Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế giá trị gia tăng hiện nay

LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm qua, hệ thống pháp luật thuế từng bước đã được ban hành, bổ sung và sửa đổi phù hợp với công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới quản lý nhà nước. Việc thực hiện các chính sách thuế thống nhất và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế đã động viên hợp lý các nguồn thu quan trọng từ nội bộ nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi NSNN góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển cũng như đẩy mạnh sản xuất và hoạt động đầu tư Luật thuế GTGT thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Việc ban hành Luật thuế GTGT để thay thế cho Luật thuế doanh thu theo Chương trình cải cách thuế. Trong quá trình triển khai thực hiện, Luật thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT năm 2005). Luật thuế GTGT sau 9 năm thực hiện đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được những mục tiêu đề ra của cải cách thuế. Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế đang tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập ngày càng sâu hơn, rộng hơn, Luật thuế GTGT vẫn còn bộc lộ một số vấn đề cần phải xem xét để tiếp tục hoàn thiện. Theo đó, tại kỳ họp khoá XII, kỳ họp thứ 3, ngày 03 tháng 6 năm 2008 Quốc hội đã thông qua Luật thuế GTGT 2008 đã môi trường đầu tư thuận lợi cho các đơn vị kinh tế, bảo hộ hợp lý và khuyến khích sản xuất trong nước, đặc biệt đối với hàng hóa xuất khẩu, tăng cường hoạch toán trong các doanh nghiệp và góp phần làm cho hệ thống luật pháp Việt Nam nói chung và hệ thống luật thuế nói riêng phù hợp với luật pháp và thông lệ thế giới. Tuy nhiên thuế GTGT là một loại thuế mới, nên trong quá trình áp dụng không tránh khỏi những khó khăn và còn nhiều thiếu sót, dẫn đến việc thực hiện không đúng, không đầy đủ Luật thuế GTGT mà còn tạo ra nhiều kẽ hở cho các doanh nghiệp lợi dụng rút tiền của NSNN. Thực tế này không những làm cho mục đích chính của Thuế GTGT– nguồn thu quan trọng thường xuyên cho NSNN - không được đảm bảo mà còn gây ra sự mất bình đẳng giữa các doanh nghiệp làm ăn chân chính, thực hiện tốt cho chế độ hóa đơn chứng từ với các doanh nghiệp đang lợi dụng chính sách thuế của Nhà nước để bòn rút của công làm lợi cho mình thì chưa được phát hiện kịp thời và xử lý thích đáng. Chính vì lẽ đó nên chúng em đã chọn đề tài “thực tiễn áp dụng pháp luật thuế GTGT hiện nay”. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG. 2 I. Một số vấn đề cơ bản của Luật thuế GTGT 2 1. Khái niệm thuế GTGT: 2 2. Vai trò của Thuế GTGT: 2 II. Thực tiễn áp dụng luật thuế giá trị gia tăng theo pháp luật hiện hành. 2 1. Những thành tựu cơ bản trong quá trình áp dụng thuế giá trị gia tăng. 2 2. Những đánh giá về hệ thống pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam 3 2.1. Những đánh giá của hệ thống pháp luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung năm 2003. 3 2.2. Đánh giá về điểm mới của Luật Thuế GTGT sửa đổi, bổ sung năm 2008. 5 3. Một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT thời gian tới. 9 3.1.1. Đối tượng chịu thuế. 9 3.1.2. Thuế suất: 10 3.1.3. Phương pháp tính thuế. 10 3.1.4. Hóa đơn, chứng từ. 11 3.1.5. Khấu trừ, kê khai, hoàn thuế GTGT. 11 3.1.6. Vấn đề ưu đãi thuế. 12 3.1.7. Chuẩn hóa các quy định pháp luật về thuế GTGT. 12 3.2. Về cơ chế quản lý: 12 3.2.1. Cơ chế tự khai – tự nộp: 12 3.2.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy, hoàn thiện công tác quản lý thuế: 13 3.2.3. Kiến nghị đối với các cơ quan cấp trên: 13 III. KẾT LUẬN. 14

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/03/2013 | Lượt xem: 2253 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế giá trị gia tăng hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm qua, hệ thống pháp luật thuế từng bước đã được ban hành, bổ sung và sửa đổi phù hợp với công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới quản lý nhà nước. Việc thực hiện các chính sách thuế thống nhất và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế đã động viên hợp lý các nguồn thu quan trọng từ nội bộ nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi NSNN góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển cũng như đẩy mạnh sản xuất và hoạt động đầu tư… Luật thuế GTGT thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Việc ban hành Luật thuế GTGT để thay thế cho Luật thuế doanh thu theo Chương trình cải cách thuế. Trong quá trình triển khai thực hiện, Luật thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT năm 2005). Luật thuế GTGT sau 9 năm thực hiện đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được những mục tiêu đề ra của cải cách thuế. Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế đang tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập ngày càng sâu hơn, rộng hơn, Luật thuế GTGT vẫn còn bộc lộ một số vấn đề cần phải xem xét để tiếp tục hoàn thiện. Theo đó, tại kỳ họp khoá XII, kỳ họp thứ 3, ngày 03 tháng 6 năm 2008 Quốc hội đã thông qua Luật thuế GTGT 2008 đã môi trường đầu tư thuận lợi cho các đơn vị kinh tế, bảo hộ hợp lý và khuyến khích sản xuất trong nước, đặc biệt đối với hàng hóa xuất khẩu, tăng cường hoạch toán trong các doanh nghiệp và góp phần làm cho hệ thống luật pháp Việt Nam nói chung và hệ thống luật thuế nói riêng phù hợp với luật pháp và thông lệ thế giới. Tuy nhiên thuế GTGT là một loại thuế mới, nên trong quá trình áp dụng không tránh khỏi những khó khăn và còn nhiều thiếu sót, dẫn đến việc thực hiện không đúng, không đầy đủ Luật thuế GTGT mà còn tạo ra nhiều kẽ hở cho các doanh nghiệp lợi dụng rút tiền của NSNN. Thực tế này không những làm cho mục đích chính của Thuế GTGT– nguồn thu quan trọng thường xuyên cho NSNN - không được đảm bảo mà còn gây ra sự mất bình đẳng giữa các doanh nghiệp làm ăn chân chính, thực hiện tốt cho chế độ hóa đơn chứng từ với các doanh nghiệp đang lợi dụng chính sách thuế của Nhà nước để bòn rút của công làm lợi cho mình thì chưa được phát hiện kịp thời và xử lý thích đáng. Chính vì lẽ đó nên chúng em đã chọn đề tài “thực tiễn áp dụng pháp luật thuế GTGT hiện nay”. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và làm bài, dù đã có cố gắng hết sức nhưng vẫn không tránh khỏi được những thiếu sót, nên chúng em rất mong quý thầy cô đưa ra những nhận xét và đánh giá quí báu giúp cho bài làm được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn!!! B. NỘI DUNG. I. Một số vấn đề cơ bản của Luật thuế GTGT 1. Khái niệm thuế GTGT: Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa, nhận dịch vụ. Cụ thể tại Điều 2 Luật Thuế GTGT năm 2008 qui định: “Thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. 2. Vai trò của Thuế GTGT: Thuế GTGT không thu trùng lặp cho nên góp phần khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng xuất khẩu,vì hàng hóa xuất khẩu chẳng những không chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được thoái trả toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở các khâu trước. Thuế GTGT được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứ vào hóa đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước. Vì chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốn, nên Thuế GTGT đã góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế ở nước ta trong thời gian tới. Ngoài ra, Thuế GTGT được thu tập trung ngay ở khâu đầu tiên là khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu hàng hóa và thu ở mỗi khâu đều có thể kiểm tra được việc thu nộp thuế ở khâu trước, cho nên hạn chế được thất thu hơn so với thuế doanh thu. II. Thực tiễn áp dụng luật thuế giá trị gia tăng theo pháp luật hiện hành. 1. Những thành tựu cơ bản trong quá trình áp dụng thuế giá trị gia tăng. Mặc dù ra đời muộn và còn khá mới mẻ song pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT. Cụ thể, các bộ phận hợp thành của pháp luật thuế GTGT là tương đối đầy đủ và các nhóm quy phạm pháp luật này được biểu hiện dưới các hình thức: Luật, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư của các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta đang trong giai đoạn quá độ nên các quy định cuả pháp luật thuế GTGT luôn tính đến các giải pháp cho phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước nhằm áp dụng tốt nhất thuế GTGT…Và qua nhiều năm triển khai thực hiện Luật thuế GTGT đã đạt được một số thành tựu đáng kể, Cụ thể là: Thứ nhất, Luật thuế GTGT đã thể hiện được thái độ của nhà nước đối với tính trung lập của thuế. Điều này được thể hiện ở chỗ những quy định của pháp luật thuế GTGT đã tạo ra sự công bằng và bình đẳng giữa các đối tượng chịu thuế và đối tượng chịu thuế. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế đã được phân chia một cách hợp lý và chịu mức thuế suất như nhau giữa các hàng hóa, dịch vụ có cùng mục đích sử dụng. Cụ thể, mức thuế suất phổ biến là 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thông thường, mức thuế suất 5% đối với các loại hàng hóa, dịch vụ ưu đãi, khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, các sản phẩm thiết yếu, sản phẩm công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ công cộng, thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Thứ hai, Luật thuế GTGT đã đảm bảo ở mức độ nhất định nguyên tắc công bằng và tính hiệu quả của hệ thống pháp luật. Tính công bằng có biểu hiện rất rõ ràng thông qua nhưng quy định mang tính phổ biến về đối tượng nộp thuế, cơ sở tính thuế. Việc quy định mức thuế suất thấp đối với các mặt hàng thiết yếu tạo cho mọi đối tượng đều có khả năng tiêu dùng. Đối với những hàng hóa xa xỉ, Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt lại vẫn tiếp tục phải chịu thuế GTGT, đây đồng thời cũng là nhóm hàng hóa, dịch vụ có đối tượng tiêu dùng là những người có thu nhập cao. Quy định như vậy là nhằm điều tiết thu nhập của các tầng lớp trong xã hội theo nguyên tắc người có thu nhập thấp điều tiết thuế thấp, người có thu nhập cao điều tiết thuế cao, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Với việc thực hiện tiêu chí công bằng, thực tiễn cho thấy sự chấp nhận ngày càng rõ ràng của xã hội đối với loại thuế tiên tiến này. Thứ ba, hệ thống pháp luật thuế GTGT đã tạo cơ sở pháp lý hình thành nguồn thu ổn định, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí. Việc triển khai thực hiện Luật thuế GTGT bảo đảm động viên số thu cho NSNN không giảm hơn so với thuế doanh thu, không làm ảnh hưởng lớn đến kế hoạch thu NSNN. Thứ tư, pháp luật thuế GTGT hiện hành mở rộng lưu thông hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp, cơ cấu lại nền kinh tế. Theo quy định của Luật thuế GTGT hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn lại toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào. Điều này giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu, tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh được với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, luật thuế GTGT đã bước đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bản hàng hóa có hóa đơn chứng từ ở các doanh nghiệp. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hóa đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường việc kiểm trá giám sát đối với doanh nghiệp. Như vậy, việc ban hành luật thuế GTGT thay cho thuế doanh thu là điều hết sức cần thiết và hợp lý. Việc đưa thuế GTGT vào áp dụng tại Việt Nam là định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải cách tài chính công. Sau hơn 11 năm thực hiện cho thấy thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống, bước đầu việc điều chỉnh của pháp luật thuế GTGT đã đạt được những hiệu quả nhất định. Đặc biệt, việc thực hiện luật thuế GTGT đã có những tác động lớn đến đời sống kinh tế - xã hội nước ta, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế, phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. 2. Những đánh giá về hệ thống pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam 2.1. Những đánh giá của hệ thống pháp luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung năm 2003. Luật thuế GTGT 1997 sửa đổi, bổ sung 2003 bước đầu tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta. Luật thuế GTGT đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế, xã hội của đất nước và đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật thuế GTGT còn bộc lộ một số hạn chế như sau: Thứ nhất, về diện hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế: Luật quy định 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT. Quy định này là phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta trước đây, tuy nhiên trong quá trình thực hiện và cùng với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, một số hàng hoá, dịch vụ nếu tiếp tục áp dụng không chịu thuế GTGT sẽ không còn  phù hợp, gây bất lợi cho sản xuất kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT sẽ không được tính thuế GTGT cho người mua, như vậy, toàn bộ số thuế GTGT đã trả khi mua các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào giá thành sản phẩm, từ đó làm tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh của những hàng hoá, dịch vụ này trên thị trường trong nước và quốc tế. Do đó, cần rà soát để chuyển sang đối tượng chịu thuế nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT và tạo thuận lợi hơn cho cơ sở sản xuất, kinh doanh. Để phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật thuế GTGT quy định một số dịch vụ tài chính cụ thể thuộc diện không chịu thuế GTGT nên trong thực tiễn thi hành, cùng với quá trình hội nhập và sự phát triển của thị trường tài chính đã xuất hiện ngày càng nhiều các dịch vụ tài chính mới chưa được quy định trong Luật, như: dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ,...(gọi chung là các dịch vụ tài chính phái sinh) và các giao dịch chuyển nhượng vốn. Vì vậy, các dịch vụ tài chính mới này cần được bổ sung vào Luật để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình thực hiện và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ hai, về thuế suất thuế GTGT: Năm 1997, khi ban hành Luật thuế GTGT, mức thuế suất 5% là mức thuế suất ưu đãi, được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, trước những khó khăn của nền kinh tế, Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong từng thời kỳ, theo đó, diện áp dụng mức thuế suất 5% cũng được mở rộng và chưa theo đúng nguyên tắc nêu trên. Từ đó dẫn đến doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh một số hàng hoá, dịch vụ ở mức thuế suất này không những không phải nộp thuế mà còn được hoàn thuế từ NSNN. Luật thuế GTGT vừa quy định chi tiết danh mục hàng hoá, dịch vụ áp dụng mức thuế suất 5%, vừa quy định chi tiết danh mục hàng hoá, dịch vụ áp dụng mức thuế suất 10%. Trên thực tế, nhiều hàng hoá, dịch vụ mới phát sinh nhưng chưa có trong danh mục; mặt khác, tiêu chí phân định ranh giới áp dụng mức thuế suất chưa rõ ràng: vừa theo tên hàng hoá, dịch vụ, vừa theo công dụng hàng hoá, dịch vụ, vừa theo tính chất của hàng hoá, dịch vụ, dẫn đến việc áp dụng mức thuế suất không thống nhất, nảy sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện. Ví dụ, sản phẩm cơ khí tiêu dùng áp dụng mức thuế suất 10%, sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất áp dụng mức thuế suất 5%, trên thực tế có những sản phẩm cơ khí không thể phân định được rõ ràng là dùng cho tiêu dùng hay dùng cho sản xuất. Thứ ba, về điều kiện được khấu trừ, được hoàn thuế. Khấu trừ, hoàn thuế là việc doanh nghiệp được trừ hoặc được hoàn lại số thuế đã trả khi mua hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Đây là một nội dung cơ bản, đặc thù riêng có, thể hiện tính ưu việt của thuế GTGT, từ đó đã khắc phục việc thu trùng của thuế doanh thu trước đây, khuyến khích xuất khẩu. Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung 2003 quy định căn cứ khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào là hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ. Thực tiễn quản lý thuế cho thấy quy định nêu trên chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, dễ bị lợi dụng khấu trừ khống hoặc hoàn thuế khống thông qua việc sử dụng hoá đơn ghi chép không trung thực với thực tế giao dịch và các loại hoá đơn bất hợp pháp khác để gian lận trong khấu trừ, làm giảm số thuế GTGT phải nộp hoặc tăng số thuế GTGT được hoàn khống rút tiền ngân sách, gây bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Làm xuất hiện một loại tội phạm kinh tế mới - tội phạm mua, bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để chiếm đoạt tiền thuế GTGT của Nhà nước như một số đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của Luật doanh nghiệp và quy định về điều kiện được khấu trừ thuế, được hoàn thuế nêu trên để thành lập doanh nghiệp nhằm mục đích mua, bán hoá đơn kiếm lời bất chính (doanh nghiệp ma)....Để ngăn chặn tình trạng này, thời gian qua các Cơ quan quản lý nhà nước, Cơ quan bảo vệ pháp luật, Cơ quan thuế đã phối hợp để tăng cường các biện pháp quản lý như: phối hợp trong việc cung cấp thông tin, điều tra, xử lý các vụ vi phạm,…riêng cơ quan thuế đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý hóa đơn, như yêu cầu doanh nghiệp đóng dấu, mã số thuế trên hoá đơn, kiểm tra đối chiếu hoá đơn giữa doanh nghiệp bán với các doanh nghiệp mua và ngược lại, gây tốn kém nhiều thời gian và chi phí, nhưng mới chỉ hạn chế được phần nào mà chưa thể chặn đứng được tình trạng gian lận. Thứ tư, về hình thức văn bản. Thuế GTGT được thể hiện tại 3 văn bản Luật khác nhau là Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB và Luật thuế GTGT năm 2005. Mặt khác, năm 2006, Luật quản lý thuế (đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2007) đã quy định các nội dung về quản lý thuế như đăng ký, kê khai, nộp thuế, xử lý vi phạm để thay thế cho các quy định về quản lý thuế trong các luật, pháp lệnh thuế đã được ban hành trước đây, trong đó có Luật thuế GTGT. Với nhiều văn bản Luật cùng quy định về thuế GTGT nên chưa tạo thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật. 2.2. Đánh giá về điểm mới của Luật Thuế GTGT sửa đổi, bổ sung năm 2008. Điều 1 Luật thuế GTGTquy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế, khấu trừ và hoàn thuế GTGT. Đây là điều mới được quy định so với Luật thuế GTGT sửa đổi 2003. Trong đó, Luật đưa ra phạm vi điều chỉnh tương đối rõ ràng, tập trung vào các quy định về chính sách thuế GTGT, các quy định về thủ tục quản lý thuế GTGT do đã được quy định thống nhất tại Luật quản lý thuế năm 2006 như các sắc thuế khác nên không đưa vào quy định tại Luật. * Về người nộp thuế: So với Luật thuế GTGT 2003 thì khái niệm “người nộp thuế” đã được thay thế cho khái niệm “đối tượng nộp thuế” để thống nhất với quy định của Luật Quản lý thuế và phù hợp với xu hướng của quản lý thuế hiện đại. * Về đối tượng không chịu thuế:  Luật thuế GTGT năm 2008, đối tượng không chịu thuế GTGT đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung, chuyển sang đối tượng chịu thuế nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT và tạo thuận lợi hơn cho cơ sở sản xuất, kinh doanh. Theo đó, quy định 25 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế. Một số nội dung sửa đổi cơ bản như: - Tại Khoản 4 Điều 4, Luật thuế GTGT 2003 quy định: “…vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; máy bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuê của nước ngoài thuộc loại trong nước chưa sản xuất được dùng cho sản xuất, kinh doanh; thiết bị, máy móc, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong ..”; Tại thời điểm đó thì quy định này là phù hợp với điều kiện của nước ta. Tuy nhiên, những năm gần đây, đã có nhiều dự án đầu tư có công nghệ mới vào sản xuất máy móc, thiết bị, vật tư thay thế hàng nhập khẩu. Trên thực tế việc xác định máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, vật tư loại trong nước chưa sản xuất được để làm căn cứ xác định đối tượng không chịu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu thường không kịp thời. Để đảm bảo công bằng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước chú trọng đầu tư vào hoạt động nghiên cứu - phát triển, sản xuất ra những máy móc, thiết bị, vật tư mới cung cấp cho nền kinh tế và từng bước chiếm lĩnh thị trường trong, ngoài nước, về nguyên tắc cần thiết chuyển nhóm hàng hoá này sang đối tượng chịu thuế GTGT. Mặc dù vậy, đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vẫn cần phải có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ thông qua không thu thuế GTGT khâu nhập khẩu đối với nhóm hàng hoá nêu trên sử dụng trực tiếp cho hoạt động này. Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò phát triển mỏ dầu khí do sử dụng máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng có giá trị lớn, trong nước chưa có khả năng sản xuất được, trong khi sản phẩm đầu ra là dầu thô xuất khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế, doanh nghiệp không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT  đầu vào nên cần thiết tiếp tục duy trì ở diện không chịu thuế. Vì vậy, tại khoản 17, Điều 5 Luật Thuế GTGT năm 2008 đã đưa ra nội dung sửa đổi như sau:“ Máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; máy móc….” - Tại Khoản 10, Khoản 17, Điều 4, Luật thuế GTGT năm 1997 và sửa đổi, bổ sung quy định: “Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim nhựa, phim vi-đi-ô tài liệu”; “Điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại điều tra cơ bản của Nhà nước” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Quy định này là phù hợp với thực tiễn thời gian qua vì các hoạt động này chủ yếu do các đơn vị sự nghiệp thực hiện bằng nguồn kinh phí NSNN. Đến nay, thực hiện chủ trương xã hội hoá, Nhà nước khuyến khích các đơn vị sự nghiệp chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, thực hiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo phương thức Nhà nước đặt hàng, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bỏ vốn đầu tư. Việc tiếp tục áp dụng không chịu thuế đối với những hàng hoá, dịch vụ này sẽ không còn phù hợp, không khuyến khích doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư, ảnh hưởng đến chủ trương xã hội hoá. Do đó, tại Luật thuế GTGT năm 2008 hai nhóm hàng hoá, dịch vụ nêu trên đã được chuyển vào diện chịu thuế để đảm bảo tính liên hoàn của thuế GTGT, doanh nghiệp kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ này được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, giảm chi phí, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trường hợp cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo phương thức Nhà nước đặt hàng thì Nhà nước bố trí đủ kinh phí để doanh nghiệp nộp thuế. - Đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ là vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế: Tại Khoản 22 Điều 4, Luật thuế GTGT 2003 quy định: “Vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế” thuộc diện không chịu thuế. Quy định này là phù hợp với thực tiễn thời gian qua do năng lực vận tải quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Đến nay, đội tàu vận tải quốc tế của Việt Nam đã phát triển, nếu tiếp tục áp dụng không chịu thuế thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế đầu vào mà phải tính vào chi phí làm tăng giá cước vận tải, từ đó, hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải Việt Nam với các hãng vận tải nước ngoài. Vì vậy, tại Luật thuế GTGT 2008 đã chuyển “Vận tải quốc tế” sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 0% (quy định tại khoản 1, Điều 8 của Luật); hàng hoá, dịch vụ cung cấp trực tiếp cho vận tải quốc tế sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất tương ứng của từng hàng hoá, dịch vụ.  - Đối với nhóm dịch vụ là chuyển nhượng vốn và các dịch vụ tài chính phái sinh: Để phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung 2003 đã quy định một số dịch vụ tài chính cụ thể thuộc diện không chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành, cùng với quá trình hội nhập và sự phát triển của thị trường tài chính đã xuất hiện nhiều các dịch vụ tài chính mới chưa được quy định trong Luật, như: dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại tệ,...(gọi chung là các dịch vụ tài chính phái sinh) và các giao dịch chuyển nhượng vốn. Vì vậy, tại Luật thuế GTGT năm 2008 đã có quy định bổ sung Chuyển nhượng vốn và các dịch vụ tài chính phái sinh vào diện không chịu thuế GTGT để đảm bảo bao quát được các dịch vụ mới phát sinh, phù hợp với thông lệ quốc tế. Cụ thể tại khoản 8, Điều 5 Luật thuế GTGT năm 2008 có quy định:“ Dịch vụ cấp tín dụng; kinh doanh chứng khoán; chuyển nhượng vốn; dịch vụ tài chính phái sinh, bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai…”. Các dịch vụ chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh khi cung cấp ra nước ngoài cũng không được áp dụng thuế suất 0% (quy định tại khoản 1, Điều 8 Luật thuế GTGT năm 2008). * Về thuế suất: - Mức thuế suất 0%: Dịch vụ vận tải quốc tế được bổ sung vào đối tượng áp dụng thuế suất 0% để khuyến khích phát triển hoạt động vận tải quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế. - Mức thuế suất 5%: Khi ban hành Luật thuế GTGTsửa đổi, bổ sung 2003 mức thuế suất 5% chỉ áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân hoặc là đầu vào của sản xuất nông nghiệp, như: nước sạch, thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế, giáo cụ phục vụ giảng dạy và học tập; các mặt hàng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến ở khâu thương mại; phân bón, thuốc trừ sâu và chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng, thức ăn gia súc và dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình thực hiện do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á, một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh những mặt hàng đang áp dụng mức thuế suất 10% gặp khó khăn về tiêu thụ hàng hoá do sức mua xã hội giảm sút. Để tháo gỡ khó khăn, Chính phủ đã trình Quốc hội điều chỉnh một số hàng hoá, dịch vụ từ mức thuế suất 10% xuống mức 5% như: xây dựng lắp đặt; que hàn, dây cáp điện dùng cho điện áp từ 600V trở lên; sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất; khuôn đúc các loại; ván ép nhân tạo; sản phẩm bê tông công nghiệp gồm dầm cầu bê tông, dầm và khung nhà bê tông, cọc bê tông, cột điện bê tông, ống cống tròn bê tông, hộp bê tông các loại, pa-nen và các loại cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn phi tiêu chuẩn, bê tông thương phẩm; lốp và bộ săm lốp cỡ từ 900-20 trở lên,...). Đến năm 2003, tình hình kinh tế đã phục hồi và phát triển ổn định, theo đề nghị của Chính phủ, Quốc hội đã quyết định đưa một số hàng hoá, dịch vụ ở mức thuế suất 5% trở lại mức thuế suất 10%, như: xây dựng lắp đặt; que hàn, dây cáp điện dùng cho điện áp từ 600V trở lên. Việc điều chỉnh này là từng bước thực hiện Chương trình cải cách thuế và phù hợp với thực tiễn nước ta. Thực tiễn những năm qua cho thấy: các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, dịch vụ đã được điều chỉnh thuế suất từ 5% sang 10% có tình hình sản xuất, kinh doanh phát triển, hiệu quả kinh doanh tốt, một số hàng hoá, dịch vụ hiện đang áp dụng thuế suất 5% cũng có kết quả sản xuất, kinh doanh tốt và cần xem xét để chuyển sang mức thuế suất 10%. Việc chuyển trở lại mức thuế suất 10% đối với những hàng hoá, dịch vụ này nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế giá trị gia tăng, hạn chế các trường hợp phải hoàn thuế do có mức thuế suất đầu vào lớn hơn mức thuế suất đầu ra. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay cần thiết tiếp tục duy trì mức thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân bởi các lý do sau: Thứ nhất, sản phẩm nông nghiệp do cơ sở trực tiếp sản xuất bán ra thuộc diện không chịu thuế GTGT nên không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào, vì vậy, cần tiếp tục duy trì ở mức thuế suất 5% đối với một số hàng hoá, dịch vụ đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trong một thời gian nữa để góp phần giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường: Thứ hai, trong giai đoạn đầu hội nhập lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo dự báo sẽ bị tác động mạnh, đặc biệt trong điều kiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở nước ta chưa cao, thu nhập và mức sống của người dân, nhất là nông dân còn thấp. Mặt khác, theo cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì nhiều sản phẩm nông nghiệp được tiếp tục duy trì chính sách bảo hộ trong thời hạn 5 năm kể từ ngày gia nhập WTO; Thứ ba, hiện nay mặt bằng giá thế giới một số vật tư nguyên liệu là đầu vào của sản xuất, nhất là đầu vào của sản xuất nông nghiệp tăng mạnh, từ đó ảnh hưởng lớn đến giá thành sản phẩm sản xuất trong nước, đời sống của người dân. Việc điều chỉnh thuế suất từ mức 5% sang 10% chủ yếu là đối với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ được kê khai khấu trừ, hoàn thuế đầu vào khi xác định số thuế phải nộp, do đó, không tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Mức thuế suất 10%: Để đảm bảo đơn giản, dễ áp dụng, khắc phục được những tồn tại của Luật thuế GTGT 2003 do ở mức thuế suất nào cũng quy định danh mục hàng hoá, dịch vụ cụ thể, khi phát sinh hàng hoá, dịch vụ mới chưa có tên trong danh mục thì doanh nghiệp lúng túng trong việc áp dụng thuế suất, đề nghị không liệt kê các nhóm hàng hoá, dịch vụ áp dụng mức thuế suất 10% mà sử dụng phương pháp loại trừ, theo đó, hàng hoá, dịch vụ áp dụng thuế suất 10% là các hàng hoá, dịch vụ còn lại không thuộc diện áp dụng các mức thuế suất 0%, 5%. Nội dung sửa đổi được thể hiện tại khoản 3, Điều 8 Luật thuế GTGT 2008, cụ thể như sau: “3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.” * Về khấu trừ thuế: - Bỏ quy định thời hạn tối đa được kê khai thuế GTGT đầu vào 3 tháng kể từ tháng phát sinh để phù hợp với nội dung tại khoản 1, Điều 34 Luật quản lý thuế là: “Trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế”. Quy định này tạo thuận lợi và làm tăng tính tuân thủ của người nộp thuế trong việc kê khai, thực hiện nghĩa vụ thuế. - Bổ sung quy định thuế đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ. Luật thuế GTGT hiện hành quy định thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế thì được khấu trừ toàn bộ, trường hợp dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Quy định này là chưa hợp lý và thực tế khó thực hiện do không thể xác định được số thuế khấu trừ của tài sản cố định trong trường hợp sử dụng chung. Vì vậy, Luật thuế GTGT đã bổ sung quy định này để khuyến khích đầu tư và đảm bảo phù hợp với thực tiễn. Quy định rõ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào tại Luật. Trong đó, bổ sung quy định về điều kiện có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng. Thanh toán qua ngân hàng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Chính phủ đang triển khai đề án “thanh toán không dùng tiền mặt”. Việc lựa chọn hình thức thanh toán là quyền của doanh nghiệp nhưng để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT từ NSNN thì doanh nghiệp phải thực hiện điều kiện thanh toán qua Ngân hàng. Thực tiễn hiện nay việc thanh toán qua Ngân hàng được áp dụng rộng rãi trong quan hệ mua, bán hàng hoá, dịch vụ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với Nhà nước; đối với quan hệ mua, bán hàng hoá, dịch vụ giữa doanh nghiệp, Nhà nước với dân cư, thanh toán phổ biến dưới hình thức tiền mặt. Để góp phần thúc đẩy việc thanh toán không dùng tiền mặt, ngăn chặn các hành vi mua bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp, gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT, chống thất thu ngân sách, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, cần có quy định điều kiện để được khấu trừ thuế, hoàn thuế phải thực hiện thanh toán qua Ngân hàng trong các quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với Nhà nước. Theo đó, quy định về điều kiện có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng đã có tính tới tình hình thực tế và khả thi trong quá trình thực hiện... 3. Một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT thời gian tới. Như chúng ta đã biết, thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu điều tiết một phần vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, thuế mang tính trung lập cao, diện điều chỉnh rộng, trong thời gian tới nó sẽ trở thành sắc thuế chủ yếu, chiếm tỷ trọng cao trong hệ thống chính sách thuế (hơn 20% tổng thu ngân sách) và sẽ bù đắp được nguồn thu thuế nhập khẩu khi cắt giảm thuế theo cam kết quốc tế. Bởi vậy, để thực hiện chức năng của sắc thuế này, cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng: 3.1.1. Đối tượng chịu thuế. Mục tiêu của thuế GTGT đó là mở rộng diện chịu thuế và hạn chế các đầu mối. Với tình hình hiện nay của nước ta thì hạn chế bớt số nhóm đối tượng thuộc diện không chịu thuế, nghiên cứu bổ sung thêm các đối tượng thuế mới phát sinh trong nền kinh tế là một hướng đi chính xác. Biện pháp này sẽ ổn định được nguồn thu cho NSNN và tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ thuế được liên hoàn giữa các khâu của quá trình sản xuất. Nên đưa vào đối tượng chịu thuế nhóm hàng hóa là thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được mà cơ sở có dự án đầu tư nhập khẩu để làm tài sản cố định cho doanh nghiệp. Tuy việc quy định này bước đầu có thể làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn vì phải bỏ ra một số tiền lớn để nộp thuế nhưng nó lại làm cho luật thuế thông thoáng hơn, đồng thời cũng giúp cho công tác tính toán thuế của doanh nghiệp ở các khâu sau thuận tiện hơn, và khi áp dụng quy định này thì nhà nước có thể ban hành kèm theo một số hướng dẫn giải quyết nhanh khâu hoàn thuế để giải quyết vấn đề vốn cho doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành của luật thuế GTGT thì tất cả các tổ chức, cá nhân cố hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT đều là đối tượng nộp thuế GTGT. Luật thuế nước ta chưa quy định ngưỡng thuế, phạm vi các đối tượng áp dụng thuế GTGT quá rộng, gồm cả những hộ các thể nhỏ lẻ chưa đủ điều kiện hạch toán riêng. Vì vậy giải pháp cho vấn đề này là quy định phạm vi áp dụng thuế chỉ nên giới hạn cho các đối tượng đủ điều kiện tính thuế theo phương pháp khấu trừ, còn tất cả những các nhân, hộ kinh doanh không đủ điều kiện áp dụng thuế GTGT thì sẽ chuyển sang áp dụng loại thuế khác. Tuy nhiên, một điều được đặt ra là ngưỡng thuế ở đây sẽ quy định là bao nhiêu? Theo điều tra của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, ngưỡng trung bình đối với các nước đã áp dụng ngưỡng thuế là khoảng 34500USD. Đối tượng dưới ngưỡng thì mỗi quốc gia có cách xử lý riêng, hoặc thu tỷ lệ % trên doanh thu hoặc áp dụng thuế trung bình. Với điều kiện nước ta hiện nay thì có lẽ việc xác định ngưỡng thuế là chưa thực hiện được, tuy nhiên đây cũng là một biện pháp về phạm vi áp thuế có thể ngiên cứu thêm. Điều 5, Điều 8 luật thuế GTGT quy định tất cả các trường hợp không chịu thuế chịu thuế 0%, 5%, 10%. Cách quy định chi tiết như vậy giúp cho đối tượng nộp thuế biết rõ hơn nghĩa vụ của mình, nhưng lại chưa bao quát hết các trường hợp mới phát sinh, nên thiết nghĩ đối với thuế suất 10% chỉ cần quy định là tất cả các đối tượng chịu thuế GTGT còn lại sau khi đã trừ các trường hợp trên. 3.1.2. Thuế suất: Thuế suất có thể coi là linh hồn của một sắc thuế. Luật thuế GTGT của nước ta đang quy định 3 mức thuế suất là 0%, 5%, 10%, ưu điểm của các mức thuế suất đó là Chính phủ có thể áp mức thuế suất thấp cho các loại mặt hàng cần khuyến khích phát triển… Tuy nhiên, bất cập nảy sinh khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nhiều mức thuế suất làm cho công tác hoạch định chính sách, công tác tính toán thuế trở nên khó khăn, phức tạp và tốn kém hơn. Mặt khác, trong một chu trình sản xuất tổng số thuế phải nộp của một hàng hóa nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào giá cả và thuế suất ở khâu cuối cùng, do đó việc áp dụng nhiều mức thuế suất ở các khâu trước không ảnh hưởng đến tổng số thuế phải nộp. Nên việc sử dụng một mức thuế suất (ngoài mức 0%) là hoàn toàn hợp lý. Áp dụng một mức thuế suất (ngoài mức 0%) cho tất cả các đối tượng ban đầu sẽ gặp một số khó khăn như là do tính luỹ thoái của thuế gián thu nên việc áp thuế suất đồng đều sẽ làm cho gánh nặng thuế đối với những người giàu sẽ ít hơn so với người nghèo nếu xem xét dưới góc độ thu nhập. Hay như việc nhà nước thể hiện chính sách ưu đãi xã hội thông qua việc đánh thuế cao, thấp đối với từng mặt hàng cũng không còn nữa.Tuy nhiên, biện pháp này sẽ giúp cho công tác hoạch định chính sách của Cơ quan chức năng thuận lợi hơn, ít tốn kém chi phí vào việc xác định tiêu thức phân loại đối tượng chịu thuế, các doanh nghiệp cũng không cần quan tâm nhiều đến thuế suất trong quá trình hoạch định chiến lược sản phẩm… 3.1.3. Phương pháp tính thuế Để hạn chế bớt những bất cập không hợp lý trong phương pháp tính thuế như hiện nay thì chúng ta nên thực hiện phương pháp tính thuế thống nhất là khấu trừ, còn đối với các trường hợp không đủ khả năng hạch toán độc lập có thể nghiên cứu đến việc thu thuế khoán (Đây là biện pháp thu thuế dựa trên cơ sở các yếu tố khách quan do người sản xuất kinh doanh cung cấp và trên cơ sở các biện pháp kiểm tra của cán bộ thuế, cơ quan thuế ấn định một mức doanh thu cụ thể và trong một thời gian nhất định, trong khoảng thời gian đó, số thuế mà cơ sở phải nộp được tính dựa trên doanh thu ấn định này) hoặc chuyển các đối tượng này sang áp dụng hình thức thu thuế đơn giản theo tỷ lệ % doanh thu, cụ thể là gộp cả thuế gián thu và thuế trực thu thành một tỷ lệ trên doanh thu…Với thực tế hiện nay các hộ kinh doanh cá thể còn chiếm một tỷ lệ rất lớn trong các thành phần kinh tế, thì việc chuyển đổi phương pháp tính thuế cho nhóm đối tượng này phải được tiến hành đồng bộ với các biện pháp khác để tránh thất thu thuế cho NSNN. 3.1.4. Hóa đơn, chứng từ. Bộ tài chính trong thời gian qua để khắc phục những khúc mắc về hóa đơn chứng từ, đã ban hành nhiều quy định mới như: sửa đổi quy định về thực hiện xác minh lý lịch tư pháp và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước khi bán hóa đơn, chỉ bán hóa đơn cho các doanh nghiệp thực tế có hoạt động sản xuất kinh doanh và bán tương ứng với mức độ kinh doanh có kê khai nộp thuế nhằm ngăn chặn các hành vi mua, bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp…Tuy nhiên, trong thực tế, các quy định vẫn còn có kẽ hở để cho các đối tượng lợi dụng chiếm đoạt tiền của Nhà nước. Bởi vậy, trước hết, nên duy trì việc sử dụng hóa đơn đối với các hộ kinh doanh tính thuế theo phương pháp trực tiếp đã thực hiện lập sổ sách kế toán theo quy định; Thứ hai, là cần ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn về việc thực hiện chế độ hóa đơn chứng từ một cách kịp thời khi có những thay đổi mới; Thứ ba, là thay đổi biện pháp quản lý bằng hóa đơn, chứng từ, mở rộng diện đối với doanh nghiệp tự in hóa đơn, sẽ tránh được việc in và sử dụng hóa đơn giả như hiện nay; Thứ tư, là nên giảm bớt khối luợng hóa đơn chứng từ của các khâu từ thông báo thuế, kê khai, nộp thuế đến quyết toán thuế; Thứ năm, là đa dạng hóa các công cụ kiểm soát hoạt động giao dịch kinh doanh trên thị trường thông qua việc mở rộng thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng, thanh toán qua ngân hàng… lúc này sẽ hạn chế được rất nhiều tình trạng mua bán hóa đơn khống để rút tiền của Nhà nước, bởi hóa đơn chứng từ giờ đây chỉ là công cụ thứ yếu, là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để được quyết toán thuế. Tuy nhiên, muốn thực hiện được biện pháp này thì hệ thống các ngân hàng cũng phải được hiện đại hóa, các quy trình thanh toán cần phải nhanh, thuận lợi để không gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thanh toán các giao dịch. 3.1.5. Khấu trừ, kê khai, hoàn thuế GTGT. Quan điểm hoàn thiện thuế GTGT đó là phải tôn trọng thuộc tính trung lập của thuế, tức hạn chế tối đa các quy định miễn giảm, khấu trừ bởi nó là nguyên nhân làm sói mòn mục tiêu cốt lõi của thuế. Cơ sở pháp lý cho việc hoàn thuế GTGT chủ yếu được quy định tại điều 13 của Luật thuế GTGT. Việc hoàn thuế chỉ được thực hiên trong ba trường hợp đó là: hoàn thuế cho cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nếu các cơ sở đó thoã mãn những điều kiện luật định. Hoàn thuế trong trường hợp quyết toán thuế khi các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản có số thuế nộp thừa. Hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên thực tế vẫn xảy ra trường hợp hoặc là các doanh nghiệp không mặn mà với việc hoàn thuế, hoặc là lợi dụng các quy định về hoàn thuế để chiếm đoạt tiền của ngân sách.Trước tình trạng đó, cần phải có những giải pháp để cải cách khâu hoàn thuế GTGT; Thứ nhất để giải toả mọi vướng mắc trong việc thi hành thông suốt việc khấu trừ và hoàn thuế GTGT, cơ quan thuế các cấp phải công khai minh bạch mọi thủ tục hành chính thuế theo nguyên tắc đề cao quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm trong việc tự kê khai, nộp thuế và xác định số thuế GTGT được hoàn trả; Thứ hai là phải xem xét lại thời gian hoàn thuế, đặc biệt là đối với các đối tượng có hoạt động xuất khẩu nhưng số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ trong tháng nhỏ hơn 200 triệu đồng thì vẫn không được hoàn thuế theo tháng. Bởi theo quan điểm của các doanh nghiệp, thì thuế GTGT phát sinh dù nhỏ hay lớn cũng đều phải nộp theo tháng, nhưng việc hoàn thuế cho một số đối tượng lại theo quý; Thứ ba là quy định về ngưỡng hoàn thuế theo tháng hay theo quý đối với doanh nghiệp là 200 triệu đồng dường như còn cứng nhắc bởi số tiền này có thể phù hợp với địa phương này nhưng không phù hợp với địa phương khác do đó cần xem xét lại, tuỳ theo đặc điểm của từng trường hợp mà có quy định thời hạn được hoàn thuế; Thứ tư là nên quy định việc hoàn thuế đối với khách du lịch quốc tế mua hàng hóa của Việt Nam về nước, việc hoàn thuế này cần tiến hành đơn giản nhanh gọn như là khách quốc tế chỉ cần mang hóa đơn hàng hóa đến cơ quan thuế để được hoàn lại thuế GTGT; Thứ năm là đối với những vướng mắc về hoàn thuế GTGT đối với dự án ODA vay thì các chính sách nên sửa đổi theo hướng quy định không thực hiện hoàn thuế cho các nhà thầu chính thực hiện dự án ODA được NSNN cấp phát mà NSNN sẽ bố trí vốn đầy đủ để chủ dự án trả thuế cho các nhà thầu chính. 3.1.6. Vấn đề ưu đãi thuế Đối với các loại thuế gián thu thì thông thường không có các quy định về ưu đãi thuế, tuy nhiên trong luật thuế GTGT vẫn ban hành các trường hợp không chịu thuế, được miễn giảm thuế, đó là máy móc thiết bị nhập khẩu theo nguồn tài trợ nhân đạo cho các tổ chức và các nhân ở Việt Nam…Trường hợp sử dụng nguồn tài trợ của nước ngoài để mua hàng trong nước dùng cho mục đích từ thiện thì được hoàn lại số thuế đầu vào. Vấn đề xuất hiện ở đây là nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã lợi dụng hình thức tặng quà, tài trợ để trốn thuế bởi vậy cần có những biện pháp kiểm soát hiện trạng này như là: Ban hành các quy định về việc kiểm soát sau khi hàng hóa nhập khẩu hàng hóa có sử dụng đúng mục đích hay không? quản lý chặt chẽ các hội và tổ chức phi chính phủ ngay từ khi mới thành lập… 3.1.7. Chuẩn hóa các quy định pháp luật về thuế GTGT Cần sửa đổi các nội dung sao cho phù hợp với các văn bản pháp luật khác.Ngoài ra còn phải sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về thuế GTGT theo hướng minh bạch hóa. Tức là phải quy định lại một cách rõ ràng, dễ hiểu các văn bản pháp luật trước đây còn chưa có sự nhất quán, minh bạch và luật hóa những vấn đề đã được quy định trong các văn bản dưới luật để đảm bảo đúng nguyên tắc ban hành luật, đúng quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Điều này sẽ giúp cho các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế GTGT hiểu và làm theo pháp luật. 3.2. Về cơ chế quản lý: 3.2.1. Cơ chế tự khai – tự nộp: Tự khai, tự nộp là một phương thức quản lý thuế hiện đại của Chính phủ cơ chế này được áp dụng từ năm 2007. Đây là một cơ chế mới do đó ngay trong giai đoạn thực hiện thí điểm như hiện nay chúng ta cần có những biện pháp thích hợp để làm nền tảng cho nó. Trước hết, là tính tự giác tuân thủ của doanh nghiệp, trong cơ chế này họ được tự tính toán kê khai và nộp thuế, do đó nếu không tự giác và am hiểu các kiến thức về pháp luật thì không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Cần chú ý xem xét các trường hợp các doanh nghiệp kê khai hàng tháng có số thuế phải nộp âm nhưng doanh số bán ra rất lớn và lại không thấy lập hồ sơ xin hoàn thuế. Bởi đây rất có thể là các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh sai trái, sợ khi xin hoàn thuế sẽ bị Cơ quan thuế xuống kiểm tra. Tiếp theo, phải xây dựng được một hệ thống xử phạt nghiêm khắc và có hiệu quả để ngăn chặn sự bất tuân của một số các doanh nghiệp. Thứ ba, là phải tổ chức bộ máy thanh tra đủ mạnh để kịp thời phát hiện những gian lận của doanh nghiệp. Trước nay, công tác thanh tra của ta chưa dựa trên cơ sở nắm và phân tích đầy đủ các thông tin về đối tượng nộp thuế, do đó phần lớn chưa thanh tra đúng đối tượng, chưa xác định đúng phạm vi gian lận, chưa sử dụng được công nghệ tin học vào công tác này do đó thanh tra chưa có hiệu quả. Vì thế công tác thanh tra ngành thuế nói chung và thanh tra lĩnh vực thuế GTGT nói riêng cần được tăng cường, thời gian đầu chúng ta có thể vẫn kiểm tra trên diện rộng, nhưng sau đó công tác này cần được tiến hành có trọng tâm trọngđiểm… 3.2.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy, hoàn thiện công tác quản lý thuế: Muốn hoàn thiện thuế GTGT thì tổ chức bộ máy, công tác quản lý thuế cũng phải được hoàn thiện nhằm tạo môi trường cho thuế GTGT phát huy hết được các ưu điểm của mình. Chương trình cải cách thuế của năm 2010 của ngành thuế bao gồm 8 chương trình lớn đó là: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế; Xây dựng luật quản lý thuế, triển khai thí điểm và mở rộng cơ chế quản lý "tự kê khai, tự nộp thuế" trên toàn quốc; Tăng cường tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế, thu hồi nợ thuế; Cải cách bộ máy quản lý thuế theo mô hình chức năng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thuế; Phát triển ứng dụng tin học hiệu quả vào công tác quản lý thuế; Từng bước hiện đại cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ quan thuế. Để thực hiện mục tiêu chung thì các mục tiêu riêng phải được thực hiện một cách hiệu quả. Về việc xây dựng hệ thống chính sách thuế. Trong thời gian tới cần phải xem xét, sửa đổi các chính sách thuế sao cho có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật, tạo sự thông thoáng, minh bạch và hiệu quả của hệ thống luật nước ta. Xem trọng công tác tuyên truyền, giáo dục cho nguời nộp thuế thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và nhiều hình thức khác nhằm giúp họ hiểu biết đầy đủ các chính sách thuế, trách nhiệm pháp luật để nâng cao ý thức tự giác, chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Khuyến khích và phát triển các dịch vụ tư vấn thuế; Kiện toàn lại hệ thống quản lý thu thuế theo hướng cải cách hành chính, nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của bộ máy quản lý thuế: Ban hành bổ sung một số nội dung về quản lý thuế trong các văn bản pháp luật như các biện pháp nghiệp vụ và quy trình quản lý thu thuế chỉ do Cơ quan thuế ban hành và áp dụng nội bộ. Ban hành luật quản lý thuế để giảm hiện tượng các đối tượng nộp thuế tìm mọi cách để trốn lậu thuế, chây ỳ, ỷ lại vào cơ quan thuế trong việc tính thuế, tạo sơ hở cho cán bộ thuế có những hành vi không đúng; Đội ngũ cán bộ thuế là nhân tố rất quan trọng trong ngành thuế, bởi vậy cần có sự sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý thu theo hướng tập trung vào các khâu công việc chính, đào tạo lại và tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về quản lý thuế theo phương pháp hiện đại, trình độ ứng dụng thành thạo công nghệ tin học…Đặc biệt đối với công tác cán bộ phải xem trọng việc tuyển chọn đội ngũ làm công tác tổ chức nhân sự, bởi quyết định của đội ngũ này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ thuế. Đó phải là những người thực sự chí công, vô tư và có năng lực đánh giá nhân sự. Sự phát triển của hệ thống thuế không thể tách rời quá trình hiện đại hóa, áp dụng công nghệ thông tin vào các quy trình quản lý. Đầu tư hệ thống máy tính sẽ giúp cho tốc độ sử lý công việc của ngành thuế nhanh hơn, chi phí quản lý cũng sẽ giảm đi rất nhiều. 3.2.3. Kiến nghị đối với các cơ quan cấp trên: Để thuế GTGT ngày càng được hoàn thiện hơn thì Nhà nước, Chính phủ – là những cơ quan quản lý cao nhất, cần phải có chiến lược cụ thể nhằm tác động vào các hoạt động của nền kinh tế xã hội, từ đó tạo ra môi trường tốt nhất cho các sắc thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng phát huy được các ưu điểm của mình. Thứ nhất, về công tác quản lý. Từ khi Nhà nước chuyển việc quản lý bằng các chỉ tiêu, mệnh lệnh sang quản lý thông qua các công cụ gián tiếp mà chủ yếu là thuế thì công tác quản lý đã trở nên linh hoạt hơn rất nhiều. Cơ chế là đúng đắn, tuy nhiên không phải lúc nào việc quản lý cũng thông suốt mà không gặp phải sai sót gì, một thực tế cho thấy là tình trạng xin- cho giữa các đơn vị cấp trên và cấp dưới vẫn còn tồn tại, một số cán bộ quản lý cấp trên chưa thực sự làm hết chức trách quản lý của mình cho nên đã để xảy ra nhiều thất thoát cho Nhà nước. Vấn đề được đặt ra ở đây là cần có sự quản lý chặt chẽ, phân định trách nhiệm rõ ràng nhằm tránh tình trạng khi sự việc xảy ra thì không ai chịu trách nhiệm. Thứ hai, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống luật pháp Việt Nam cho có sự thống nhất cao giữa các Bộ luật, điều này sẽ giúp cho Luật thuế GTGT có sự phù hợp với các sắc thuế khác, tránh được các vướng mắc khi giải quyết các vấn đề liên quan đến sắc thuế này. Thứ ba, Nhà nước cần quan tâm chỉ đạo đến sự phát triển của hệ thống ngân hàng, bởi nếu các ngân hàng phát triển đồng đều và vững mạnh thì sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý và thu thuế GTGT cũng như các thuế khác một cách thuận lợi và chính xác, tránh được thất thu thuế…Ngoài ra, việc đầu tư cho các lớp đào tạo cán bộ thuế cũng rất nên được sự quan hơn, hiện nay chúng ta chưa có các trường đào tạo thuế riêng mà mới chỉ có các chuyên ngành nhỏ trong các trường đại học với thời luợng giảng dạy chưa nhiều do đó kiến thưc mà các sinh viên có được cũng chỉ là cơ bản nhất, điều này sẽ làm tốn một khoản chi phí lớn vì phải đào tạo lại khi họ vào làm thực tế… Nói tóm lại, để hoàn thiện thuế GTGT thì Nhà nước cần áp dụng rất nhiều biện pháp cả về chính sách lẫn phương diện quản lý. Các biện pháp này phải được kết hợp một cách đồng bộ chứ không thể tổ chức riêng lẻ. III. KẾT LUẬN. Chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã và đang giành được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Hệ thống thuế có sự đóng góp không nhỏ vào những thành tựu to lớn đó. Bởi vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách thuế để không ngừng phát huy vai trò tích cực của công cụ thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật thuế GTGT đã dần từng bước khẳng định được chỗ đứng là một sắc thuế tiến bộ công bằng, là công cụ điều tiết vĩ mô, là khoản thu ngân sách đáng kế của nhà nước. Tuy còn một số bất cập không thể tránh khỏi trong việc đưa ra áp dụng một chính sách thuế mới có tác dụng rộng rãi đến tất cả các thành phần kinh tế từ doanh nghiệp lớn của Nhà nước đến các hộ sản xuất cá thể. Nhưng tin rằng với những nghiên cứu và sửa đổi luật thuế GTGT của Chính phủ, luật thuế GTGT sẽ ngày càng hoàn thiện và thể hiện rõ vai trò của một sắc thuế tiến bộ trong một nền kinh tế đang từng bước đi lên. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài tập tài chính- thực tiễn áp dụng pháp luật thuế GTGT hiện nay.doc
Luận văn liên quan