Đề tài Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU THƯƠNG MẠI VÀ KHÁI QUÁT VỀ RÀO CẢN KĨ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HOA KÌ 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Viện nghiên cứu Thương mại 1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Viện nghiên cứu Thương mại 1.2.1. Chức năng 1.2.2. Nhiệm vụ 1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Viện Nghiên cứu Thương mại 1.3.1. Ban Nghiên cứu Chiến lược phát triển thương mại 1.3.2. Ban Nghiên cứu Chính sách và Cơ chế quản lý thương mại 1.3.3. Ban Nghiên cứu Thị trường 1.3.4. Ban Nghiên cứu Thương mại môi trường 1.3.5. Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo 1.3.6. Phòng Hợp tác quốc tế 1.3.7. Phòng Thông tin tư liệu 1.3.8. Phòng Nghiên cứu và Phát triển dự án 1.3.9. Văn phòng 1.3.10. Phòng Tài chính kế toán 1.3.11. Phân Viện Nghiên cứu Thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh 1.3.12. Trung tâm Tư vấn và Đào tạo kinh tế thương mại 1.4. Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kì 1.4.2. Các rào cản kỹ thuật trong thương mại Mỹ ( TBTs) 1.4.1. Các rào cản phi thuế quan (NTBs) CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì 2.1.1 Về kim ngạch xuất khẩu 2.1.2 Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 2.1.3 Về khả năng cạnh tranh của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam tại thị trường Hoa Kì 2.1.4 Đánh giá chung hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Hoa Kì 2.1.4.1 Những thành tựu đạt được 2.1.4.2 Thách thức và những vấn đề đặt ra 2.2 Khái quát về các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 2.2.1 Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với thủy sản nhập khẩu 2.2.1.1 Quy định của Hoa Kì về vệ sinh an toàn thực phẩm 2.2.1.2 Quy định của Hoa Kì về bảo vệ môi trường và nguồn lợi 2.2.1.3 Luật ghi nhãn xuất xứ đối với hàng thủy sản 2.2.1.4 Dự luật nông nghiệp 2008 2.2.1.5 Luật an toàn y tế công cộng và chuẩn bị phản ứng khủng bố sinh học 2.2.2 Ảnh hưởng của rào cản kĩ thuật đối với thủy sản xuất khẩu Việt Nam 2.2.2.1 Ảnh hưởng tích cực của rào cản kĩ thuật 2.2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của rào cản kĩ thuật 2.3 Thực trạng khả năng đáp ứng các yêu cầu về các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 2.3.1 Về vệ sinh an toàn thực phẩm 2.3.1.1 Tình hình đáp ứng tiêu chuẩn HACCP 2.3.1.2 Tình hình kiểm soát dư lượng kháng sinh và các hóa chất độc hại 2.3.2 Về bảo vệ môi trường và nguồn lợi 2.3.2.1 Tình hình đáp ứng các quy định về bao bì, ghi nhãn mác hàng thủy sản 2.3.2.2 Tình hình đáp ứng về các tiêu chuẩn môi trường 2.4 Đánh giá chung về việc vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 2.4.1 Những kết quả đạt được 2.4.2 Bất cập từ phía Việt Nam CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VƯỢT QUA CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 3.1 Định hướng phát triển xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kì 3.2 Giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 3.2.1 Giải pháp từ phía nhà nước 3.2.1.1 Tổ chức quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản 3.2.1.2 Tổ chức xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật chống bán phá giá và vệ sinh an toàn thực phẩm 3.2.1.3 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kỳ 3.2.1.4 Hỗ trợ các doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định hàng thuỷ sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ 3.2.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 3.2.2.1 Duy trì nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định 3.2.2.2 Đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ chế biến thuỷ sản 3.2.2.3 Tăng cường xây dựng và phát triển thương hiệu thuỷ sản Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ 3.2.3 Giải pháp từ phía hiệp hội 3.2.3.1 Phát triển thương hiệu gắn với hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm 3.2.3.2 Hỗ trợ doanh nghiệp để giảm chi phí và giá thành 3.2.3.3 Tạo dựng hình ảnh chung về ngành thuỷ sản Việt Nam 3.2.3.5 Tích cực hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nguyênliệu thuỷ sản 3.2.3.6 Tổ chức nhiều phương thức quản lý cộng đồng KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc64 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 3572 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ác doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã đầu tư vốn và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm thủy sản, kiểm soát dư lượng kháng sinh và hóa chất độc hại trong sản phẩm thủy sản một cách nghiêm ngặt. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 4.247 triệu USD trong đó các mặt hàng tôm và cua chế biến chiếm tỷ trọng khá lớn, khoảng 35%. Hiện nay, các doanh nghiệp đã thay đổi quan điểm của mình, “bán cái khách hàng cần”, quan tâm và đáp ứng nhu cầu của thị trường là chiến lược hàng đầu của các doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu đó, ngành thủy sản Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống luật pháp, thành lập các cơ quan chuyên quản lí kiểm soát chất lượng thủy sản đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn kĩ thuật của Hoa Kì, góp phần nâng cao vị thế của thủy sản trên thị trường. - Rào cản kĩ thuật đã mở ra cơ hội nâng cao chất lượng nâng cao chất lượng, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu cũng như sản phẩm thuỷ sản tiêu thụ trong nước. Nhằm vượt qua các tiêu chuẩn khắt khe, chất lượng hàng thủy sản Việt Nam ngày càng được nâng cao, hiện nay đã có mặt trên hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành một trong 10 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Riêng với thị trường Hoa Kì, sản phẩm thủy sản Việt Nam ngày càng tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao vị thế của mình. Năm 2009, theo số liệu thống kê của NAFIQAVED có 442 cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩn ngành thủy sản Việt Nam về điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có doanh nghiệp Việt Nam đã đạt 5 chứng chỉ phù hợp vói tiêu chuẩn quốc tế. Hội đồng chứng nhận nuôi trồng thủy sản Bang Florida (Mỹ) đã chứng nhận cho 2 trại giống, 6 nhà máy thủy sản, 2 trại nuôi tôm, 24.227 nhà máy chế biến tôm, 1347 trại nuôi tôm của Việt Nam có chứng nhận thực hành nuôi tốt(BAP). - Rào cản kĩ thuật góp phần tích cực vào quá trình bảo vệ môi trường thông qua việc thực hiện các biện pháp nhằm vượt qua rào cản trong quá trình chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Theo số liệu đã được thống kê của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hàng năm trung bình ngành thủy sản thải vào môi trường một lượng chất thải khoảng 160-180 nghìn tấn, nước thải chưa qua xử lý hoặc chỉ xử lý tạm thời khoảng 8-12 triệu m3. Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kì phải không ngừng đầu tư vào quá trình xử lý rác thải, giảm ảnh hưởng tới môi trường để vượt qua các rào cản về môi trường của Hoa Kì. - Tạo điều kiện để Việt Nam hoàn thiện hệ thống luật pháp về các tiêu chuẩn và quy định đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu nhằm chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu. Năm 2007, ngành thủy sản đã tham gia xây dựng Luật An toàn vệ sinh thực phẩm và dự thảo luật chất lượng sản phẩm hàng hóa cùng với việc áp dụng các biện pháp cấp bách kiểm soát hóa chất và kháng sinh cấm trong hàng thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kì, quy định chỉ tiêu kiểm tra và mức giới hạn tối đa cho phép đối với các sản phẩmthủy sản xuất khẩu vào Hoa Kì, đồng thời cũng quy định các hoạt động kiểm tra hóa chất, kháng sinh cấm trong nuôi trồng, chế biến, tỉ lệ mạ băng trong sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Năm 2008, Việt Nam thực hiện việc kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại với tất cả các sản phẩm thủy sản chủ lực, nuôi tập trung: tôm sú, tôm chân trắng, tôm càng xanh, cá tra, cá basa, cá rô phi, cua…chỉ tiêu và tần suất lấy mẫu kiểm tra đối với từng đối tượng cụ thể được thực hiện theo đúng quy định của các thị trường như Hoa Kì, EU. Việt Nam đã ban hành 2 quy chế “Bảo vệ môi trường trong công nghiệp chế biến thủy sản” và “Quy chế bảo vệ môi trường vùng nuôi tôm tập trung” nhằm kiểm soát việc ô nhiễm môi trường, nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. 2.2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của rào cản kĩ thuật Rào cản kĩ thuật tạo ra tác động tiêu cực là hạn chế thuỷ sản Việt Nam thâm nhập vào thị trường Hoa Kì do không vượt qua được các rào cản này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như: - Nước ta còn thiếu vốn, trình độ khoa hoc công nghệ thấp,thiếu trình độ quản lí và kinh nghiệm, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu gặp phải khó khăn rất lớn khi gặp phải các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì được xây dựng trên cơ sở khoa học công nghệ tiên tiến như các tiêu chuẩn HACCP, kiểm soát dư lượng kháng sinh và các chất độc hại trong sản phẩm thủy sản.... Điều này gây ra khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam khi phải vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì. - Các doanh nghiệp xuất khẩu thiếu chủ động trong việc tìm hiểu các rào cản của thị trường Hoa Kì và đáp ứng nó. Hiện nay, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực sự nghiên cứu tìm hiểu những rào cản kĩ thuật khi hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường Hoa Kì không được nhập khẩu, bị trả lại hoặc tiêu hủy chứ không chủ động nghiên cứu các rào cản trước nhằm đảm bảo sản xuất các sản phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn Hoa Kì. - Thị trường Hoa kì luôn không ngừng đổi mới các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, nâng cao và đưa ra nhiều tiêu chuẩn mới,hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng kháng sinh và hoá chất được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm thuỷ sản. Ví dụ như thời gian gần đây, Hoa Kì đã thông qua Đạo luật Farm Bill nhằm đưa cá tra, cá basa của Việt Nam vào danh mục Catfish, tạo thêm rào cản đối với mặt hàng này. Trong điều kiện hiện nay khi mà các rào cản thuế quan đang dần được dỡ bỏ thì các rào cản kĩ thuật càng trở thành một biện pháp phi thuế quan hữu hiệu mà Hoa Kì dựng lên nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước. 2.3 Thực trạng khả năng đáp ứng các yêu cầu về các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 2.3.1 Về vệ sinh an toàn thực phẩm Nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh ATTP của Hoa Kì, ngành thủy sản Việt Nam ngày càng chú trọng tới việc đảm bảo các tiêu chuẩn này, đặc biệt là việc kiểm soát dư lượng kháng sinh trong sản phẩm và thực hiện tiêu chuẩn HACCP. Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều bất cập nhưng ngành thủy sản cũng đã đạt được những thành công nhất định. 2.3.1.1 Tình hình đáp ứng tiêu chuẩn HACCP Nhằm đáp ứng tốt các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, trong những năm gần đây ngành thủy sản Việt Nam rất quan tâm và chú ý vấn đề ATVSTP cho người tiêu dùng trong nước và trên thế giới. Năm 2007, ngành thủy sản đã tham gia xây dựng Luật An toàn vệ sinh thực phẩm và dự thảo Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, áp dụng các biện pháp cấp bách kiểm soát hóa chất, kháng sinh trong mặt hàng thủy sản xuất khẩu,quy định chỉ tiêu kiểm tra và mức giới hạn tối đa cho phép đối với thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kì, thực hiện các hoạt động kiểm tra hóa chất, kháng sinh cấm trong nuôi trồn chế, tỉ lệ mạ băng trong sản phẩm xuất khẩu vào các thị trường khác là Liên Xô và EU. Theo số liệu của NAFIQAVED tính đến hết năm 2008 thì Việt Nam có 432 cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩn ngành thủy sản Việt Nam về điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm . HAVICO là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam đã đi đầu trong việc áp dụng hệ thống quản trị tích hợp 5 tiêu chuẩn quốc tế đồng thời với việc đảm bảo các hoạt động xã hội và chăm lo đời sống người lao động, đó là: Hệ thống Quản lý chất lượng (QMS) phù hợp ISO 9001:2000 Hệ thống Kiểm soát các mối nguy về an toàn vệ sinh thực phẩm phù hợp tiêu chuẩn HACCP Codex Rev2.2005 Hệ thống Quản lý chất lượng đảm bảo tính an toàn và hợp pháp của sản phẩm phù hợp BRC – Global Standards Food Rev 4.2005 Hệ thống Quản lý môi trường (EMS) phù hợp theo tiêu chuẩn ISO 14001-2004 Hệ thống quản lý nguồn nhân lực và các trách nhiệm xã hội với người lao động phù hợp tiêu chuẩn SA 8000:2001 Sau một quá trình cố gắng nỗ lực nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm,Việt Nam cũng đã trở thành 1 trong số các quốc gia được Hội đồng Chứng nhận nuôi trồng thủy sản Bang Florida ( Hoa Kì) cấp chứng nhận “ Thực hành nuôi tốt” cho2 trại giống, 6 nhà máy thủy sản, 2 trại nuôi tôm, 24227 nhà máy chế biến tôm và 1347 trại nuôi tôm của Việt Nam. Trong tháng 3/2010, Cục Quản lí chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm (NAFIQAVED) và các Trung tâm vùng đã tổ chức 102 lượt kiểm tra điều kiện an toàn vệ sinh cơ sở sản xuất thủy sản theo tiêu chuẩn ngành và quy định các thị trường có thỏa thuận song phương. Kết quả là điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của đa số các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu TCN và quy định của các thị trường. Hội đồng chứng nhận nuôi trồng thủy sản Bang Florida (Mỹ) đã chứng nhận cho 2 trại giống, 6 nhà máy thủy sản, 2 trại nuôi tôm, 24.227 nhà máy chế biến tôm, 1347 trại nuôi tôm của Việt Nam có chứng nhận thực hành nuôi tốt (BAP). Bảng 2.3: Danh sách các sản phẩm được chứng nhận BAP của một số nước Các sản phẩm được chứng nhận BAP của các nước tính đến ngày 31/12/2009 Nước Các trại giống Các nhà máy thủy sản Các trại nuôi tôm Các nhà máy chế biến tôm c ó chứng nhận BAP Các nhà máy chế biến cá rô phi có chứng nhận BAP Các trại nuôi tôm c ó chứng nhận BAP Được chứng nhận Được chứng nhận Được chứng nhận Khối lượng (tấn) Khối lượng (tấn) Khối lượng (tấn) Colombia 2 1 1 6.300 6.500 Ecu do 3 3 15 25.578 11.918 Hondurat 2 1 2 3.539 1.891 Nicaragua 1 4 2.590 1.569 Guatemala 1 4.099 Bangladet 2 2 4.086 2.004 Trung Quốc 1 11 1 46.938 39.881 38.000 Ấn Độ 11 2 11.992 440 Inđonesia 1 8 2 41.056 46.467 Malaysia 2 2 5.354 1.424 Thái Lan 1 27 13 198.848 527 8.061 Việt Nam 2 6 2 24.227 1.347 Tổng 12 74 46 378.607 40.408 119.711 Nguồn: 2.3.1.2 Tình hình kiểm soát dư lượng kháng sinh và các hóa chất độc hại Kể từ năm 2008, Việt Nam đã thực hiện việc kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại đối với tất cả các mặt hàng chủ lực, nuôi tập trung như tôm sú, tôm chân trắng, tôm càng xanh, cá basa, cá tra, cá rô phi, cua… chỉ tiêu và tần suất lấy mẫu kiểm tra đối với từng đối tượng cụ thể được thực hiện theo đúng quy định của các thị trường Hoa Kì và EU. Trong năm 2008, có 2 mẫu thủy sản nuôi, 2 mẫu thủy sản đại lí và 15 mẫu nước bị phát hiện quá mức giới hạn cho phép đối với chỉ tiêu dư lượng kháng chất kháng sinh cấm và hạn chế đã được xử lý theo đúng quy định. (Nguồn : http:/www.nafiqaved.gov.vn) Tất cả các vùng đều thực hiện chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh vùng nhuyễn thể 2 mảnh vỏ. Đối với các sản phẩm thủy sản có mức độ tảo độc vượt quá giới hạn cho phép được áp dụng chế độ kiểm tra tăng cường theo quy định, các sản phẩm có nhiễm chất độc DSP bị đình chỉ thu hoạch, lấy mẫu kiểm tra tăng cường tảo độc và chất độc đến khi đạt tiêu chuẩn… Chương trình kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại trong thủy sản và sản phẩm thủy sản nuôi được thực hiện trong tháng 3/2010 đã lấy 153 mẫu thủy sản nuôi, 16 mẫu nước ương giống thủy sản, kết quả không phát hiện dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm và dư lượng hóa chất kháng sinh, hạn chế sử dụng vượt quá giới hạn tối đa cho phép trong các mẫu thủy sản nuôi. 2.3.2 Về bảo vệ môi trường và nguồn lợi 2.3.2.1 Tình hình đáp ứng các quy định về bao bì, ghi nhãn mác hàng thủy sản Hiện nay, tiêu chuẩn ghi nhãn sinh thái là công cụ quản lý môi trường được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, được coi là tiêu chuẩn chung về môi trường thay cho những quy định về hàng rào thuế quan. Việt Nam đang áp dụng nhãn sinh thái được chia thành 3 loại theo Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO: Loại I (ISO 14024) là chương trình tự nguyện, dựa trên tiêu chí của bên thứ 3 nhằm cung cấp chứng nhận ủy quyền sử dụng nhãn môi trường cho các sản phẩm thể hiện được sự thân thiện với môi trường theo loại hình cụ thể dựa trên chu trình sống của sản phẩm. Loai II ( ISO 14021) là sự tự công bố mang tính chất thong tin về môi trường. Loại III ( ISO 14025) là chương trình tự nguyện được lượng hóa bằng các dữ liệu về sản phẩm trong đó các loại chỉ tiêu do bên thứ 3 định trước và dựa vào quá trình đánh giá chu trình sống của sản phẩm. Trong thực tế hiện nay , Việt Nam chưa có quy định bắt buộc hay tiền lệ dán nhãn sản phẩm nhưng trong nước cũng đã xuất hiện nhiều sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường, nhiều doanh nghiệp cũng có nhu cầu dán nhãn sinh thái cho sản phẩm dịch vụ của mình do những cố gắng nỗ lực trong việc bảo vệ môi trường của mình. Việt Nam hiện có khoảng 5 % sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ đủ tiêu chuẩn dán nhãn sinh thái. Nằm trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Việt Nam phấn đấu đến năm 2020 có 100 % sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và 50% hàng hóa tiêu dùng nội địa được dán nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn ISO 14024. 2.3.2.2 Tình hình đáp ứng về các tiêu chuẩn môi trường Mặc dù bản chất các tiêu chuẩn môi trường là tự nguyện nhưng trước nguy cơ môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng và xu hướng bảo vệ môi trường trong nước trước các sản phẩm thủy sản nhập khẩu, tiêu chuẩn này ngày càng trở nên quan trọng và có tính bắt buộc đối với một số thị trường. Để có thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về bảo vệ môi trường và nguồn lợi của Hoa Kì, Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp: Bộ Thủy sản đã ban hành hai quy chế là Bảo vệ môi trường trong công nghiệp chế biến thủy sản và Quy chế bảo vệ môi trường vùng nuôi tôm tập trung. Bên cạnh đó, BộThủy sản còn hình thành 4 trung tâm Quan trắc cảnh báo môi trường và phòng bệnh trải dài khắp cả nước nhằm hỗ trợ kĩ thuật trong quản lý môi trường và phòng ngừa dịch bệnh cho các khu vực nuôi trồng thủy sản tập trung ở 27 tỉnh thành. Ngành cũng đang thực hiện việc áp dụng thử nghiệm kiểm soát môi trường tại vùng sản xuất nguyên liệu, kiểm soát từ khâu nuôi trồng đến chế biến. Chương trình kiểm soát dư lượng trong thủy sản nuôi và Chương trình giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ được áp dụng thử nghiệm ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Việt Nam đã ban hành Quy chế quản lý vùng và cơ sở nuôi tôm an toàn vào ngày 10/4/2006 khiến Việt Nam trở thành những quốc gia đầu tiên áp dụng thực hành nuôi tôm tốt và quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm. Hiện nay, tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi nước ngọt và ô nhiễm môi trường đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh sống của các loại thủy sản, gây nguy cơ tuyệt chủng cho nhiều loài cá nước ngọt…vì vậy ngành thủy sản đang tiến hành lựa chọn lưu giữ một số loài cá quý hiếm có giá trị kinh tế cao như cá Lăng, cá Chiên, cá Anh Vũ…Ngành thủy sản cũng tiến hành lưu giữ gen qúy của nhiều đối tượng nước ngọt và nước lợ dưới dạng bảo quản tinh và nuôi nhốt ở cả 3 miền gồm 23 loài nước ngọt và 9 loài nước lợ. Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 01/1998/CT-TTg nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản. Ngoài ra, chính phủ cũng yêu cầu thực hiện tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, xử lý nghiêm các vụ vi phạm. Bên cạnh những biện pháp tích cực thì Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế trong hoạt động thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Tính đến hết năm 2009, sau 10 năm triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 tại Việt Nam, chỉ có 450 chứng chỉ được cấp. Theo nhận xét của các chuyên gia môi trường, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Tiêu chuẩn ISO 14001 được ban hành lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2000, lúc đầu chỉ được các doanh nghiệp nước ngoài hoặc liên doanh áp dụng, gần đây cũng có một số doanh nghiệp Việt Nam áp dụng nhưng vẫn còn ít so với số lượng hơn 6000 doanh nghiệp được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001. Báo cáo của Trung tâm năng suất Việt Nam đã chỉ ra rằng nguyên nhân quan trọng gây khó khăn cho việc triển khai tiêu chuẩn ISO 14001 là do Nhà nước, cơ quan quản lý chưa có chính sách cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn. Ngoài ra, một nguyên nhân khác là do các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam vẫn còn yếu kém trong việc hoạch định chiến lược phát triển và tầm nhìn dài hạn, gây ảnh hưởng lớn tới khả năng và động lực phát triển của doanh nghiệp. Hiện nay, hiệu quả thực thi yêu cầu pháp luật trong công tác bảo vệ môi trường chưa cao nên các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào công tác bảo vệ môi trường chưa thu được hiệu quả như mong đợi. Chính vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản chỉ áp dụng các tiêu chuẩn ISO 14001 khi có yêu cầu của khách hàng để kí kết hợp đồng. Ngoài ra, định hướng phát triển chưa rõ ràng gây ảnh hưởng khiến chínhsách môi trường trở nên mờ nhạt, do đó phải nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với ngành thủy sản. 2.4 Đánh giá chung về việc vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 2.4.1 Những kết quả đạt được - Trong thời gian gần đây, chất lưọng thuỷ sản Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Trong những năm gần đây, nhiều văn bản pháp luật quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm tương đương với các tiêu chuẩn của Hoa Kì đã được ban hành và thực hiện. Các cơ quan có thẩm quyền cũng đã thực hiện nhất quán chính sách quản lý an toàn vệ sinh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. Từ năm 2007 đến nay, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản tăng cường kiểm soát quản lý chất lượng nguyên liệu đầu vào, chống thu mua nguyên liệu chứa tạp chất hoặc kháng sinh độc hại. Nhiều địa phương nuôi cá, tôm tập trung đang thực hiện mô hình liên kết ngang giữa các thành phần trong toàn bộ chuỗi sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.Trong đó các doanh nghiệp sẽ kiểm soát liên hoàn từ khâu nuôi con giống, thức ăn, thuốc trị bệnh, thành phẩm cuối cùng. Ngoài ra, nhiều vùng nuôi khác đang áp dụng các quy trình như SQF 1000, BAP, CoC… Bên cạnh đó, Việt Nam kiên quyết đấu tranh chống lại các hành động gian lận thương mại của các doanh nghiệp. Hiện nay, có 3 doanh nghiệp thủy sản ở thành phố Hồ Chí Minh được công nhận đủ điều kiện xuất khẩu cá chép vào Hoa Kì do cá của các cơ sở này an toàn với dịch bệnh virus mùa xuân (SVC), đó là Công ty cổ phần Sài Gòn cá kiểng, Trại cá cảnh Châu Tống, Trại cá cảnh Võ Văn Sinh. Công ty TNHH công nghiệp thủy sản Miền Nam ( South Vina), Công ty cổ phần thủy sản Bình An, Doanh nghiệp Vĩnh Hoàn được Bộ Thương Mại Hoa Kì phán quyết không áp thuế chống bán phá giá. Ngoài ra, 3 doanh nghiệp Việt Nam khác là Công ty TNHH Thực phẩm QVD Đồng Tháp, Công ty cổ phần thủy sản An Giang ( Agifish) được hưởng mức thuế chống bán phá giá rất thấp là 0,52 %. - Thuỷ sản Việt Nam đang từng bước thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khâu từ giống, nhập khẩu nguyên liệu, việc sử dụng các loại thuốc, hoá chất kháng sinh và thức ăn sử dụng trong nuôi trồng,bảo quản cũng như chế biến thuỷ sản. Nguyên nhân của những kết quả trên có thể kể đến là: - Chính phủ, các cơ quan, bộ ngành thuỷ sản nỗ lực triển khai rộng rãi chương trình kiểm soát dư lượng hoá chất độc hại trong nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng hoá chất, thuốc kháng sinh và các chất bảo quản khác. Bên cạnh đó, Bộ Thủy sản tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ các thiết bị kiểm tra dư lượng kháng sinh cho các chi nhánh trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ. - Hiện nay, nhiều doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đã nhận thức được sự cần thiết của việc tuân thủ các quy định của thị trường Hoa Kì nói riêng và các tiêu chuẩn quốc tế nói chung. Vì vậy, các doanh nghiệp chủ động đổi mới dây chuyền sản xuất, chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO, phát triển năng lực hệ thống thanh tra, kiểm soát. - Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản VASEP cung cấp thông tin cho doanh nghiệp nhanh chóng, đại diện cho lợi ích doanh nghiệp,giúp các doanh nghiệp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì. Ngoài ra, Hiệp hội đại diện cho doanh nghiệp kiến nghị với chính phủ để đưa ra những chính sách phù hợp để đáp ứng rào cản kĩ thuật của Hoa Kì, tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. 2.4.2 Bất cập từ phía Việt Nam - Trước hết là vẫn cònnhiều lô hàng thuỷ sản có chứa kháng sinh và hoá chất tuy giảm nhưng vẫn còn bị cảnh báo,bị trả về khi xuất khẩu sang Hoa Kì do nhiều nguyên nhân: +Khâu vệ sinh an toàn thực phẩm tồn tại nhiều hạn chế như: chồng chéo quy định, xác định trách nhiệm liên đới, thiếu hệ thống tiêu chuẩn thực phẩm để thực hiện các văn bản pháp lý, đầu tư trang thiết bị kiểm nghiệm hạn chế, không đồng bộ, thiếu nhân lực… + Các cơ quan chức năng quản lý thuỷ sản vẫn chưa tìm được các biện pháp quản lý hiệu quả chất lượng thức ăn thuỷ sản. Nhiều doanh nghiệp tận dụng kẽ hở này đưa ra thị trường những sản phẩm thức ăn thủy sản kém chất lượng, không đảm bảo độ đạm cần thiết có trong thức ăn…Các cơ quan chức năng tại các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên phát hiện nhiều lô hàng thức ăn thủy sản không rõ nguồn gốc xuất xứ được bày bán công khai trên thị trường, điều này gây ảnh hưởng tới chất lượng nuôi trồng thủy sản. + Tồn tại nhiều hộ nuôi trồng thuỷ sản và doanh nghiệp làm ăn manh mún, chưa hiểu được tầm quan trọng của việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp tiến hành bơm tạp chất vào sản phẩm thủy sản vào ban đêm để tránh sự kiểm tra của các đội kiểm soát, nếu bị phát hiện thì các doanh nghiệp này sẵn sàng nộp phạt do những khoản tiền phạt này là rất nhỏ so với lợi nhuận mà họ thu được từ việc sử dụng tạp chất trong thức ăn thủy sản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng thức ăn thủy sản. + Thói quen sử dụng bừa bãi các hoá chất và thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu (phân urê) trong nuôi trồng và chế biến tuỷ sản nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, giữ độ tươi lâu hơn trong khâu chế biến và phân phối…Tuy nhiên hiện nay không có một cơ quan cụ thể thanh tra vệ sinh phòng dịch,đứng ra kiểm soát lượng chất độc này có trong sản phẩm thủy sản nên người tiêu dùng không biết dư lượng kháng sinh , vi khuẩn gây bệnh, độc tố trong các sản phẩm thủy sản tiêu dùng hàng ngày. Thứ hai là hiện các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản chưa đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường do nhiều nguyên nhân: + Nguồn vốn hạn chế cùng với trình độ khoa học công nghệ lạc hậu so với các nước trên thế giới gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc đưa ra giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường. + Việc nuôi trồng diễn ra tràn lan, manh mún, nguồn lợi thủy sản có nguy cơ cạn kiệtdo tình trạng khai thác bừa bãi ảnh hưởng tới quá trình phát triển lâu dài của ngành thủy sản.Thiếu quy hoạch tổng thể cho ngành thuỷ sản. + Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nhận thức hết những lợi ích của việc ứng dụng ISO 14001 đối với hiệu quả và năng suất hoạt động. Các doanh nghiệp chủ yếu tìm cách đạt được tiêu chuẩn ISO 14001 để có những hợp đồng làm ăn với các đối tác đòi hỏi sản phẩm phải có tiêu chuẩn này, chứ không nhấn mạnh vào lợi ích của việc ứng dụng tiêu chuẩn ISO 14001 vào việc nâng cao hoạt động chủ chốt của doanh nghiệp. Như vậy bên cạnh những thành công nhất định thì ngành thủy sản Việt Nam cũng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, vì vậy một yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp phải áp dụng, thực hiện đúng các tiêu chuẩn của Hoa Kì để nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn này, điều này cũng đòi hỏi sự nỗ lực của chính phủ và tất cả các ban ngành có liên quan. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VƯỢT QUA CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA HOA KÌ ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 3.1 Định hướng phát triển xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kì Thủy sản là một ngành có tốc độ tăng trưởng cao và doanh thu lớn nhưng phải chịu nhiều sức ép cạnh tranh từ phía các đối thủ trên thị trường,phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng cũng như hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về mặt hàng thủy sản. Đặc biệt là đối với một thị trường khó tính như Hoa Kì thì các mặt hàng thủy sản của Việt Nam gặp phải những khó khăn rất lớn, sức ép cạnh tranh cao. Vì vậy, định hướng phát triển xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì là phải phát triển ngành thủy sản trong nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường Hoa Kì,chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm dần tỷ trọng xuất khẩu hàngthô, đẩy mạnh xuất khẩu hàng có giá trị gia tăng cao.Chính việc xây dựng địnhxuất khẩu thủy sản sẽ vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các khối ngành nông nghiệp và góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng ven biển và hải đảo. Việc xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam đồng thời xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam cũng là một vấn đề quan trọng trong định hướng phát triển ngành thủy sản, nó đòi hỏi nỗ lực không chỉ của chính phủ, hiệp hội mà còn cả của tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản. Để bắt kịp những định hướng trên, mục tiêu của ngành thủy sản Việt Nam trong thời gian tới là phát triển ngành thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tiếp thu trình độ công nghệ chế biến thủy sản tiên tiến nhất trên thế giới, đưa thủy sản trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. 3.2 Giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 3.2.1 Giải pháp từ phía nhà nước 3.2.1.1 Tổ chức quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản Ngành thủy sản đã có những bước phát triển nhất định nhưng vẫn còn thiếu quy hoạch tổng thể một cách đồng bộ khiến xuất hiện nhiều vùng thủy sản phát triển một cách tự phát, không bắt kịp với nhu cầu thị trường. Sản lượng khai thác thủy sản đã đến ngưỡng, điều này đòi hỏi phải phát triển công tác nuôi trồng nếu muốn có tăng trưởng trong ngành thủy sản. Tuy nhiên, nhà nước và chính quyền địa phương vẫn chưa có một sự quan tâm xứng đáng với ngành thủy sản nên thiếu nhiều chính sách khuyến khích đầu tư phát triển, thiếu vốn đầu tư, guồng máy quản lí không theo kịp sự phát triển của nuôi trồng thủy sản. Hiện chưa xây dựng được hệ thống cấp nước chủ động cho các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, các hộ nuôi trồng tự dẫn nước vào ao hầm của mình gây ra tình trạng lộn xộn,gây hại lẫn nhau. Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất, người nuôi chỉ thực hiện vét bùn đáy mà không dành diện tích để xây dựng ao xử lý nước thải, ao lắng nước nước cấp, mật độ nuôi trồng quá dày, tất cả những điều này đã ảnh hưởng đến môi trường nuôi trồng thủy sản,ảnh hưởng tới chất lượng nguồn thủy sản. Vì thế,các cơ quan quản lý có liên quan cần phải xây dựng một quy hoạch đồng bộ nuôi trồng thủy sản để phát triển xuất khẩu thủy sản một cách bền vững, đảm bảo sự ổn định sản lượng và chất lượng thủy sản. Để có quy hoach phù hợp cần phải khoanh vùng và sử dụng hầu hết các loại mặt nước vào nuôi trồng thủy sản. Tạo điều kiện ưu tiên sử dụng những vùng nước có điều kiện thuận lợi cho nuôi tôm, trồng rau câu xuât khẩu, nuôi cá tạo vành đai thực phẩm cho các thành phố lớn. Kết hợp một cách hợp lí các khâu từ sản xuất con giống, thức ăn, nuôi trồng, chế biến, vận chuyển đến tiêu thụ sản phẩm. Phối hợp nhiều ngành kinh tế với nhau để đạt hiệu quả cao như là kết hợp giữa cấy lúa, trồng rừng, trồng cói, làm muối và các ngành khác với nuôi trồng thủy sản. Gắn việc giao đất, giao rừng, giao mặt nước với việc phân công lao động, bố trí dân cư, xây dựng làng cá nhằm huy động được các thành phần kinh tế, mở rộng ngành nghề, tận dụng đất đai, mặt nước để nâng cao năng lực sản xuất. Nuôi trồng thủy sản còn phải gắn với bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp, bảo vệ môi trường và các điều kiện sinh thái. Cần phải có sự kết hợp giữa Bộ Thuy sản với các ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương khẩn trương tổ chức xây dựng quy hoạch nuôi trồng thủy sản để có căn cứ phát triển sản xuất một cách ổn định và vững chắc. Ngoài ra, Bộ Thủy sản nên cử những cán bộ giỏichuyên môn trực tiếp xuống các vùng trọng điểm nuôi trồng thủy sản để hướng dẫn xây dựng quy hoạch của vùng, sau đó tập hợp lại để lập quy hoạch nuôi trồng thủy sản toàn ngành về quản lí hệ thống trại giống, quản lí môi trường nuôi và thống kê nghề cá. Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương huy động cán bộ Sở Thủy sản và các đơn vị trong tỉnh liên quan để tập trung làm quy hoạch cho tỉnh, thành phố, đặc khu mình. 3.2.1.2 Tổ chức xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật chống bán phá giá và vệ sinh an toàn thực phẩm Hoa Kì là một nước có hệ thống pháp luật chặt chẽ, phức tạp nhất, bên cạnh đó còn có hệ thống luật pháp của các bang riêng lẻ. Vì vậy quan hệ thương mại thường xuyên phải gắn với tư vấn pháp lý, đặc biệt trong thời gian qua có nhiều lô hàng thủy sản của Việt Nam sang Hoa Kì không đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của Hoa Kì hoặc bị kiện bán phá giá, gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, để duy trì và phát triển mối quan hệ thương mại trên lĩnh vực thủy sản với Hoa Kì, bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trong nước, Việt Nam cần đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện luật chống bán phá giá, luật vệ sinh an toàn thực phẩm, luật sở hữu trí tuệ...Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về vệ sinh an toàn thực phẩm tại cộng đồng, đặc biệt chú trọng đến cộng đồng những người sản xuất và cung ứng nguyên liệu. Tổ chức hoàn thiện và tăng cường năng lực tổ chức, thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương. Phát triển các hoạt động đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, huy động sự tham gia của tất cả cộng đồng. Đẩy mạnh công tác kiểm tra sản phảm theo tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường hợp tác quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổ chức xây dựng và đưa vào thực hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Do vậy, trước mắt cần thực hiện mã hóa các vùng nuôi để việc truy xuất nguồn gốc có thể tiến hành một cách thuận lợi. Tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp chế biến trong khâu kiểm soát dư lượng kháng sinh và hóa chất trong nguyên liệu để có những giải pháp kịp thời, tránh tình trạng sản xuất ra những sản phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế. Đẩy mạnh hoạt động liên ngành trong công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Phát triển một cách có hiệu quả hoạt động kiểm soát dư lượng các chất độc hại có trong sản phẩm thủy sản và kiểm soát an toàn vệ sinh khu vực nuôi trồng thủy sản. Tổ chức nhiều hoạt động nhằm ngăn chặn việc đưa tạp chất vào nguyên liệu thủy sản. Thêm vào đó, Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và chủ động tuân thủ hiệp định thương mại giữa hai quốc gia. 3.2.1.3 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kỳ Hoa Kì là một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng nhưng cũng là một thị trường gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này, đặc biệt trong thời gian gần đây khi mà các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam khi xuất khẩu sang Hoa Kì đã liên tiếp gặp phải những rào cản kĩ thuật như vệ sinh an toàn thực phẩm, bán phá giá... Do đó,đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu nhằm đưa hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam, sản phẩm Việt Nam đến với người tiêu dùng, doanh nghiệp Hoa Kì, cung cấp thông tin về thị trường, thị hiếu, luật pháp, chính sách của Hoa Kì cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tổ chức phối hợp hoạt động giữa các ngành, Trung ương và địa phương trong hoạt động xúc tiến thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp tích cực hơn, tránh tình trạng hoạt động riêng lẻ và manh mún, tiết kiệm chi phí và hoạt động có hiệu quả. Tăng cường vai trò quản lí,giám sát của chính phủ đối với các hoạt động khuyến mại, quảng cáo, tổ chức hội chợ, thường xuyên tổ chức đánh giá để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời. Tổ chức xây dựng kế hoạch cho công tác nghiên cứu thị trường nhằm đảm bảo tính hợp lí và kế hoạch lâu dài, để huy động kinh phí. 3.2.1.4 Hỗ trợ các doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định hàng thuỷ sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản về thông tin, tài chính, đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng này và đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của Hoa Kì. Ngoài ra, Chính phủ cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp điều kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm theo HACCP, GMP, SSOP…để đảm bảo các doanh nghiệp có thể đạt được các tiêu chuẩn đó. Hỗ trợ về thông tin Tổ chức đa dạng hóa các hình thức chuyển tải thông tin, tuyên truyền và phổ biến các kiến thức về nuôi trồng, khai thác,bảo quản và chế biến thủy sản, các kĩ thuật về bảo quản thủy sản cho các ngư dân và chủ tàu nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho thủy sản. Ngoài ra, chính phủ cần phải có những biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn thông tin mới nhất của thị trường Hoa Kì để có những biện pháp ứng phó kịp thời, nắm bắt thời cơ để thu được lợi nhuận cao nhất. Hỗ trợ về tài chính Nhà nước cần tổ chức hỗ trợ kinh phí hàng năm để tạo điều kiện giúp đỡ doanh nghiệp thực hiện các công việc liên quan đến kiểm soát an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm, các hoạt động xúc tiến thương mại cho ngành thủy sản Việt Nam như xây dựng thương hiệu, quảng báo thương hiệu chung cho các sản phẩm thủy sản chủ lực, đăng kí bảo hộ…, hỗ trợ xây dựng và hoạt động các tổ chức xúc tiến đầu mối tại thị trường Hoa Kì, thực hiện các chiến dịch truyền thông và quảng bá sản phẩm thủy sản Việt Nam, các hoạt động khác về xúc tiến thương mại với Hoa Kì phục vụ cho lợi ích chung của ngành. Chính phủ phải có những điều chỉnh về tỉ lệ lãi suất, thời hạn cho vay tín dụng thắt chặt và mở rộng tùy theo biến động của thị trường, hỗ trợ vốn và tín dụng cho doanh nghiệp khi gặp phải những khó khăn do sự biến động trên thị trường. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực Chính phủ cần phát triển các hình thức đào tạo trong và ngoài nước cho cán bộ quản lí, cán bộ nghiên cứu và cán bộ về marketing, giỏi nghiệp vụ, am hiểu về các chính sách kinh tế và luật lệ. Bên cạnh đố cần chú ý đào tạo bồi dưỡng đội ngũ lao động kĩ thuật, hướng dẫn nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành thủy sản. 3.2.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 3.2.2.1 Duy trì nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định Trong thực tế sản xuất hiện nay, tình trạng cung cấp nguyên liệu theo mùa vụ và thường xuyên không ổn định gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong việc đáp ứng đầy đủ các đơn đặt hàng của đối tác đúng thời hạn. Vì vậy cần tập trung tổ chức lại sản xuất theo hướng có liên kết sản xuất nhằm tạo ra sản lượng lớn, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu, nâng cao hiệu quả và chất lượng khai thác, chống thất thoát sau thu hoạch và quản lí thị trường nguyên liệu. Ngoài ra, doanh nghiệp cần tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung và liên kết với các nhà khoa học,nhà quản lí nhằm tạo ra sản lượng hàng hóa lớn và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho sản phẩm thủy sản. Trong khai thác thủy sản cần tổ chức theo tổ đội, hợp tác, gắn với sử dụng tàu hậu cần dịch vụ, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm, tăng tỷ trọng sản phẩm khai thác đưa vào chế biến xuất khẩu. Tổ chức xây dựng và hoàn thiện các chương trình phát triển sản phẩm chủ lực và các sản phẩm mới có tiềm năng trên thị trường. Sử dụng công nghệ bảo quản tiên tiến nhất trên thế giới, đồng thời tiến hành xây dựng hệ thống cảng cá, chợ cá để giảm thiểu thất thoát sâu thu hoạch, tổ chức lại hệ thống nậu vựa để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của hệ thống này để quản lí tốt thị trường nguyên liệu. Đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu nguyên liệu với cơ cấu phù hợp thích hợp phục vụ chế biến tái xuất đáp ứng nhu cầu sản phẩm trên thị trường, khắc phục tình trạng sản xuất theo mùa vụ. 3.2.2.2 Đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ chế biến thuỷ sản Các doanh nghiệp Việt Nam cần tiếp tục nâng cấp điều kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lí đảm bảo vệ sinh an toàn thựcphẩm theo HACCP, GMP, SSOP… Đẩy mạnh hoạt động đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, cơ giới hóa và tự động hóa dây chuyền chế biến. Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành chế biến để tiếp cận nền công nghệ hiện đại trên thế giới. Ngoài ra, cần ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí để nâng cao hiệu quả quản lí. Doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến công tácnghiên cứu, phát triển và đổi mới sản phẩm tại các doanh nghiệp. Mở rộng chủng loại và khối lượng các mặt hàng thủy sản chế biến có giá trị gia tăng, hàng phối chế, hàng ăn liền, đạt tỷ trọng khoảng 60-65% sản phẩm giá trị gia tăng trong cơ cấu giá trị xuất khẩu thủy sản. 3.2.2.3 Tăng cường xây dựng và phát triển thương hiệu thuỷ sản Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ Việc xây dựng và phát triển thương hiệu thủy sản Việt Nam là đòi hỏi cấp thiết để các sản phẩm thủy sản Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường Hoa Kì. Do đó, các doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức về sự cần thiết và tác dụng của việc xây dựng thương hiệu. Việc xây dựng thương hiệu phải được phổ biến tới tất cả các cá nhân trong ngành, phải được phản ánh đầy đủ trong tất cả các khâu, trong tất các hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc lựa chọn nguyên liệu, xử lí, sản xuất, đóng gói, phân phối sản phẩm và các dịch vụ hậu mãi. Các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm…nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao với chi phí thấp nhất, đẩy mạnh hoạt động quảng bá sản phẩm, tiếp thị đến tay người tiêu dùng…từ đó xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Nhưng trong thực tế các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khó khăn về tài chính nên thường chỉ tập trung vào một số khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc cắt giảm những khoản chi phí cần thiết cho việc xây dựng và quảng bá thương hiệu, hoặc không tiến hành một cách thường xuyên gây ảnh hưởng rất nhiều đến việc xây dựng thương hiệu, các doanh nghiệp cần chú ý đến vấn đề này để có chiến lược phát triển thương hiệu hợp lí. Vấn đề bảo vệ, giữ gìn và phát triển thương hiệu một cách lâu dài cũng là vấn đề quan trọng khi tạo dựng thương hiệu, do đó doanh nghiệp cần đề cao “chữ tín” trong kinh doanh với đối tác Hoa Kì trên cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển mạng lưới bán hàng. 3.2.3 Giải pháp từ phía hiệp hội 3.2.3.1 Phát triển thương hiệu gắn với hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm - Phối hợp với Bộ Thủy sản và các Bộ ngành liên quan tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên trong hoạt động xây dựng, phát triển và đăng kí thương hiệu, kết hợp với các giải pháp đảm bảo tiêu chuẩn sản phẩm và xúc tiến thương mại tạo điều kiện nâng cao lợi thế cạnh tranh cho từng doanh nghiệp và của cả ngành. - Tổ chức phối hợp các doanh nghiệp, đại lí, các nhà cung cấp thức ăn, thuốc chữa bệnh, ngư dân nuôi trồng các sản phẩm chất lượng cao, có lợi thế cạnh tranh lớn như tôm nuôi sạch, tôm sinh thái, cá tra sinh thái, cá giò Hạ Long, cá basa AOC,…cùng xây dựng thương hiệu chung cho toàn ngành thủy sản, gắn với hệ thống tiêu chuẩn chất lượng và hệ thống thanh tra kiểm soát, tăng cường công tác kiểm soát chi phí sản xuất và giá cả, nâng cao năng lực quản lí trong tất cả mọi khâu của quá trình sản xuất. - Thường xuyên tiến hành các hoạt động nhằm phát động các doanh nghiệp thành viên tham gia chương trình “ Hàngthủy sản Việt Nam chất lượng quốc tế”, tiến hành tổ chức xây dựng đăng kí bảo hộ cho các thương hiệu quốc gia gắn với hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quốc gia và tổ chức bảo hộ cho các sản phẩm đạt tiêu chuẩn. 3.2.3.2 Hỗ trợ doanh nghiệp để giảm chi phí và giá thành - Hiệp hội phải thường xuyên tập hợp ý kiến của hội viên để thay mặt cho các doanh nghiệp đưa ra những kiến nghị kịp thời với Chính phủ, từ đó đề xuất để có được những chính sách cụ thể nhằm mục tiêu giảm chi phí, hạ giá thành trong mọi khâu của quá trình sản xuất. - Hiệp hội cần tổ chức phối hợp các hội viên với nhau để đàm phán với các nhà cung cấp dịch vụ như vận tải, kho lạnh, kiểm nghiệm, chứng nhận,…để giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi ích cho mọi doanh nghiệp. - Hiệp hội cần phải hỗ trợ hội viên áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới vào quá trình sản xuất và quản lí nhằm tăng hiệu quả và giảm chi phí. - Hiệp hội nên phối hợp với các đối tác EU và Hoa Kì xây dựng và triển khai phòng kiểm nghiệm của EU và FDA tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực kiểm nghiệm hàng xuất khẩu và phòng tránh các trường hợp hàng bị trả về hoặc bị tiêu hủy. 3.2.3.3 Tạo dựng hình ảnh chung về ngành thuỷ sản Việt Nam - Phối hợp với Bộ Thủy sản và Bộ Công Thương tận dụng triệt để và có hiệu quả các dự án quốc tế, xây dựng chiến lược thâm nhập các thị trường lớn như Hoa Kì, EU, Nhật Bản cho các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực và phối hợp thực hiện với các doanh nghiệp hội viên. - Hiệp hội cần chủ động phối hợp với các đối tác trên từng thị trường trọng điểm để tiến hành các hoạt động đa dạng, tiếp thị đến người tiêu dùng cuối cùng. - Hiệp Hội cần thay đổi phương thức tổ chức tham gia hoạt động hội chợ quốc tế, phối hợp các nguồn lực xây dựng gian hàng quốc gia mang nét đặc trưng của Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo tính chuyên nghiệp. - Hiệp hội cần tổ chức xây dựng đề án và từng bước triển khai thực hiện việc tổ chức các đầu mối và các kênh tiêu thụ chung cho thủy sản Việt Nam như Hoa Kì, Nhật Bản, EU,...hoạt động theo phương thức tự chủ tài chính, cung cấp thong tin cho Hiệp hội và cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp thành viên. 3.2.3.4 Ngăn ngừa tranh chấp thương mại và nâng cao khả năng giải quyết tranh chấp - Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo cho doanh nghiệp về các kiến thức phòng ngừa và giải quyết tranh chấp thương mại, kiến thức về hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực đàm phán quốc tế. - Hiệp hội cần chủ động phối hợp với cơ quan nhà nước xây dựng mạng lưới thu thập thông tin và cảnh bóa sớm về các tranh chấp thương mại có thể xảy ra, xây dựng mối quan hệ bền vững với các đối tác lớn, chủ động đối thoại để giải quyết các tranh chấp. -Ủy ban tôm và Ủy ban cá nước ngọt cần phối hợp với các doanh nghiệp tiếp tục giải quyết hậu quả các vụ kiện, tiến hành đánh giá hành chính hàng năm nhằm giảm dần mức thuế. 3.2.3.5 Tích cực hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nguyênliệu thuỷ sản - Chủ động phối hợp với các tổ chức bảo vệ môi trường xây dựng tiêu chuẩn sản xuất thủy sản bền vững và các mô hình được thế giới công nhận. - Hiệp hội cần chủ động hỗ trợ hội viên nâng cao chất lượng nguồn thủy sảnthông qua việc nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng nguồn nguyên liệu, hỗ trợ xây dựng các khu vực nuôi trồng thủy sản đảm bảo an toàn vệ sinh, tích cực kiểm soát hệ thống cung cấp, tích cực sử dụng thiết bị kiểm soát dư lượng kháng sinh. - Phối hợp cùng các tỉnh mở rộng sản xuất sản phẩm sạch và sản phẩm sinh thái theo các mô hình tiên tiến như mô hình Lâm ngư trường 184 Cà Mau. - Tổ chức phối hợp chặt chẽ với Cục quản lí chất lượng an toàn vệ sinh và thú y thủy sản, Sở Thủy sản, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh thành có nuôi trồng thủy sản tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của ngư dân nhằm phòng tránh việc đưa các chất độc hại vào sản phẩm thủy sản. 3.2.3.6 Tổ chức nhiều phương thức quản lý cộng đồng - Hiệp hội chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và Hội nghề cá xây dựng các tổ chức, hiệp hội, câu lạc bộ, xây dựng một mối quan hệ gắn bó giữa cộng đồng ngư dân và các doanh nghiệp chế biến. - Hỗ trợ xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, thực hiện hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng sản phẩm, hình thành cơ chế phối hợp nhằm giảm thiểu tối đa những bất lợi xảy ra do tình trạng biến động theo chu kì gây khủng hoảng sản xuất nguyên liệu. - Hiệp hội chủ động đứng ra đàm phán với các nhà cung cấp thức ăn, thuốc trị bệnh, chế phẩm sinh học phục vụ thủy sản để hạ giáthành sản phẩm và kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm thủy sản. KẾT LUẬN Hiện nay quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kì đã được nâng lên một tầm cao mới trên tất cả các lĩnh vực, nhất là quan hệ thương mại hai chiều về thủy sản đã đạt được nhiều thành tựu. Các mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì có xu hướng ngày càng đa dạng, tăng cả về sản lượng và giá trị. Điều này cho thấy thủy sản của Việt Nam đang ngày càng đáp ứng tốt các yêu cầu của Hoa Kì. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu đang gặp khó khăn, Hoa Kì là một cường quốc phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế, các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đặt ra đối với hàngthủy sản nhập khẩu ngày càng trở nên khắt khe và tinh vi. Hoa Kì đã khai thác triệt để các rào cản kĩ thuật để bảo vệ lợi ích cho các ngành sản xuất trong nước. Các rào cản kĩ thuật này sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Hoa Kì trong giai đoạn tới,gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Theo cách tiếp cận đó, bài viết đã tập trung vào phân tích các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản nhập khẩu và việc áp dụng các loại rào cản kĩ thuật của Mĩ đối với hàng thủy sản nhập khẩu. Đồng thời, bài viết cũng phân tích khả năng đáp ứng yêu cầu về rào cản kĩ thuật đó của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2001 đến nay. Ngoài ra, bài viết đã trình bày tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì thời gian qua cũng như phân tích các quy định và việc thựchiện các rào cản kĩ thuật trên thị trường HoaKì. Đồng thời đề xuất định hướng và một số giải pháp từ phía nhà nước, các doanh nghiêp, hiệp hội và các tổ chức tư vấn pháp luật để thủy sản Việt Nam có thể đáp ứng được các yêu cầu về rào cản kĩ thuật của Hoa Kì, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì trong thời gian tới. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi của các cô chú, anh chị trong Viện Nghiên Cứu Thương Mại – Bộ Công Thương, em xin cảm ơn TS. Trịnh Thị Thanh Thủy – Trưởng Ban Nghiên Cứu Chính Sách Và Cơ Chế Quản Lý Thương Mại là người trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Thương Mại và Kinh tế quốc tế, trường Đại học Kinh tế Quốc Dân trong suốt thời gian đã truyền dạy kiến thức cho em. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thị Thanh Hà, vì hơn ai hết em ý thức được rằng chuyên đề cuối khóa của em sẽ khó có thể hoàn thành nếu thiếu sự đôn đốc, hướng dẫn, chỉ bảo giúp đõ tận tình của cô. Em xin chân thành cảm ơn cô. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách Tiếng Việt 1. Ban biên tập VASEP (2000), Triển vọng của ngành công nghiệp nhà hàng Mỹ, Tạp chí thương mại thủy sản. 2. Ban biên tập VASEP (2003), Luật chống khủng bố sinh học và đảm bảo an ninh hay cản trở nhập khẩu thực phẩm vàoMỹ, Tạp chí thương mại thủy sản. 3. Bộ Thương Mại (2004), Nghiên cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam – Đề tài 2003-78-020, Hà Nội. 4. Hàng rào kĩ thuật của Mỹ đối với thủy sản nhập khẩu vào Việt Nam, TSTrần Văn Nam, ĐH Kinh tế quốc dân, Năm 2006 5. Lê Anh Ngọc, Công tác quản lí điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cơ sở chế biến thủy sản 2006, số 12/2006, trang 9 ,Tạp chí thủy sản. 6. PGS.TS Đỗ Đức Bình- ThS Bùi Huy Nhượng, Đặc điểm và một số vấn đề lưu ý khi thâm nhập thị trường EU và Mỹ, Nghiên cứu châu Âu, số 1,2004. 7. Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kì (2004), Quy định tạm thời của FDA về đăng kí các cơ sở sản xuất, chế biến, bao gói, bảo quản thực phẩm theo Luật chống khủng bố sinh học. 8. Trung tâm thông tin KHCN kĩ thuật thủy sản (2007), Tổng quan thị trường tôm Mỹ năm 2006 và dự báo năm 2007. 9. Võ Thanh Thu (2002), Chiến lược thâm nhập thị trường Hoa Kì, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội. 10. WTO (8/2001), Điểm lại chính sách thương mại Hoa Kì, WT/ TPR/5/88 Websites 11. Hàng rào kỹ thuật trong thương mại Hoa Kì, Quốc Khánh, Nam, 16/8/2009 12. 10 điểm nổi bật của ngành thủy sản Việt Nam 2009,Lê Minh, Nam , 13/1/2010 13. Thị trường xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam 2009, Thu Huyền, Nam, 4/1/2010 LỜI CAM ĐOAN Em tên là : Dương Kim Trang Sinh viên lớp: Kinh tế quốc tế 48B Khoa: Thương Mại & Kinh tế quốc tế Em xin cam đoan bài chuyên đề thực tập này là do em phân tích, tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, số liệu. Bài chuyên đề thực tập này tuyệt đối không sao chép từ bất kì nguồn nào, mọi dữ liệu sử dụng là trung thực và có trích dẫn nguồn cụ thể. Nếu vi phạm em xin chịu mọi hình thức kỉ luật của nhà trường. Em xin chân thành cảm ơn. Sinh viên Dương Kim Trang MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ATTP An Toàn Thực Phẩm BAP Chứng nhận thực hành nuôi tốt FDA Cục thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kì NAFIQAVED Cục Quản lí chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm TNHH Trách Nhiệm Hữu Hạn USDA Bộ Nông Nghiệp Hoa Kì DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Hình 1.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Viện 6 Bảng 2.1 Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kì 2001-2009 19 Biểu đồ 2.1: Thị trường xuất khẩu chính của thuỷ sản Việt Nam 2009 20 Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng các sản phẩm thủy sản chính xuất khẩu sang Hoa Kì năm 2009 21 Biểu đồ 2.3: Xuất khẩu cá tra và cá basa của Việt Nam sang Hoa Kì 2001-2009 (tấn) 23 Biểu đồ 2.4: Xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Hoa Kì 2001 – 2009 24 Bảng 2.2: Nhập khẩu tôm của Hoa Kì 2003-2009 25 Bảng 2.3: Danh sách các sản phẩm được chứng nhận BAP của một số nước 25 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docRào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam.doc
Luận văn liên quan