Tác động của quy luật giá trị tới sự phân hoá giàu nghèo trong thực tiễn kinh tế xã hội nước ta.

Lời mở đầu Chương 1: Lý luận chung về quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa. 1.1 .Tính lịch sử của quy luật giá trị 1.2. Vị trí, nội dung, yêu cầu và cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. 1.3. Tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa. 1.4. Tác dụng của quy luật giá trị tới sự phân hoá giàu nghèo. 1.5 Vấn đề giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường Tiêu chí đánh giá sự đói nghèo: - Của Liên hiệp quốc. - Của Ngân hàng thế giới. - Của Tổng cục thống kê. - Của Bộ Lao động, thương binh và xã hội. - Của Ủy ban dân tộc miền núi. 1.6 Ảnh hưởng của sự phân hoá giàu nghèo. - Đối với sự phát triển kinh tế. - Đối với lĩnh vực chính trị - Đối với lĩnh vực văn hóa - Đối với lĩnh vực xã hội 1.7. Hiện tượng phân hóa giàu nghèo nhìn từ quan điểm phát triển bền vững. Chương 2: Thực trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. 2.1. Phân hóa giàu nghèo ở nước ta trong thời kỳ nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường. - Sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng dân cư. - Chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị. - Chênh lệch về thu nhập giữa các ngành nghề. - Phân hóa giàu nghèo trong nội bộ khu vực nông thôn. 2.2. Những thành tựu bước đầu trong việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân (các chính sách đã thực hiện). Chương 3: Những giải pháp chủ yếu hạn chế sự phân hóa giàu nghèo. 3.1. Tập trung sức mạnh toàn xã hội giải quyết vấn đề xoá đói hộ cực nghèo. 3.2. Tạo điều kiện để các hộ nghèo vươn lên thành các hộ trung bình và khá. 3.3. Hoàn thiện các chính sách phân phối và phân phối lại. 3.4. Tiếp tục đổi mới các chính sách vĩ mô, tạo điều kiện cho đồng bào vùng nghèo phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập (chính sách đất đai, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ). 3.5. Hoàn thiện môi trường pháp lý và thể chế. Kết luận

doc24 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 30/01/2013 | Lượt xem: 16890 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tác động của quy luật giá trị tới sự phân hoá giàu nghèo trong thực tiễn kinh tế xã hội nước ta., để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời Mở Đầu Nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập trung ,bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,thực chất đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.Cùng tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa là những quy luật vốn có của nó ,như quy luật giá trị,quy luật cạnh tranh,quy luật cung cầu…Dưới tác dụng của những quy luật đó là những hệ quả về kinh tế,chính trị,xã hội.Một trong những hệ quả đó là sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Vai trò của quy luật giá trị trong thời kỳ phát triển kinh tế ở nước ta bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp giữa sản xuất và trao đổi hàng hoá là quyết định của sự phát tiển của nền kinh tế, lực lượng sản xuất càn phát triển thì trình độ xã hội của sản xuất ngày càng cao thì phạm vị thực hiện vai trò này càng cần thiết và mức độ đòi hỏi của nó ngày càng chặt chẽ. Trong quá rình phát triển lịch sử xã hội nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau và phát triển từ thấp tới cao. Để đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh cần phải có những thay đổi lớn trong cơ cấu của nền kinh tế. Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước Việt Nam ta còn là một trong những nước có nền kinh tế chậm phát triển. Cở sở hạ tầng thấp kém, trình độ quản lý lạc hâu, khoa học kỹ thuật kém phát triển ... hơn nữa nạn thất nghiệp, tham ô lạm phát, ô nhiễm môi trường ... vẫn luôn là một trong những vấn đề bức xúc chưa hạn chế được.Hiện tại nước ta đó gia nhập WTO, hiện đang trên đà phát triển mạnh,tuy vậy ta cũng không thể một sớm một chiều mà có thể khắc phục được những yếu tố đó mà ta phải dần dần từng bước khắc phục. Sự phân hóa giàu nghèo được nhìn nhận như một tất yếu.Tuy nhiên cần tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh…công nghiệp,dịch vụ, vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động ,vừa đi nhanh vào một số lĩnh vực có công nghệ hiện đại.Phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản,thủy sản,may mặc ,da giày…khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên. Nhưng quá trình công nghiệp hóa với sự tác động của cách mạng khoa học công nghệ tất yếu dẫn đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế,phân công lại lao động xã hội.Tuy nhiên,việc phân công lại lao động xã hội cũng cần phải tuân thủ theo các quá trình có tính quy luật như: Tỷ trọng và số lượng tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần ,tỷ trọng và số lượng tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên.Ở nước ta dự kiến đến năm 2010 tỷ trọng các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm khỏang 40-41%; Nông ,lâm .ngư nghiệp 19- 20%;dịch vụ thương mại 42-43% trong GDP. Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội. Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa còn phải xuất phát từ quy luật phát triển không đều, mỗi nước có lợi thế riêng .Do đó,dựa vào lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối ,đi vào chuyên môn hóa sản xuất,phân công lao động xã hội,đào tạo đội ngũ lao động để sử dụng được những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ .Tham gia tích cực trong hệ thống phân công lao động quốc tế. Chương 1 Lý luận chung về quy luật giỏ trị trong nền kinh tế hàng hóa. 1.1 Tính lịch sử của quy luật giá trị Quy luật giá trị như đa số các quy luật kinh tế khác đều có tính lịch sử. Nó chỉ xuất hiện, tồn tại dựa trên những cơ sở kinh tế xác định. Sự tồn tại và hoạt động của nó không lâu dài như các quy luật tự nhiên.Đây là một đặc điểm hoạt động của quy luật giá trị. Chúng ta nghiên cứu về tính lịch sử để thấy được sự khác biệt giữa quy luật giá trị và các quy luật tự nhiên. “Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị.” Từ nhận định trên ta thấy rằng cơ sở kinh tế xác định cho sự xuất hiện và tồn tại của quy luật giá trị là sản xuất hàng hoá. Vì vậy thông qua những điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá, chúng ta hiểu rõ được tính lịch sử của quy luật giá trị. Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để bán trên thị trường. Cơ sở kinh tế xã hội cho sự ra đời của sản xuất hàng hoá là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt giữa người sản xuất này và người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định. Phân công lao động xã hội là việc chuyên môn hoá người sản xuất vào các nghành nghề khác nhau của xã hội, mỗi một người chỉ sản xuất một hay một vsì sản phẩm nhất định. song nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mỗi người cần nhiều loại sản phẩm. Vì vậy đòi hỏi họ phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau,phụ thuộc vào nhau. Quá trình trao đổi này tuân theo một quy luật nhất định, đó là quy luật giá trị. Ví dụ: trong điều kiện sản xuất tự cung tự cấp, một người vừa trồng dâu,nuôi tằm vừa dệt vải. Khi có sự phân công lao động xã hội thì người nông dân trồng dâu, nuôi tằm,người thợ dệt dệt vải.Người thợ dệt có nhu cầu về tơ sợi, người nông dân có nhu cầu về may mặc.Điều đó làm cho người nông dân và người thợ dệt có mối liên hệ trao đổi với nhau.Sự trao đổi này dựa trên một quy ước.Một quy ước có cơ sở khoa học là tuân theo những yêu cầu của quy luật giá rrị. Quy luật giá trị còn xuất hiện trên cơ sở của sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau quy định. Mỗi người chủ sở hữu tư liệu sản xuất có quyền quyết định việc sử dụng tư liệu sản xuất và những sản phẩm họ tạo ra. Như vậy quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã tách người sản xuất ra riêng rẽ, khác biệt nhau. Trong điều kiện đó người sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm của người khác thì phải thông qua trao đổi sản phẩm lao động cho nhau dưới hình thức mua- bán. Khi đó quy luật giá trị xuất hiện là một cơ sở khoa học để quá trình trao đổi được diễn ra. Các hoạt động kinh tế diễn ra đòi hỏi phải có một cơ sở khoa học. Sự xuất hiện của quy luật giá trị mang tính khách quan là phù hợp với lý thuyết kinh tế. Cho đến nay nền kinh tế hàng hoá vẫn tỗn tại và phát triển, quy luật giá trị vẫn tồn tại và phát triển cùng với cơ sở kinh tế xác định của nó. 1.2. Vị trí, nội dung, yêu cầu và cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa.Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó ,tức là trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong sản xuất,quy luật buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức phí lao động xã hội cần thiết ,có như vậy họ mới có thể tồn tại được .Còn trong trao đổi hay lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá:Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi , mua bán hàng hóa phải thực hiện giá cả bằng giá trị. Theo yêu cầu của quy luật ,những người sản xuất và trao đổihàng hóa phải tuân theo mẹnh lệnh của giá cả thị trường.Sự vận động của giá cả thị trường chính là hình thức biểu hiện của quy luật giá trị.Giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa chính là cơ chế tác động của quy luật giá trị.Cơ chế này phát sinh tác dụng trên thị trường thông qua cạnh tranh, cung-cầu ,sức mua của đồng tiền. 1.3 Tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế chung, nó hoạt động trong tất cả các phương thức sản xuất và lưu thông hàng hoá.Với ba tác dụng cơ bản, quy luật giá trị có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá. Một là quy luật giá trị có tác dụng tự phát điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong sản xuất, quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động giữa các nghành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá. Tác dụng này của quy luật giá trị do nguyên nhân sự biến động của giá cả hàng hoá xung quanh giá trị của hàng hoá. Do quan hệ cung cầu, giá cả hàng hóa trên thị trường lên xuống xung quanh giá trị của nó. Chỉ rõ những sự mất cân đối trong việc phân phối lao động xã hội đối với các nghành sản xuất. Nếu ngành nào đó cung không đáp ứng cầu, giá cả hàng hoá lên cao thì người sản xuất sẽ đổ xô vào nghành đó. Ngược lại, khi nghành nào đó thu hút quá nhiều lao động xã hội, cung vượt quá cầu, giá cả hàng hoá hạ xuống, thì người sản xuất sẽ phải chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi nghành này để đầu tư vào nơi có giá cả hàng hoá cao.Nhờ vậy mà tư liệu sản xuất và sức lao động được phân phối qua lại một cách tự phát vào các nghành sản xuất khác nhau. Sự vận động của giá cả là do quy luật giá trị chi phối. Vai trò quyết định là quy luật giá trị, còn quy luật cung cầu chỉ có tính chất phụ trợ cho quy luật giá trị hoạt động. Quy luật cung cầu giải thích sự biến dạng của quy luật giá trị trong đời thường. Trong lĩnh vực lưu thông, quy luật giá trị có tác dụng điều tiết nguồn hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao. Tác dụng này của quy luật tạo nên sự cân bằng về hàng hoá trên thị trường. Hai là quy luật giá trị tự phát kích thích sản xuất phát triển. Vì lao động xã hội cần thiết là cơ sở của giá cả hàng hoá. Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất nào mà hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết thì thu lợi, còn người nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị thiệt, vì không thu về được toàn bộ lao động đã hao phí. Muốn đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh, mỗi người sản xuất đều phải luôn tìm cách rút xuống đến mức tối thiểu hao phí lao động cá biệt thông qua cải tiến kỹ thuật, tăng suất lao động. Vì thế, trong nền kinh tế hàng hoá, lực lượng sản xuất được kích thích và phát triển nhanh hơn nhiều so với trong nền kinh tế tự cấp, tự túc. Tuy nhiên tác dụng này còn có khuyết tật là do chạy theo sản xuất những hàng hóa có giá cả cao, cho nên tạo ra tình trạng có một loại hàng hoá nào đó được sản xuất ra quá nhiều, dẫn đến hiện tượng dưa thừa, làm lãng phí lao động xã hội. Mặt khác nhiều người sản xuất chỉ chú ý đến lợi nhuận nên hàng hoá có chất lượng kém. Ba là thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo. Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị, lao động cá biệt của mỗi người sản xuất có thể không nhất trí với lao động xã hội cần thiết. Những người làm tốt làm giỏi có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động cần thiết, nhờ đó phát tài, làm giàu, mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng doanh nghiệp của mình. Đây cũng chính là tác động kích thích lực lượng sản xuất phát triển. Những người làm tốt có thể là những người biết ứng dụng những thành tựu mới của khoa học vào sản xuất để giảm hao phí lao động xã hội cá biệt. Bên cạnh đó, những người làm ăn kém cỏi không gặp may, không biết áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nên họ bị lỗ vốn, thậm chí đi đến phá sản. Ví dụ hai công ty dệt may sử dụng dây truyền sản xuất khác nhau. Công ty nào sử dụng dây dây truyền công nghệ mới thì hao phí lao động cá biệt sẽ nhỏ hơn của dây truyền cũ, sản phẩm làm ra có giá thành rẻ hơn mà vẫn bán đúng theo giá thị trường thì công ty đó có lãi. Như vậy quy luật giá trị bảo đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất. tuy nhiên ngay trong quá trình thực hiện sự bình tuyển người sản xuất, quy luật giá trị đã phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo. Người giàu trở thành ông chủ, người nghèo dần trở thành người làm thuê. Lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần sinh ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quan hệ giữa kẻ giàu- người nghèo, quan hệ giữa chủ- thợ, quan hệ giữa tư sản- vô sản là quan hệ đối kháng về lợi ích kinh tế. Sự đối kháng đó tất yếu dẫn đến đấu tranh giữa người nghèo chống lại kẻ giàu, thợ chống lại chủ, vô sản chống lại tư sản. Ngay trong cùng lớp giàu hoặc cùng lớp nghèo với nhau, cũng xảy ra cạnh tranh chèn ép, thôn tính lẫn nhau “cá lớn nuốt cá bé”, gây thiệt hại lợi ích kinh tế của đối thủ một cách tàn nhẫn. Đó cũng là một khuyết tật của nền kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường. Từ những tác dụng của quy luật giá trị ta thấy được mặt trái của quy luật này trong cạnh tranh, do đó cần phải xem xét biểu hiện của nó trong cạnh tranh để có những giải pháp khắc phục khuyết tật. 1.4. Tác dụng của quy luật giá trị tới sự phân hoá giàu nghèo. Trong quá trình cạnh tranh,tất yếu dẫn đến kết quả là:những người có điều kiện sản xuất thuận lợi ,có trình độ,kiến thức cao,trang bị kỹ thuật tốt,giành được lợi thế trong cạnh tranh sẽ giàu lên nhanh chóng, họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất ,mở rộng sản xuất kinh doanh.Sản phẩm họ nhiều người mua vì giá rẻ và có chất lượng dẫn đến họ sẽ giàu lên.Trong lao động,những ai có tay nghề,trình độ cao,có điều kiện thì có được việc làm với mức thu nhập cao. Ngược lại,những người không có các điều kiện thuận lợi,kỹ thuật thấp kém trình độ thấp dẫn đến sản phẩm làm ra có mức hao phí lao động cao ,thiếu sức cạnh tranh hoặc gặp rủi ro kinh doanh,thiên tai thua lỗ dẫn tới phá sản trở thành người nghèo.Tác động này của quy luật giá trị một mặt là sự lựa chọn tự nhiên,đào thải các yếu kém , kích thích các nhân tố tích cực phát triển .Mặt khác phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo.Trong nên kinh tế thị trường,thì sự phân hóa giàu nghèo như là một hệ quả tất yếu và nhà nước xã hội chủ nghĩa cần có sự điều tiết thích hợp để hạn chế sự phân hóa giàu nghèo. Nếu nhìn góc độ giữa quốc gia,quốc gia nào có khoa học kỹ thuật phát triển ,sản phẩm có tính cạnh tranh cao thì là những nước giàu có ,kinh tế và chính trị vững chắc.Còn quốc gia nào có khoa học kỹ thuật nghèo nàn thì cũng nghèo về kinh tế ,ít có tiếng nói trên quốc tế.Đó cũng là hệ quả của quy luật giá trị. 1.5 Vấn đề giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường: a. Tiêu chí đánh giá sự nghèo đói Của Liên Hiệp Quốc Theo chuẩn mực đánh giá của liên hiệp quốc ,ở các nước đang phát triển nói chung,những người có mức thu nhập dưới 1 usd/ngày là thuộc mức nghèo khổ tuyệt đối Của Ngân Hàng Thế Giới Các nhà kinh tế của ngân hàng thế giới đã đề xuất một mức chuẩn quốc tế dựa trên cơ sở tiêu chuẩn của Ấn Độ.Theo đó,ranh giới nghèo đói là mức thu nhập cầ nthiết để có mức cung cấp hàng ngày 2250calo theo đầu người,tương ứng 200usd/người vào năm 1975. Năm 1995,ngân hàng thế giới đưa ra ngưỡng nghèo cho Việt Nam là mức chi tiêu cần thiết cho hộ gia đình mua đủ lương thực ,thực phẩm để cung cấp 2100 calo bình quân 1 ngày ,với giả định hộ giành 70% tổng chi tiêuđể mua lương thực ,thực phẩm,30% còn lại của chi tiêu được giả định là giành cho các khoảng như mặc .giáo dục ,sức khỏe… Của Tổng Cục Thống Kê Cuối năm 1993,tổng cục thống kê đã thực hiện khảo sát giàu nghèo từ 91732 hộ gia đình .Theo tổng cục thống kê,một hộ gia đình được coi là nghèo nếu mức thu nhập không đủ mua gạo cung cấp 2100 calo bình quân một người một ngày .Chỉ tiêu này không cho phép chi tiêu về khỏang phi lương thực ,thực phẩm.Như vậy,chỉ tiêu này là thấp so v7ói chỉ tiêu của ngân hàng thế giới. Của bộ lao động thương binh xã hội Theo thông báo 1751/ld-xh của bộ Lao Động – Thương Binh Xã Hội ngày 20-5 1997,chuẩn mực đối với hộ nghèo đói ở nước ta như sau: Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng dưới 13kg gạo hay 45.000đồng. Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng dưới 15kg gạo hay 55000 đồng đối với khu vực nông thôn,vùng núi hải đảo ;dưới 20 kg gạo hay 70000 đồng đối với khu vực nông thôn, vùng đồng bằng Trung Du :dưới 25kg gạo hay 90000 đồng đối với khu vực thành thị. b.Ảnh hưởng của sự phân hóa giàu nghèo: Đối với sự phát triển kinh tế Nghèo đói đi liền với lạc hậu,chậm phát triển là trở ngại lớn nhất đối với phát triển kinh tế.Nói một cách khác ,xóa đói giảm nghèo là tiền đề của phát triển.Sự phát triển kinh tế- xã hội vững chắc,gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội là nhân tố đảm bảo thành công trong công tác xóa đói ,giảm nghèo.Ngay cả những nước giàu có hoặc đạt trình độ phát triển cao vẫn còn một bộ phận dân cư sống ở mức nghèo khổ.Tuy nhiên mức độ và tỷ lệ dân cư nghèo là rất khác nhau giữa các nước ,các khu vực .Nó phản ánh sự khác nhau về trình độ phát triển ,trước hết là phát triển kinh tế.Net chung ,phổ biến là qua hiện trạng nghèo đói người ta dễ thấy sự phát triển chậm của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu của kỹ thuật, trình độ thấp kém của phân công lao động xã hội.Nó dẫn tới năng suất lao động xã hội và mức tăng trưởng kinh tế luôn ở những chỉ số thấp.Thất nghiệp ,thu nhập không đủ cho chi dùng vật chất tối thiểu,do đó càng không thể có điều kiện chi dùng cho những nhu cầu văn hóa tinh thần để vượt qua ngưỡng tồn tại sinh học ,vươn tới việc thỏa mãn nhu cầu phát triển chất lượng con người.Đó là hiện trạng nghèo đói về kinh tế của dân cư. Tính tất yếu và bức xúc giải quyết vấn đề giảm nghèo còn ở chỗ trong thời đại mở cửa vấn đề hòa nhập và sự bất lợi của nước nghèo, nước chậm phát triển trong quan hệ kinh tế với các nước khác là rất lớn.Nước nghèo luôn thua thiệt trong cạnh tranh kinh tết khi sản phẩm làm ra với chất lượng thấp,giá thành cao hoặc hàng hóa xuất khẩu chủ yếu dưới dạng sản phẩm thô chưa qua tinh chế nên lợi nhuận thu được rất thấp.Với trình độ sản xuất lạc hậu nhiều nước nghèo đang trở thành bãi thải công nghệ lạc hậu của các nước phát triển trong quan hệ hợp tác ,viện trợ kinh tế. Đối với nước nghèo ,tăng trưởng kinh tế với tốc độ chậm sẽ không có vị thế khi đàm phán , ký kết với các nhà đầu tư nước ngoài và sẽ không đủ khả năng tiến hành những hoạt động mang lại lợi nhuận cao như buôn bán và dịch vụ ngân hàng.Vì thiếu những khả năng này mà mianma và Lào để tài nguyên rừng của mình lọt vào tay những công ty khai thác gỗ của Thái Lan. Điều cần nhấn mạnh ở đây là tăng trưởng kinh tế với tốc độ lớn là một trong những điều kiện quan trọng giúp đất nước chống được nạn ngoại xâm về kinh tế.Hơn thế nữa,nước nghèo thường chịu sự áp đặt của các nước giàu,nước phát triển trong quan hệ hợp tác kinh tế.Tiếng nói và vai trò của các nước nghèo trên các diễn đàn quốc tế ít được chú ý.Một nước càng giàu càng mạnh thì càng có khả năng nắm được những lợi thế về kỹ thuật.Tác dụng nghèo đói là rất lớn đối với một quốc gia. Đối với lĩnh vực chính trị xã hội Nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng đến các mặt xã hội và chính trị.Các tệ nạn xãhội phát sinh như trộm cắp ,ma tuý ,mại dâm…Đạo đức bị suy đồi,an ninh xã hội không được bảo đảmđến một mức nhất định có thể dẫn đến rối loạn xã hội.Nếu nghèo đói không được chú ý giải quyết ,tỷ lệ và cấp độ nghèo đói vượt quá giới hạn an toàn sẽ dẫn đến hậu quả về mặt chính trị như mất ổn định chính trị, ở mức cao hơn là khủng hoảng chính trị, đặc biệt nguy cơ”diễn biến hòa bình” và “chiến tranh biên giới mềm”. Nếu không thể giải quyết vấn đề giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung.Như vậy mục tiêu phát triển và bền vững xã hội xã hội chủ nghĩa cũng không thực hiện được . Đối với nước ta bước ngoặc trong sự phát triển hiện nay nếu không tập trung mọi khả năng nguồn lực để xóa đói giảm nghèo sẻ không tạo được tiền đề khai thác và phát triển nguồn lực con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nhằm đưa đất nước tới trình độ tương xứng với khu vực và trên thế giới.Nghèo về kinh tế luôn dẫn đến những sức ép căng thẳng về xã hội và chính trị.Trong quá trình hội nhập sự phụ thuộc nước nghèo vào nước giàu là khó tránh khỏi,bắt đầu là kinh tế rồi đến văn hóa ,hệ tư tưởng chính trị .Do đó chỉ khi nào làm chủ được chiến lược và chính sách phát triển, định hình rõ chiến lược và bước đi trong chiến lược phát triển và có thể khai thác được mọi nhân tố tiềm lực bên trong nhằm vào mục tiêu phát triển thì quá trình tham gia hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài mới có tác dụng tích cực hiệu quả và đạt tới sự bền vững.Ngheo đói của dân cư đang là lực cản kinh tế xã hội lớn nhất đối với các nước nghèo hiện nay trong quá trình phát triển.Và không có một khuôn mẫu duy nhất nào có thể sao chép và áp dụng cho mọi nước để giải quết bài toán kinh tế xã hội này. Đối với lĩnh vực văn hóa Từ nghèo đói về kinh tế dẫn tới nghèo đói về văn hóa.Nguy cơ này rất tiềm tàng và thực sự là một chướng ngại vật đối với phát triển không chỉ ở từng người,từng hộ gia đình và cả cộng đồng,kìm hãm sự phát triển xã hội. Ở một trình độ phát triển thấp nghèo đói về kinh tế luôn là sự nổi trội gay gắt nhất.Do đó mục tiêu phấn đấu là đạt tới sự giàu có .Nhưng sự giàu có chỉ đơn thuần về vật chất,kinh tế mà vắng bóng sự phát triển văn hóa,tinh thần,sự định hướng giá trị sẽ chỉ kíhc thích tính thiển cận,chủ nghĩa thực dụng,sự thiếu hụt hoặc lệch chuẩn về mặt nhân văn,nhân cách con người…Đi phát triển cái xấu,cái ác,làm nghèo nàn,biến dạng cái thiện,cái chân, cái mỹ.Nếu trạng đó xảy ra ở lớp trẻ càng nguy hại, đẩy tới sự nghèo nàn về văn hóa và nhân cách.Nó kìm hãm sự phát triển không kém gì lực cản đói nghèo về kinh tế,thậm chí còn tệ hại hơn vì nó thẩm lậu vào phát triển những yếu tố phản phát triển,chứa chấp các mầm mống của những bệnh hoạn ,suy thoái. Nghèo đói về văn hóa khó nhận thấy và rất dễ rơi vào nhận thức muộn màng ,có khi phải trả giá.Do đó trong khi tập trung mọi nổ lực chống nghèo đói về kinh tế ,cần sớm cảnh báo xã hội nguy cơ nghèo nàn về văn hóa. Chương 2: Thực trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. 2.1. Phân hóa giàu nghèo ở nước ta trong thời kỳ nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường. a. Sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng dân cư. Sự chênh lệch thu nhập giữa các vùng trong những năm gần đây đang có xu hướng gia tăng. So sánh 7 vùng kinh tế sinh thái trong cả nước ,tỷ lệ nghèo đói là rất cao ở vùng miền Núi và Trung Du Bắc Bộ,tiếp đó là vùng Tây Nguy6en và Bắc Trung Bộ.Cả 3 vùng này có tỷ lệ nghèo đói cao hơn mức trung bình của cả nước.Theo số liệu điều tra của tổng cục thống kê 1998,tỷ lệ nghèo của các vùng như sau: Vùng Núi và Trung Du Bắc Bộ 58,6% Đồng Bằng Sông Hồng 28,7% Bắc Trung Bộ 41,8% Tây Nguyên 52,7% Đông Nam Bộ 7,6% Đồng Bằng Sông Cửu Long 36,9% Nguồn:Thời Báo Kinh Tế Việt Nam ,trang 7 Chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư cũng gia tăng.Như phần trên đã phân tích ,mặc dù thu nhập bình quân đầu người của các nhóm dân cư đều tăng lên nhưng nhóm có thu nhập thấp tăng rất chậm so với các nhóm có thu nhập cao.Vì vậy,khoảng cách về thu nhập giữa các nhóm dân cư tăng lên. Chênh lệch thu nhập giữa 20% nhóm hộ có thu nhập cao nhất (nhóm 5) và 20% nhóm hộ có thu nhập thấp nhất ở các vùng.( đơn vị:lần) 1994 1995 1996 Vùng Núi Và Trung Du Bắc Bộ 5.2 5.7 6.1 Vùng Đồng Bằng Sông Hồng 5.6 6.1 6.6 Vùng Bắc Trung Bộ 5.2 5.7 5.9 Vùng Ven Biển Miền Trung 4.9 5.5 5.7 Vùng Tây Nguyên 10.1 12.7 12.8 Vùng Đông Nam Bộ 7.4 7.6 7.9 Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 6.1 6.4 6.4 Nguồn :Bộ Kế Hoạch Đầu Tư Theo số liệu của bộ Lao Động_Thương Binh Xã Hội, ở nước ta năm 1999 còn có khoảng 2 triệu hộ nghèo đói,chiếm tỷ lệ 13% tổng số hộ,trong đó có 300000 hộ thường xuyên thiếu đói (chiếm 2%).Hiện còn có 2/3 số xã miền núi thuộc khu vực III ,khoảng 1,2 triệu người ở 987 xã cần được định canh định cư và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ trực tiếp. Trong tổng số trên 10.000 xã của cả nước ,còn nhiều xã quá khó khăn về 6 công trình cơ sở hạ tầng (678 xã chưa có đường ôtô ,591 xã thiếu phòng học cấp phổ thông ,29 xã thiếu trường ,445 xã chưa có trạm y tế hoặc đã xuống cấp,760 xã chưa có chợ ,941 xã chưa có điện ,564 xã có tỷ lệ trên 50% dân số thiếu nước sạch.Trong đó 1498 xã nghèo đói có 694 xã ở Trung Du và Vùng miền núi phía Bắc Theo sự nhận định về trình độ phát triển vùng dân tộc và miền núi, ở nước ta hiện nay còn có 1715 xã thuộc khu vực III –khu vực khó khăn nhất, trong đó có 1568 xã /4100 xã miền núi và 147 xã vùng đồng bằng ,bao gồm 1,1 triệu hộ với hơn 6 triệu người . Đây là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số,có vị trí quan trọng về chính trị an ninh ,quốc phòng ,môi trường sinh thái (bao gồm 385 xã biên giới đất liền). Theo tổng cục thống kê cho thấy: Tỷ lệ nghèo chung và nghèo lương thực, thực phẩm phân theo vùng (*) % 2002 2004 CẢ NƯỚC Tỷ lệ nghèo chung 28.9 19.5 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 9.9 6.9 Phân theo vùng Đồng bằng sông Hồng Tỷ lệ nghèo chung 22.4 12.1 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 6.5 4.6 Đông Bắc Tỷ lệ nghèo chung 38.4 29.4 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 14.1 9.4 Tây Bắc Tỷ lệ nghèo chung 68.0 58.6 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 28.1 21.8 Bắc Trung Bộ Tỷ lệ nghèo chung 43.9 31.9 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 17.3 12.2 Duyên hải Nam Trung Bộ Tỷ lệ nghèo chung 25.2 19.0 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 10.7 7.6 Tây Nguyên Tỷ lệ nghèo chung 51.8 33.1 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 17.0 12.3 Đông Nam Bộ Tỷ lệ nghèo chung 10.6 5.4 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 3.2 1.8 Đồng bằng sông Cửu Long Tỷ lệ nghèo chung 23.4 19.5 Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm 7.6 5.2 (*) Tỷ lệ nghèo chung là tỷ lệ người nghèo được tính theo chi tiêu bình quân/người/tháng và chuẩn nghèo chung của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới với mức chi tiêu bình quân/người/tháng qua các năm như sau: Năm 2002: 160 nghìn đồng; năm 2004: 173 nghìn đồng. Tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm là tỷ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập bình quân/người/tháng và chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm với mức thu nhập bình quân/người/tháng qua các năm như sau: Năm 2002: thành thị 146 nghìn đồng, nông thôn: 112 nghìn đồng; năm 2004: thành thị 163 nghìn đồng, nông thôn: 124 nghìn đồng. Tỷ lệ hộ nghèo 2002 và 2004 theo chuẩn nghèo áp áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 (14:12 28/07/2005) Căn cứ kết quả chính thức Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2002 và kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004, Tổng cục Thống kê tính toán tỷ lệ (%) hộ nghèo cho năm 2002 và 2004 theo chuẩn nghèo được Thủ tướng Chính phủ ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 (200 nghìn đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn, 260 nghìn đồng/người/tháng cho khu vực thành thị) như sau: Năm 2002 Năm 2004 Cả nước 23,0 18,1 Chia theo khu vực Thành thị 10,6 8,6 Nông thôn 26,9 21,2 Chia theo vùng Đồng bằng sông Hồng 18,2 12,9 Đông Bắc 28,5 23,2 Tây Bắc 54,5 46,1 Bắc Trung Bộ 37,1 29,4 Duyên hải Nam Trung Bộ 23,3 21,3 Tây Nguyên 43,7 29,2 Đông Nam Bộ 8,9 6,1 Đồng bằng sông Cửu Long 17,5 15,3 Kết quả trên đây được tính toán dựa vào số liệu thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình và chỉ số giá tiêu dùng của từng khu vực thành thị/nông thôn qua các năm để loại từ yếu tố biến động giá. Chi tiêu của hộ dân cư Nhờ thu nhập tăng, đời sống dân cư được cải thiện rõ rệt. Năm 1999 tính chung cả nước chi đời sống bình quân đầu người 1 tháng là 221,1 nghìn đồng, tăng bình quân 6,4% trong thời kỳ 1996-1999 và chậm hơn tốc độ tăng thu nhập. Chi đời sống của khu vực thành thị 559,2 nghìn đồng 1 người 1 tháng, tốc độ tăng bình quân 11,6% một năm; Ở nông thôn 175,0 nghìn đồng 1 người 1 tháng, tốc độ tăng bình quân 4,4% một năm. Chi đời sống của các vùng đều tăng, trong đó tăng nhanh là vùng Đông Nam Bộ 9,0%, Đồng bằng sông Cửu Long 8,2%, tăng thấp nhất là vùng Tây Bắc và Đông Bắc. Mức chi tiêu bình quân đầu người năm 1999 của các hộ khu vực thành thị cao gấp 3,1 lần khu vực nông thôn (tỷ số này năm 1996 là 2,5 lần). So sánh chi đời sống bình quân đầu người năm 1999: Khu vực thành thị gấp 3,2 lần khu vực nông thôn; Nhóm hộ giàu (20% số hộ thu nhập cao nhất) gấp 4,2 lần nhóm hộ nghèo (nhóm thấp nhất). - Đáng lưu ý là năm 1999 mặc dù vùng Duyên hải Nam Trung Bộ bị thiên tai lũ lụt, hạn hán ... nhưng mức sống dân cư của cả nước nói chung cũng như các vùng vẫn ổn định và tiếp tục được cải thiện. Chi ăn uống hút năm 1999 bình quân đầu người 1 tháng là 139,98 nghìn đồng, bình quân mỗi năm tăng 4,0% trong thời kỳ 1996-1999, trong đó khu vực thành thị 328,14 nghìn đồng, tăng bình quân 7,8%, khu vực nông thôn 114,98 nghìn đồng, tăng bình quân 2,5%. Cơ cấu chi dùng lương thực, thực phẩm (ăn uống, hút) trong chi đời sống đã giảm xuống, ngược lại chi dùng cho phi lương thực, thực phẩm tăng lên. Cụ thể như sau: TỶ LỆ CHI ĂN UỐNG, HÚT TRONG CHI ĐỜI SỐNG CỦA HỘ Đơn vị tính:% Năm 1996 Năm 1999 CẢ NƯỚC 67,96 63,31 1. Chia theo khu vực - Thành thị 65,77 58,68 - Nông thôn 69,43 65,70 2. Chia theo vùng - Đông Bắc và Tây Bắc 72,64 65,57 - Đồng bằng sông Hồng 66,59 60,50 - Bắc Trung Bộ 67,35 62,99 - Duyên hải Nam Trung Bộ 68,87 63,50 - Tây Nguyên 66,39 65,00 - Đông Nam Bộ 64,93 58,69 - Đồng bằng sông Cửu Long 66,79 63,10 3. Chia theo nhóm thu nhập - Nhóm 1 76,91 72,55 - Nhóm 2 75,27 69,15 - Nhóm 3 72,31 65,70 - Nhóm 4 65,22 60,34 - Nhóm 5 57,65 52,78 - Khi mức sống ổn định và được cải thiện thì chi tiêu cho nhu cầu ăn uống của dân cư tuy có tăng nhưng chậm hơn chi tiêu về các khoản ngoài ăn uống (như may mặc, ở, thiết bị đồ dùng, Y tế chăm sóc sức khoẻ, Giáo dục, văn hoá...). Chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng theo giá thực phân theo vùng: MỨC CHI TIÊU MỘT SỐ KHOẢN NGOÀI ĂN UỐNG BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI 1 NĂM Năm 1996 (1000 đ) Năm 1999 (1000 đ) Chi may mặc Thiết bị, đồ dùng Văn hoá, thể thao Chi may mặc Thiết bị, đồ dùng Văn hoá, thể thao CẢ NƯỚC 124,3 87,4 43,0 137,4 102,6 60,7 1. Chia theo khu vực - Thành thị 251,0 180,5 119,9 325,4 230,9 179,2 - Nông thôn 107,4 74,8 30,5 112,8 86,5 43,9 2. Chia theo vùng - Đông Bắc và Tây Bắc 109,0 70,0 25,6 119,9 91,8 40,3 - Đồng bằng sông Hồng 102,6 100,1 44,6 120,7 124,0 71,9 - Bắc Trung Bộ 94,7 74,8 24,5 101,0 90,4 33,5 - Duyên hải Nam Trung Bộ 112,6 70,3 30,5 122,0 72,7 42,8 - Tây Nguyên 168,8 111,5 58,6 143,8 96,7 74,8 - Đông Nam Bộ 209,6 136,2 105,1 262,4 160,3 150,6 - Đồng bằng sông Cửu Long 135,7 92,0 47,8 161,4 115,7 67,2 - Khối lượng chi dùng một số mặt hàng ăn uống: Tiêu dùng gạo bình quân đầu người 1 tháng giảm từ 13,4 Kg năm 1996 xuống còn 13,1 Kg năm 1999, khu vực thành thị từ 11,2 Kg giảm còn 9,7 Kg. Lượng gạo của các hộ tại 6 trong 7 vùng (trừ vùng Đông Bắc và Tây Bắc) đều giảm; Các mặt hàng: Thịt, mỡ dầu ăn, trứng, đỗ lạc vừng, đường mật... tăng hơn các năm trước. Riêng lượng tiêu dùng quả chín, rau tươi của dân cư khu vực thành thị và các vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ có xu hướng tăng lên. III. Tích luỹ của hộ gia đình Những năm gần đây, đời sống của nhân dân nhìn chung không có những biến động lớn, một bộ phận lớn dân cư được cải thiện đáng kể nhờ có các nguồn thu nhập tăng tương đối ổn định, đặc biệt tốc độ tăng thu nhập từ 1996-1999 tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi tiêu. Vì vậy, ngoài phần chi tiêu dùng cho đời sống hàng ngày, phần lớn các hộ dân cư đã có đầu tư tích luỹ. Chương 3: Những giải pháp chủ yếu hạn chế sự phân hóa giàu nghèo. 3.1. Tập trung sức mạnh toàn xã hội giải quyết vấn đề xoá đói hộ cực nghèo. Chính phủ Việt Nam vừa đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, vừa khuyến khích các khoản đầu tư cá nhân. Các sáng kiến của chính phủ được hình thành để trợ giúp các hoạt động kinh tế thuận tiện hơn, và giúp đỡ người nghèo. Chính sách sẵn sàng mở cửa với thế giới bên ngoài mang lại những thuận lợi về chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý - điều mà Việt Nam rất cần. Và rất nhiều người tin rằng có thể áp dụng tài chính vi mô như một biện pháp quyết định giúp nới lỏng cánh cửa nghèo đói. Vài thập kỷ trước, nhà thơ Nga Anna Akhmatova, đặt ra một thành ngữ: khách mời từ tương lai. Chúng ta tin chắc rằng kinh nghiệm của Việt Nam có thể là một điềm báo trước về vị thế của đất nước này trong tương lai. Nhưng giống như tất cả các vị khách khác, đầu tiên phải được mời, và Việt Nam đã thu hút nguồn các đầu tư bằng sự hăng hái kinh doanh và quyết tâm thoát khỏi đói nghèo. Du lịch bền vững là chìa khoá để giảm bớt đói nghèo Từ ngày 7-9/12/2005 Hội nghị cấp cao về du lịch sẽ nhóm họp tại Bali, In-đô-nê-xi-a để nghiên cứu, thăm dò tiềm năng của ngành công nghiệp du lịch đối với công cuộc giảm nghèo, bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hoá. Hội nghị quốc tế cấp cao về Phát triển du lịch bền vững sẽ sẽ do Tổ chức ESCAP phối hợp cùng Bộ Văn hoá và Du lịch In-đô-nê-xi-a tổ chức. Ngành du lịch đang ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu do những đóng góp lớn lao cho thu ngân sách quốc gia và và tiềm năng tạo việc làm to lớn của ngành. Trong lúc đó, khái niệm về phát triển bền vững đã được công nhận rộng khắp trên thế giới như là cách thức để đảm bảo cho mọi người dân trên toàn thế giới đều có thể được đàp ứng những nhu cầu cơ bản và có được cuộc sống chất lượng hơn, mà không hứa hẹn gì đến chất lượng sống của những thế hệ mai sau. Do vậy, sự phát triển bền vững của ngành du lịch là rất cần thiết cho toàn bộ sự phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các nước. Du lịch cũng sẽ đem lại cho thế giới sự hỗ trợ lớn hơn trong việc thực hiện những mục tiêu thiên niên kỷ. Hội nghị sẽ xây dung những chiến lược nhằm đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ và ổn định lâu dài của ngành du lịch trong khu vực. Một chủ đề khác cũng sẽ được đưa ra bàn thảo tại Hội nghị là vấn đề quản lý khủng hoảng đối với ngành du lịch. Thiên tai như sóng thần gây tai hoạ cho khu vực Nam Á cuối năm 2004 và chủ nghĩa khủng bố cũng như những sự khủng hoảng khác không chỉ tác động đến bản thân ngành du lịch mà còn làm đảo lôn cuộc sống của những người kiếm sống từ du lịch. Thực tế là nhóm người này rất dễ bị tổn thương trước những khủng hoảng như vậy rất cần được sự quan tâm nhiều hơn của những nhà lập chính sách và của xã hội. Hội nghị mong muốn sẽ nâng cao nhận thức của nhưng nhà lập chính sách cũng như nang cao khả năng của họ để những chiến lược hiệu quả hơn được xây dựng và phát triển nhằm khôi phục thị trường và giảm bớt tổn thất của những người làm việc theo ngành du lịch một khi xảy ra khủng hoảng. Hội nghị sẽ đưa ra chu kỳ II của Kế hoạch hành động cho sự Phát triển du lịch bền vững trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhằm nâng cao sự đóng góp của du lịch vào sự phát triển kinh tế-xã hội và xoá đói giảm nghèo thông qua việc tạo cơ hội thuận lợi cho những cộng đồng nghèo được hưởng lợi từ du lịch 3.2. Tạo điều kiện để các hộ nghèo vươn lên thành các hộ trung bình và khá. Đây là giải pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm giảm khoảng cách về thu nhập giữa các hộ giàu và hộ nghèo,hạn chế sự phân hóa giàu nghèo.Để tạo điều kiện cho các hộ, các hộ vừa thoát khỏi đói vươn lên thành các hộ có thu nhập trung bình khá ,chúng ta cần làm 1 số việc cốt lõi: a.Hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung với quy mô hợp lý ở từng khu vực ,từ đó thu hút,giải quyết việc làm,tăng thu nhập,cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho con người .Thực tiễn hơn 10 năm qua cho thấy rất rõ điều này.Nơi nào hình thành vùng chuyên canh sản xuất nguyên liệu thì ở đó người dân thóat nghèo rất nhanh. b.Tập trung đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến có quy mô phù hợp,có trình độ công nghệ tiên tiến tại các vùng nguyên liệu,bảo đảm tiêu thụ hết các sản phẩm do các hộ nông dân trong vùng sản xuất ra. Để giúp các hộ nông dân trong việc tiêu thụ sản phẩm 1 cách có lợi nhất ,một mặt ta phải tổ chức các kênh lưu thông thật tốt mặt khác yêu cầu ngành nông nghiệp phải phát triển khoa học để có thể tạo được sản phẩm mang thương hiệu Việt để xuất khẩu. c.Giúp người dân ở vùng chuyên canh lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất phù hợp. Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu ở các vùng nông thôn trong những năm qua là kinh tế hộ.Như chúng ta đã biết,sản xuất của các vùng chuyên canh là sản xuất hàng hóa,vì thế kinh tế hộ,tự cung tự cấp sẽ không thích hợp nữa.Cần giúp người nông dân tìm kiếm một hình thức tổ chức sản xuất mới. d.Nhà nước cần có sự đầu tư cho việc tìm ra các công nghệ mới trong chế biến bảo quản. Đầu tư thỏa đáng cho công nghệ sinh học cho quá trình tạo giống mới. Cầ ntìm ra phương thức chuyển giao tiến bộ khoa học,công nghệ hợp lý. e. Về chính sách bảo trợ: Sản xuất nông nghiệp ở các vùng nghèo đang chịu nhiều rủi ro lớn do ảnh hưởng của thiên tai thời tiết, dịch bệnh và giá cả,vì vậy cần có sự bảo trợ của nhà nước.Để giải quyết vấn đề này , một mặt nhà nước nên hình thành quỹ bảo trợ để có nguồn lực can thiệp trực tiếp khi sản xuất của đồng bào nghèo gặp những rủi ro bất khả kháng như thiên tai ,dịch bệnh…Mặt khác cần miễn , hoặc để lại toàn bộ các lọai thuế cho địa phương để xây dựng các cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo môi trường cho sản xuất phát triển, chống rủi ro. f.Chính sách bảo vệ tài nguyên và bảo vệ môi trường: Sử dụng hợp lý và phát triển các nguồn tài nguyên trong nước. Bảo vệ và phát triển tài nguyên đất,năng cao hiệu quả tài nguyên đất Bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật. Nhiệm vụ bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, đất ,sinh vật phải gắn liền với bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển. 3.3. Hoàn thiện các chính sách phân phối và phân phối lại. Sau 7 năm thực hiện, chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (còn gọi là chương trình 135) đã góp phần giảm tỷ lệ hộ đói nghèo ở những vùng này từ 60% năm 1998 xuống còn 20% hiện nay. Chương trình 135 được thực hiện ở 2410 xã của 52 tỉnh. Những kết quả đạt được của Chương trình này đã tạo nên sự thay đổi về vật chất, tinh thần trong đời sống mỗi gia đình, mỗi thôn bản và cả bộ mặt nông thôn miền núi, rõ nét nhất là trên lĩnh vực cơ sở hạ tầng thiết yếu gồm điện, đường, trường học và trạm xá. Đến nay, đã có 97% số xã đặc biệt khó khăn có đường ôtô đến trung tâm xã, tạo nên sự giao lưu kinh tế, hàng hóa thuận lợi hơn. Khoảng 64% số hộ vùng sâu, vùng xa có điện sử dụng, nhờ đó năng suất lao động được tăng lên và nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở miền núi phát triển. Trên 5000 trường học đã được xây dựng và đưa vào sử dụng, thu hút 90% con em người dân tộc vùng sâu, vùng xa trong độ tuổi đến lớp. Hiện có 96% số dân trong vùng được chăm sóc sức khỏe tại gần 390 công trình y tế. Đa số thôn bản đều có y tế cộng đồng, cơ bản trong vùng đã kiểm soát được dịch bệnh hiểm nghèo Gần 300 công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng trong việc quy hoạch và bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết và ở các vùng biên giới. Khoảng 70% hộ dân đã được sử dụng nước sạch. Hàng trăm công trình chợ đã trở thành trung tâm giao lưu hàng hóa nông -lâm thổ sản và là nơi giao lưu văn hóa của mỗi vùng. Trạm bưu điện văn hóa xã xây dựng ở nhiều nơi đã giúp người dân giao lưu, mở rộng thông tin với cả nước. Nhờ khai hoang đất canh tác, gần 32 nghìn hộ dân đã có thêm đất sản xuất và có nơi ở mới. Lương thực bình quân đầu người đã tăng từ 280kg năm 1998 lên 320kg năm 2004, cá biệt có xã đạt 500kg. Khoảng cách đói nghèo giữa các vùng, các dân tộc đang dần được thu hẹp. Mặc dù đạt được kết quả như vậy, nhưng thực tế các xã đặc biệt khó khăn vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức do trình độ dân trí của người dân trong vùng vẫn còn thấp, cuộc sống vẫn bị chi phối của nền kinh tế tự cấp, tự túc; cơ sở vật chất hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển do phần lớn công trình được xây dựng quy mô nhỏ, thiếu đồng bộ và thiếu yếu tố đảm bảo bền vững. Gần 90 xã vẫn chưa có đường ôtô đến trung tâm, 550 xã chưa có điện lưới quốc gia và 290 xã chưa có trạm xá. Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nếu tính theo tiêu chí nghèo mới được Việt Nam công bố tháng 7/2005, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Tây Bắc lên tới trên 60%, Tây Nguyên 50%. Nghị quyết lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về Công tác dân tộc đã chỉ ra định hướng đến năm 2010 cho vùng đồng bào dân tộc miền núi với các tiêu chí không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; trên 90% số hộ có đủ điện, nước sinh hoạt, 100% số xã có đường ôtô đến trung tâm xã, chấm dứt tình trạng di dân tự do, cơ bản không còn xã đặc biệt khó khăn... Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cho rằng cần phải có một chính sách mới, một chương trình đầu tư có vốn lớn hơn, trọng điểm hơn với cơ cấu hợp lý hơn. Hội đồng Dân tộc kiến nghị Chính phủ rà soát, xem xét những công trình xây dựng dở dang để thực hiện dứt điểm vào cuối năm nay hoặc đầu năm 2006. Đối với những chương trình, dự án mới cần phân cụ thể xuống tận làng xã có khó khăn, tránh phân tán vốn. Chính quyền các cấp có nhiệm vụ quản lý nguồn vốn phân bổ một cách chặt chẽ hơn. 3.4. Tiếp tục đổi mới các chính sách vĩ mô, tạo điều kiện cho đồng bào vùng nghèo phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập (chính sách đất đai, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ). a.Chính sách đất đai: Trong những năm trước mắt cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là: Hoàn thiện quy hoạch đất đai.Quy hoạch đất đai là cơ sở quan trọng để thực hiện bố trí sản xuất theo hướng khai thác các lợi thế của vùng và để các địa phương giao đất cho các tổ chức, đơn vị kinh tế và hộ nông dân sử dụng theo quy định của pháp luật Hai là: Hoàn thàn hviệc giao đất giao rừng cho dân. Ba là : Khuyến khích đồng bào có vốn ,có kinh nghiệm làm nông –lâm nghiệp đầu tư khai thác vùng đất trống đồi trọc ,nhất là đầu tư phát triển các trang trại. b.Chính sách đầu tư: Xây dựng và thực thi các chính sách khuyến khích nông dân các thành phần kinh tế phát triển sản xuất ,kinh doanh nông-lâm nghiệp đạt hiệu quả , đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh,bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng như:giao thông, điện ,thông tin… Bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng ,rừng phòng hộ,các công trình chống thiên tai. Phát triển ý tế,giáo dục ,văn hóa ,tổ chức các dịch vụ công cộng như khuyến nông,khuyến lâm,bảo vệ thực vật… Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Bảo trợ xã hội,xoá đói giảm nghèo Đảm bảo an ninh trật tự xã hôi. c.Chính sách tín dụng: Ngân hàng nên cho đồng bào nghèo được vay vốn với số lượng tương đối lớn và nên cho vay trung hạn,hoặc dài hạn.Tuỳ hteo đặc điểm của từng loại cây trồng ,nghề làm ăn nên có thời hạn miễn lãi xuất cho họ. d.Chính sách khoa học công nghệ Để giúp người dân tiếp cận với nên kinh tế thị trường ,sản xuất ra những sản phẩm cần và tiêu thụ hết ,nhà nước cần khuyến cáo cho người dân từng vùng nên trồng những loại cây gì ,con gì. Nhà nước cần tăng cường quản lý đối với các tiến bộ khoa học ,công nghệ trong nông –lâm ngư nghiệp,làm sao đảm bảo cho người dân được an toàn khi áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ. Nhà nước cần có sự đầu tư cho việc tìm ra các công nghệ mới trong chế biến bảo quản. Đầu tư thỏa đáng cho công nghệ sinh học cho quá trình tạo giống mới. Cần tìm ra phương thức chuyển giao tiến bộ khoa học,công nghệ hợp lý. d.Nhà nước cần có sự đầu tư cho việc tìm ra các công nghệ mới trong chế biến bảo quản. Đầu tư thỏa đáng cho công nghệ sinh học cho quá trình tạo giống mới. Cầ ntìm ra phương thức chuyển giao tiến bộ khoa học,công nghệ hợp lý. e. Về chính sách bảo trợ: Sản xuất nông nghiệp ở các vùng nghèo đang chịu nhiều rủi ro lớn do ảnh hưởng của thiên tai thời tiết, dịch bệnh và giá cả,vì vậy cần có sự bảo trợ của nhà nước.Để giải quyết vấn đề này , một mặt nhà nước nên hình thành quỹ bảo trợ để có nguồn lực can thiệp trực tiếp khi sản xuất của đồng bào nghèo gặp những rủi ro bất khả kháng như thiên tai ,dịch bệnh…Mặt khác cần miễn , hoặc để lại toàn bộ các lọai thuế cho địa phương để xây dựng các cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo môi trường cho sản xuất phát triển, chống rủi ro. f.Chính sách bảo vệ tài nguyên và bảo vệ môi trường: Sử dụng hợp lý và phát triển các nguồn tài nguyên trong nước. Bảo vệ và phát triển tài nguyên đất,năng cao hiệu quả tài nguyên đất Bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật. Nhiệm vụ bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, đất ,sinh vật phải gắn liền với bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển. Kết Luận Trong những năm gần đây nhờ những chính sách của Đảng và nhà nước,Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ nghèo đói(theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc).Tuy nhiên,nền kinh tế thị trường làm cho sự phân hóa giàu nghèo tăng lên và thực trạng nghèo đói chúng của Việt Nam đang còn ở mức rất cao so với thế giới.Chính do quá nghèo so với thế giới nên sự chênh lệch nghèo đói hiện nay so với thế giới vẫn còn tương đối.Do đó trong quá trình hội nhập, khi nmà nên kinh tế phát tirển thì viễn cảnh về sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta có thể trở nên nghiêm trọng . Phân hóa giàu nghèo là một tồn tại tất yếu không một quốc gia nào muốn, nó ảnh hưởng đến nền kinh tế, chính trị ,xã hội.Nhưng để giải quyết cần phải có thời gian,cần huy động được sức mạnh của toàn dân trong cuộc chiến đấu đói nghèo .Phải luôn tổ chức những phong trào thiết thực để giúp đỡ những hộ cực nghèo .Cần tận dụng mọi nguồn lực hiện có , đặc biệt là con người trong cuộc chiến chống đói nghèo ,phân hóa giàu nghèo.Và chúng ta cần phát huy hết nội và kết hợp ngoại lực để tạo đà tăng trưởng kinh tế đồng thời cần có những chính sách ,những chủ trương đúng đắn để tạo công bằng xã hội. Trong điều kiện hiện nay khi mà nên kinh tế mở cửa hoàn toàn, khoa học kỹ thuật sẽ được ứng dụng càng nhiều vào sản xuất,cạnh tranh càng cao thì phân hóa giàu nghèo sẽ trở nên sâu sắc. Đặc biệt khi gia nhập WTO thì áp lực về phân hóa giàu nghèo ngày càng cao . Đòi hỏi các cơ quan ,chức trách phải luôn theo sát về sự thay đổi mức sống dân,từ đó kịp thời đề ra những chính sách để không cho sự phân hóa giàu nghèo gia tăng.Nhà nước phải luôn có những chính sách ưu đãi người nghèo về vốn,khoa học kỹ thuật,nâng cao dân trí cho người dân (đặc biệt là vùng sâu vùng xa và những hộ cực nghèo), để họ vươn lên làm giàu cho mình và xã hội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTác động của quy luật giá trị tới sự phân hoá giàu nghèo trong thực tiễn kinh tế xã hội nước ta.doc