo, thông minh, nghị lực, nhẫn nại Đó là cái đẹp của phẩm chất và tài trí.. Chẳng hạn, nhân vật cô bé trong truyện Bông hoa cúc trắng, tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã hiểu được đạo lý làm người. Khi người mẹ ốm, cô bé đã bên cạnh chăm sóc mẹ ngày đêm không sợ vất vả. Không ngại gió rét, khi trên người chỉ có manh áo mỏng, cô bé đã đi kiếm bông hoa về làm thuốc cho mẹ, mong mẹ khỏi ốm. Khi chỉ biết mẹ sống được hai mươi ngày nữa, cô đã xé từng cánh hoa ra thành nhiều cánh để mẹ cô có thể sống được thêm nhiều ngày hơn. Tấm lòng hiếu thảo đó của cô bé cảm động tới trời xanh. Nét đẹp tâm hồn của các nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích không chỉ được thể hiện ở sự chăm chỉ, ở tấm lòng hiếu thảo mà còn thể hiện ở sự bình tĩnh, trí thông minh, dù ở hoàn cảnh nào cũng hóa giải được. Trong truyện Cậu bé thông minh, sự bình tĩnh, tài trí của em đã giúp cả làng thoát tội, đồng thời giúp cậu bé khiến nhà vua phải thán phục. Cậu bé được trọng thưởng và được gửi vào trường học để trở thành nhân tài cho đất nước. Khắc họa các nhân vật như thế, dân gian muốn thắp sáng lên ước mơ đẹp về con người mang giá trị chân, thiện mĩ. Các nét đẹp đó khiến các nhân vật trở nên hoàn thiện hơn. Các em học sinh thấy ở những nhân vật trong văn chương sự hấp dẫn, sự khích lệ. Vì yêu quý và trân trọng cái đẹp, tác giả dân gian muốn thông qua các nhân vật trẻ thơ trong cổ tích gợi lên cho trẻ những ước mơ, những mong muốn hướng tới cái đẹp. Truyện cổ tích đưa học sinh đến với cái thiện, cái tốt, lên án cái ác, cái xấu. Trong truyện cổ tích, giấc mơ về một thế giới tươi sáng 87 hơn, một thế giới công bằng bác ái, một thế giới không còn tình trạng người bóc lột người được thể hiện rõ qua phần kết của cổ tích thần kì. Trong truyện Lươn thần và cậu bé nghèo khổ, em bé và người bà già yếu có cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn. Tuy nhiên, một đứa trẻ giàu tình thương, nhẫn nại đã được lươn thần giúp đỡ có cuộc sống tốt hơn. Cuối truyện, hai bà cháu sống bên nhau sung túc đầy đủ, còn người ông cậu tham lam nhận lấy cái chết. Hay trong truyện Sự tích chim đa đa, hai anh em Sim và Sam mồ côi cha mẹ, nương tựa vào nhau mà sống qua ngày. Cuộc sống nghèo khổ dưới túp lều chỉ che được nắng không che được mưa tưởng chừng như thể không vượt qua nổi. Nhưng với tấm lòng thương yêu, quý trọng mọi người đặc biệt là hai em đã cứu giúp bà cụ già (bà Tiên) đã thay đổi cuộc sống của minh. Các em đã có được cuộc sống tốt hơn trước rất nhiều nhờ có bà Tiên giúp đỡ. Có thể thấy, sự nghiêm minh và tấm lòng bao dung, nhân hậu của người sáng tác truyện đã dành cho trẻ thơ để làm nên những lời kể xúc động. Trong các truyện cổ tích luôn chứa đựng cái đẹp của lòng tốt và cái thiện. Đó là giá trị của họ, là sức sống của họ. Những con người nghèo khổ, bất hạnh đã không trả thù, không trừng phạt những người đã gây ra biết bao đau khổ cho mình. Đó là những con người luôn trân trọng tình thương yêu con người. Dù phải đánh đổi lấy bất cứ thứ gì thì họ vẫn luôn đặt tình người lên trên. Như vậy, nội dung phản ánh của tryện cổ tích khá phong phú và sinh động. Nó thể hiện một cách chân thực đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân lao động chứa đựng trong những nội dung ấy là bài học luân lý đạo đức, bài học về tình người, về cách sống là khát vọng vươn tới những điều tốt đẹp. 88 Tiểu kết chương 3 Truyện cổ tích là món quà mà người nghệ sĩ dân gian tặng cho trẻ thơ. Những trang văn có mặt trong sách Tiếng Việt của học sinh Tiểu học. Ngoài việc hình thành, phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết hay bồi dưỡng đạo đức thông qua câu chuyện chúng còn hướng tới giáo dục các em nhận thức về một xã hội còn những bất công, những mảnh đời bất hạnh. Thông qua truyện, những bài học nhận thức và giáo dục đi vào thế giới tình cảm của trẻ thơ rất tự nhiên nhẹ nhàng mà thấm thía. Bằng thống kê, khảo sát, phân tích luận văn đã chỉ ra vị trí, ý nghĩa của việc dùng văn bản truyện cổ tích trong sách Tiếng Việt Tiểu học. Ở đó, cho thấy tác dụng giáo dục về nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ và năng lực văn, Tiếng Việt cho học sinh. Về mặt giáo dục nhận thức, ngoài việc hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, còn hướng tới giáo dục các em nhận thức về một xã hội còn nhiều bất công, những mảnh đời bất hạnh hay nhận thức rõ hơn về những đạo lí của cuộc sống. Về mặt bồi dưỡng năng lực Văn – Tiếng Việt. Thông qua việc khảo sát truyện cổ tích được đưa vào chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Chúng tôi nhận thấy, thông qua các phân môn (Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả), các câu chuyện được triển khai với mục đích nhất định. Chúng có thể giúp hình thành, bồi dưỡng trí tưởng tượng, hay hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. 89 KẾT LUẬN Mỗi nhà văn khi lựa chọn một hình thức thể loại văn học để thể hiện nội dung tác phẩm của mình đều hàm chứa những dụng ý của tác giả nhằm thu hút hứng thú đối với người đọc. Truyện cổ tích là người bạn mấy trăm năm nay của nhân loại, trong đó có trẻ thơ. Truyện cổ tích đặc phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ nhận thức và trí tưởng tượng của các em. 1. Truyện cổ tích với những chủ đề, nội dung khá phong phú, với những nhân vật, những màu sắc khác nhau của chúng nhìn chung đều hướng về con người và xoay quanh vấn đề giáo dục đạo đức cho các em: lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu thương con người, tình cảm mẹ con, anh em bạn bè, ý thức tập thể, học tập lao động và rèn luyện các đức tính thật thà, dũng cảm, yêu điều thiện, ghét điều ác. 2. Mỗi một câu chuyện luận văn khảo sát là những thanh âm trong trẻo về phẩm chất và tình người. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, nhân vật là trẻ thơ trong lời kể cổ tích đa số là những em bé có hoàn cảnh bất hạnh, côi cút, nghèo khổ, lang thang cô đơn nhưng vẫn kiên cường vươn lên trong cuộc sống. Bên cạnh đa số những mảnh đời bất hạnh đó, thì một số ít những trẻ thơ có cuộc sống hạnh phúc, tràn đầy tình thân, những nhân vật này như một chút màu sáng làm bớt đi cái u tối của cuộc sống trẻ thơ trong cổ tích. Nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích có những phẩm cách đáng quý. Nhiều nhân vật trẻ thơ là những em nhỏ chịu thương, chịu khó, nhẫn nại tình cảnh cơ khổ trong cuộc đời kiếm sống nuôi thân và người ruột thịt. Các em cũng hiếu thảo, thật thà, giàu tình thương yêu, thông minh, tài trí, lanh lợi. Thấp thoáng, cũng có những em bé không ngoan, không vâng lời cha mẹ, 90 ham chơi. Đấy cũng là sự thực vốn có ở ngoài cuộc đời. Loại nhân vật này khiến thế giới nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích gần gũi, khách quan hơn. Xây dựng nhân vật trẻ thơ, đem về cho nhân vật cuộc sống tốt đẹp ở phần kết của truyện, nghệ sĩ dân gian thể hiện cái nhìn yêu thương, trìu mến, nhân đạo đối với nhân vật. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ thơ trong lời kể cổ tích cũng là một phần nội dung của chương 2. Thứ nhất, nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ thơ trong mối quan hệ với hoàn cảnh. Đặt nhân vật trong những hoàn cảnh bất thường, người nghệ sĩ dân gian nhấn mạnh tới thân phận bất hạnh của trẻ thơ. Những hoàn cảnh đó đã góp phần làm sáng rõ phẩm chất nhân vật. Khi hoàn cảnh thay đổi, số phận nhân vật cũng thay đổi theo. Để phản ánh cuộc sống với những mâu thuẫn của nó, phản ánh những con người với những sự việc khác nhau do hoàn cảnh, thân phận khác nhau tạo nên. Thứ hai, nghệ thuật khắc họa nhân vật qua hành động. Đây là, biện pháp báo hiệu của cổ tích. Hành động của nhân vật trẻ thơ thể hiện phẩm chất, loại tính của nhân vật; qua hành động thấy được tình cảm, thái độ của nhân vật đối với những loại người khác nhau. Thứ ba, nghệ thuật sắp xếp gắn kết nhân vật. Với đối tượng là những nhân vật trẻ thơ mồ côi, nghèo khổ, hầu như nghệ sĩ dân gian lựa chọn mối quan hệ đối lập (thiện – ác, tốt – xấu, nghèo khổ - giàu có,). Ngoài ra, người kể còn sử dụng lực lượng thần kì để phù trợ khi các nhân vật trẻ thơ gặp rủi ro hay tai họa được giải cứu. 3. Cổ tích là thể loại văn học có khả năng thực hiện tốt trên hai phương diện giáo dục và giải trí. Thông qua truyện, những bài học nhận thức và giáo dục đi vào thế giới tình cảm của trẻ thơ rất tự nhiên nhẹ nhàng mà thấm thía. 91 Bằng thống kê, khảo sát, phân tích luận văn đã chỉ ra vị trí, ý nghĩa của việc dùng văn bản truyện cổ tích trong sách Tiếng Việt Tiểu học. Ở đó, cho thấy tác dụng giáo dục về nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ và năng lực văn, Tiếng Việt cho học sinh. Về mặt giáo dục nhận thức, ngoài việc hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, còn hướng tới giáo dục các em nhận thức về một xã hội còn nhiều bất công, những mảnh đời bất hạnh hay nhận thức rõ hơn về những đạo lí của cuộc sống. Về mặt bồi dưỡng năng lực Văn – Tiếng Việt. Thông qua việc khảo sát truyện cổ tích được đưa vào chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Chúng tôi nhận thấy, thông qua các phân môn (Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả), các câu chuyện được triển khai với mục đích nhất định. Chúng có thể giúp hình thành, bồi dưỡng trí tưởng tượng, hay hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Như vậy, người giáo viên có thể áp dụng những hiểu biết về nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích vào qúa trình giảng dạy các phân môn để tạo hứng thú cho học sinh khi học các giờ thuộc phân môn Tiếng Việt. 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lại Nguyên Ân (Biên soạn) (1999), 150 thuật ngữ văn học. NXB ĐHQG, Hà Nội. 2. Trần Mạnh Hưởng (2011), Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam. 3. Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (1987), Văn học dân gian Việt Nam (Tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội. 4. Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (1987), Văn học dân gian Việt Nam (Tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội. 5. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam, NXBĐH & THCN, Hà Nội. 6. Hà Minh Đức (Chủ biên) (1996), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội. 7. Đặng Thị Lanh (chủ biên) (2007), Tiếng Việt 1 (Tập 1 và 2), NXB Giáo dục, Hà Nội. 8. Lã Thị Bắc Lý (2004), Văn học thiếu nhi, NXBĐHSP. 9.Phương Lựu (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXBĐHSP, Hà Nội. 10. Nguyễn Cừ (1994), Truyện cổ tích Việt Nam (Truyện hay – chọn lọc) (tập 1) NXBVH, Hà Nội. 11. Nguyễn Cừ (1994), Truyện cổ tích Việt Nam (Truyện hay – chọn lọc) (tập 2), NXBVH, Hà Nội. 12. Nguyễn Cừ (1994), Truyện cổ tích Việt Nam (Truyện hay – chọn lọc) (tập 3), NXBVH, Hà Nội. 93 13. Nguyễn Cừ (1994), Truyện cổ tích Việt Nam (Truyện hay – chọn lọc) (tập 4), NXBVH, Hà Nội. 14. Nguyễn Đổng Chi (1999), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Tập 1), NXBVNTPHCM. 15. Nguyễn Đổng Chi (1999), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Tập 2), NXBVNTPHCM. 16. Nguyễn Đổng Chi (1999), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Tập 3), NXBVNTPHCM. 17. Nguyễn Đổng Chi (1999), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Tập 4), NXBVNTPHCM. 18. Nguyễn Đổng Chi (1999), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Tập 5), NXBVNTPHCM. 19. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2007), Tiếng Việt 2 (Tập 1 và 2), NXB Giáo dục. Hà Nội. 20. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2007), Tiếng Việt 3 (Tập 1 và 2), NXB Giáo dục. Hà Nội. 21. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2007), Tiếng Việt 4 (Tập 1 và 2), NXB Giáo dục. Hà Nội. 22. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) (2007), Tiếng Việt 5 (Tập 1 và 2), NXB Giáo dục. Hà Nội. 23. Đỗ Bình Trị (1999), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội. 24. Lê Thu Yến (2000), Truyện cổ tích về các loài vật, NXB Giáo dục, Hà Nội. 25. Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương (1998), Giáo trình văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 94 26. Nhiều tác giả (1984), Từ điển văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 27. Vân Thanh, Nguyên An (2002), Bách khoa thư – Văn học thiếu nhi Việt Nam (Tập 1) – Tổng quan, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 28. Hoàng Tiến Tựu (1998), Văn học dân giân Việt Nam (Tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội. 29. Hoàng Tiến Tựu (1998), Văn học dân giân Việt Nam (Tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnhan_vat_tre_tho_trong_truyen_co_tich_va_y_nghia_giao_duc_doi_voi_hoc_sinh_tieu_hoc_5885.pdf
Luận văn liên quan