Đề tài Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong hoạt động thực tiễn

Phần I: NỘI DUNG CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG 1.1 Quan điểm duy vật về thế giới Trong lịch sử triết học, các nhà triết học trước hết phải giải đáp vấn đề bản chất của thế giới là gì? Là vật chất hay tinh thần? Các nhà triết học cho rằng, bản chất của thế giới là vật chất. Ngược lại, các nhà triết học duy tâm lại cho rằng, bản chất của thế giới là tinh thần. Quan điểm của các nhà triết học duy vật cũng không ngừng được bổ sung và phát triển gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Kế thừa tư tưởng của nhà triết học duy vật và căn cứ vào thành tựu khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đi đến khẳng định rằng: Bản chất của thế giới là vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất và vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức, quyết định ý thức và được ý thức phản ánh. Những nội dung trên không phải là sự sáng tạo thuần túy từ tư duy của các nhà duy vật biện chứng mà nó là sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên. Bản chất của vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới được chứng minh không phải bằng vài ba lời khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật mà bằng một sự phát triển lâu dài, khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên. 1.2 Tính thống nhất vật chất của thế giới Đối lập với các nhà duy tâm, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng “bản chất thế giới là vật chất”, do đó điều nhận thấy đầu tiên là tính thống nhất của thế giới thể hiện ở: - Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất, đó là thế giới vật chất, không có và không thể có một thế giới không vật chất nằm cạnh thế giới vật chất. - Tất cả các sự vật hiện tượng đều là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất hay là những thuộc tính của vật chất. - Các sự vật hiện tượng trong thế giới đề có mối liên hệ vật chất với nhau, đều là nguyên nhân và kết quả của nhau, đều bị chi phối bởi các quy luật chung giống nhau. Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách rời nhau. Chủ nghĩa duy vật tuy có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định, nhưng nhìn chung phương pháp siêu hình giữ vai trò giữ vai trò thống trị đặc biệt trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII. Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến đỉnh cao ở chủ nghĩa duy tâm với quan niệm về sự phát triển của "ý niệm tuyệt đối" trong triết học cổ điển Đức. Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng đã không chỉ làm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Mác không hiểu về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và nối tiếp nhau của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất. Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C. Mac và Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng. - Quan niệm duy vật triệt để (duy vật cả về mặt xã hội) Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để. Khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ. - Tính thực tiễn - cách mạng: Tính thực tiễn - cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết thể hiện ở + Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản. + Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới. + Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới.

doc17 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 6597 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong hoạt động thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần I: NỘI DUNG CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG 1.1 Quan điểm duy vật về thế giới Trong lịch sử triết học, các nhà triết học trước hết phải giải đáp vấn đề bản chất của thế giới là gì? Là vật chất hay tinh thần? Các nhà triết học cho rằng, bản chất của thế giới là vật chất. Ngược lại, các nhà triết học duy tâm lại cho rằng, bản chất của thế giới là tinh thần. Quan điểm của các nhà triết học duy vật cũng không ngừng được bổ sung và phát triển gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Kế thừa tư tưởng của nhà triết học duy vật và căn cứ vào thành tựu khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đi đến khẳng định rằng: Bản chất của thế giới là vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất và vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức, quyết định ý thức và được ý thức phản ánh. Những nội dung trên không phải là sự sáng tạo thuần túy từ tư duy của các nhà duy vật biện chứng mà nó là sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên. Bản chất của vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới được chứng minh không phải bằng vài ba lời khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật mà bằng một sự phát triển lâu dài, khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên. 1.2 Tính thống nhất vật chất của thế giới Đối lập với các nhà duy tâm, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng “bản chất thế giới là vật chất”, do đó điều nhận thấy đầu tiên là tính thống nhất của thế giới thể hiện ở: - Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất, đó là thế giới vật chất, không có và không thể có một thế giới không vật chất nằm cạnh thế giới vật chất. - Tất cả các sự vật hiện tượng đều là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất hay là những thuộc tính của vật chất. - Các sự vật hiện tượng trong thế giới đề có mối liên hệ vật chất với nhau, đều là nguyên nhân và kết quả của nhau, đều bị chi phối bởi các quy luật chung giống nhau. Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách rời nhau. Chủ nghĩa duy vật tuy có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định, nhưng nhìn chung phương pháp siêu hình giữ vai trò giữ vai trò thống trị đặc biệt trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII. Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến đỉnh cao ở chủ nghĩa duy tâm với quan niệm về sự phát triển của "ý niệm tuyệt đối" trong triết học cổ điển Đức. Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng đã không chỉ làm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Mác không hiểu về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và nối tiếp nhau của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất. Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C. Mac và Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng. - Quan niệm duy vật triệt để (duy vật cả về mặt xã hội) Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để. Khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ. - Tính thực tiễn - cách mạng: Tính thực tiễn - cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết thể hiện ở + Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản. + Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới. + Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới. 1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 1.3.1 Phạm trù vật chất Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm. Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy tâm quan niệm, bản chất của thế giới là một bản nguyên tinh thần, còn vật chất chỉ được quan niệm là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy. Còn chủ nghĩa duy vật quan niệm, bản chất của thế giới, thực thế của thế giới là vật chất – cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng. Quan niệm của các nhà triết học duy vật trước Mác về vật chất tuy có những ưu điểm trong việc giải thích cơ sở vật chất của sự tồn tại giới tự nhiên nhưng về căn bản vẫn còn nhiều hạn chế như: không hiểu chính xác bản chất của các hiện tượng ý thức cũng như mối quan hệ giữa ý thức với vật chất; không có cơ sở để xác định những biểu hiện của vật chất trong đời sống xã hội… Hạn chế đó tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật không triệt để khi giải quyết các vấn đề về giới tự nhiên, các nhà duy vật đứng trên quan điểm duy vật nhưng khi giải quyết những vấn đề xã hội họ đã “trượt” sang quan điểm duy tâm. Trong bối cảnh lịch sử đó, V.I.Lênin đã tiến hành tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, Người đã vạch rõ ý đồ xuyên tạc những thành tựu khoa học tự nhiên của những nhà triết học duy tâm, khẳng định bản chất vật chất của thế giới và đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất: “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Thứ nhất, cần phân biệt khái niệm “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với khái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành. Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất được khái quát trong phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng là thuộc tính tồn tại khách quan. Thứ ba, vật chất là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người. 1.3.2 Phạm trù ý thức Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật tự nhiên mà còn là của các quy luật xã hội; được quy định bởi nhu cầu giao tiếp và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của đời sống xã hội. Với tính năng động, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội. Ý thức bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất: Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng ngôn ngữ. Mọi hoạt động của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng. Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển. Tình cảm: là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các quan hệ. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác động của ngoại cảnh. Ý chí: là biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi con người nhằm vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện. ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con người tự giác được mục đích của hành động nên tự đấu tranh với mình để thực hiện đến cùng mục đích đã chọn. Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức là yếu tố quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức đồng thời là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác. 1.3.3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức a. Vai trò của vật chất đối với ý thức Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh đối với vật chất. Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao, là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất. Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển lâu dài của khoa học về giới tự nhiên. Nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau. Các yếu tố tạo thành nguồn gốc của ý thức (nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội) đều là do chính bản thân thế giới vật chất hoặc là những dạng tồn tại của vật chất hình thành, cho nên vật chất là nguồn gốc của ý thức. Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức. b. Vai trò của ý thức đối với vật chất Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức chỉ đạo mọi hoạt động của con người. Con người muốn thay đổi hiện thực thì con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. ý thức trang bị cho con người về mặt tri thức, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện … để thực hiện mục tiêu của mình. ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý thí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thử thách trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tác động tích cực của ý thức; còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác động tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan. Như vậy,bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thể quyết định đúng đắn hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả. 1.4 Quan điểm duy vật về xã hội Xã hội, theo quan điểm của CNDVBC, là tổng hợp những con người hiện thực cùng tất cả các hoạt động, các quan hệ của họ. Đối với quá trình hình thành quan điểm duy vật về xã hội và cơ sở để xác định quan điểm duy vật về xã hội, V.I.Lênin viết: “Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghía duy vật về triết học, Mác đã đưa ra học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người”. C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy rằng, cũng như mọi hiện tượng trong giới tự nhiên đều có nguyên nhân vật chất, sự phát triển của xã hội loài người cũng do sự phát triển của lực lượng vật chất quyết định. Nội dung cơ bản quan điểm duy vật về xã hội thể hiện: - Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên. Tính đặc thù của xã hội thể hiện ở chỗ xã hội có những quy luật vận động, phát triển riêng và sự vận động, phát triển của xã hội phải thông qua hoạt động có ý thức của con người đang theo đuổi những mục đích nhất định. - Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần, nói chung tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Triết học Mác đã khẳng định rằng, chỗ khác nhau căn bản giữa con người với động vật là con người không chỉ dựa vào những cái đã có sẵn trong tự nhiên mà bằng lao động sản xuất, tác động tích cực vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho đời sống của mình. Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội. Lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của sản xuất ra của cải vật chất. Sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử lại được tiến hành bằng một phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất ấy quyết định sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Sự thay đổi phương thức sản xuất sớm muộn sẽ làm thay đổi các mặt khác của đời sống xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không chỉ gắn liền với một phương thức sản xuất nhất định mà còn gắn liền với điều kiện tự nhiên, dân số và những điều kiện sinh hoạt vật chất khác. Toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất ấy tạo thành tồn tại xã hội. Triết học Mác khẳng định: “không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”. - Sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên Theo quan điểm của CNDVBC, một xã hội trọn vẹn trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể là một hình tháI kinh tế – xã hội, mỗi hình thái kinh tế – xã hội gồm những mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Trong quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất thường xuyên phát triển. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định thì quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất. Lúc này, kết cấu kinh tế, tức cơ sở hạ tầng của xã hội thay đổi. Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng. Đến đây, tất cả các mặt cơ bản cấu thành một hình thái kinh tế – xã hội đã thay đổi. Hình thái kinh tế – xã hội này đã chuyển sang một hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn. Như vậy, với tư cách là một bộ phận đặc thù của thế giới vật chất, sự vận động, phát triển của xã hội vừa chịu sự chi phối của các quy luật chung nhất chi phối toàn bộ thế giới vật chất, vừa chịu sự chi phối của các quy luật riêng có của mình. Trước hết và quan trọng nhất là quy luật về lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất, quy luật về cơ sở hạ tầng – kiến trúc thượng tầng. Những quy luật này làm sự vận động và phát triển của xã hội loài người biểu hiện là một quá trình lịch sử tự nhiên trên nền tảng sản xuất ra của cải vật chất. - Quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử. Khi khẳng định sản xuất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định đời sống tinh thần nói chung, đời sống chính trị nói riêng, và khẳng định sự phát triển của xã hội loài người là quá trình lịch sử tự nhiên được bắt đầu bằng sự phát triển của lực lượng sản xuất thì CNDVBC cũng đã khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử. Vai trò ấy của quần chúng nhân dân biểu hiện cụ thể ở chỗ quần chúng nhân dân là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra các giá trị văn hoá tinh thần. Như vậy, quan điểm duy vật về xã hội là một hệ thống quan điểm thống nhất chặt chẽ với nhau về sự ra đời, tồn tại, vận động phát triển của xã hội và các lực lượng thực hiện những nhiệm vụ lịch sử đặt ra trong sự vận động và phát triển ấy. Phần II: VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN 2.1 Tôn trọng hiện thực khách quan Khách quan là một trong các nguyên tắc quan trọng của quá trình nhận thức. Nó đòi hỏi việc nhận thức phải dựa vào những cơ sở thực tế khách quan, xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ những thuộc tính và mối quan hệ vốn có của nó. Từ những quy luật vận động và phát triển của bản thân, không thể dựa vào ý muốn chủ quan hoặc lấy ý chí chủ quan áp đặt cho thực tế, đồng thời không được cắt xén, không được gán ghép cho sự vật, hiện tượng những gì mà chúng vốn không có. Tự nhiên, xã hội và tư duy luôn nằm trong quá trình vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật tất yếu, vốn có của chúng. Vì vậy, để nhận thức được bản chất của sự vật, ngoài các nguyên tắc trên, tư duy còn phải tuân thủ nguyên tắc phát triển. Nguyên tắc này quy định tính tất yếu phải nghiên cứu sự vật trong sự vận động và phát triển theo những quy luật phổ biến, khách quan vốn có, chỉ ra chiều hướng biến đổi của nó. Mặt khác, nguyên tắc này còn giúp cho tư duy trở nên năng động, linh hoạt, mềm dẻo; khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ và máy móc. Lôgíc biện chứng chỉ cho chúng ta thấy được sự phát triển biện chứng của nhận thức khoa học. Các khái niệm, định luật, lý thuyết tất yếu được bổ sung, điều chỉnh, phát triển trong quá trình nhận thức, trong lịch sử phát triển của khoa học. Những khái niệm, định luật, lý thuyết mới này không phủ nhận hoàn toàn các khái niệm, định luật, lý thuyết cũ mà có sự kế thừa những giá trị hợp lý, coi chúng như những trường hợp đặc biệt. Vì thế, không nên có thái độ xem những tri thức đã có của con người như những chân lý tuyệt đích, cuối cùng. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có quá trình hình thành và phát triển, đều có lịch sử của mình và bao giờ cũng tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhất định. Lôgíc biện chứng chỉ rằng, "không có chân lý trừu tượng”, rằng “chân lý luôn luôn là cụ thể". Nguyên tắc lịch sử - cụ thể chỉ cho người học thấy rằng, khi xem xét các sự vật, hiện tượng, cần phải tìm hiểu quá trình phát sinh, phát triển của chúng, chỉ ra mối liên hệ nội tại của chúng, cũng như mối liên hệ giữa chúng với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nắm vững nguyên tắc lịch sử - cụ thể giúp cho người học có thể xem xét, nghiên cứu đối tượng nhận thức gắn với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhất định, biết vận dụng những học thuyết, những nguyên lý, công thức một cách sáng tạo, tránh rơi vào các căn bệnh giáo điều, kinh nghiệm, máy móc. Việc quán triệt nguyên tắc tôn trọng hiện thực khách quan giúp chúng ta thấy được rằng phải quan sát sự vật và hiện tượng trong thực tế hoặc phải tiến hành các thí nghiệm khoa học để có được những tư liệu cần thiết nhằm rút ra tri thức khoa học đúng đắn. Những kết quả nghiên cứu phải được đối chiếu, so sánh và đánh giá có phù hợp với hiện thực khách quan hay không? Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh, việc tôn trọng thực tiễn khách quan là một nguyên tắc sống còn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh cần phải nhận định được vị thế hiện tại của mình, thực tiễn hoạt động kinh doanh, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp và tương quan cạnh tranh của nó với các đối thủ trên thị trường. Nếu việc đưa ra các quyết định, chính sách, chiến lược kinh doanh chỉ dựa trên suy nghĩ chủ quan, duy ý chí của người lãnh đạo doanh nghiệp mà không dựa vào thực tiễn kinh doanh thì thất bại là tất yếu, nếu có giành được thành công thì chỉ là do may mắn. Ở một số doanh nghiệp, khi thảo luận một vấn đề nào đó ý kiến của người có chức vụ lớn hơn, tuổi tác cao hơn thường được coi trọng hơn ý kiến của người có chức vụ nhỏ hơn, tuổi tác trẻ hơn. Đó là điều không hợp lý. Những người có chức vụ lớn hơn, tuổi tác cao hơn thì có nhiều kiến thức, kinh nghiệm hơn, những điều đó không có nghĩa là những người có chức vụ thấp hơn, tuổi tác trẻ hơn, được đào tạo có hệ thống, cọ xát nhiều với thực tế không thể có những ý kiến xác đáng. Một ý kiến đúng hay không đúng không phải là do xuất xứ của nó mà là ở nội dung của ý kiến đó. Đối với các doanh nghiệp, việc lắng nghe ý kiến của CBCNV, ý kiến khách hàng, ý kiến đối tác, ý kiến cơ quan quản lý cũng rất quan trọng và bổ ích. Bởi vì, với việc lắng nghe những ý kiến đó, doanh nghiệp sẽ bám sát được tình hình thực tiễn của hoạt động kinh doanh, từ đó có những điều chỉnh cải thiện công việc kinh doanh cho phù hợp với nhu cầu thị trường, thu được kết quả tốt hơn. Một ví dụ điển hình của việc lấy ý kiến chủ quan, duy ý chí để áp đặt chính sách, chiến lược kinh doanh dẫn đến tổn thất là việc doanh nghiệp Trung Nguyên và loại hình kinh doanh nhượng quyền sử dụng thương hiệu cho các quán cà phê. Vào thời điểm khởi đầu, đây là một hình thức kinh doanh mới mẻ và khá thành công. Bằng chứng là một chuỗi các quán cà phê mang cùng mang tên Trung Nguyên, cùng bán các sản phẩm cà phê của doanh nghiệp như cà phê số, cà phê chồn,… xuất hiện trên thị trường. Sự bài trí đồng bộ từ biển hiệu, màu sơn tường cà phê, bàn ghế tông đậm gia tăng sự nhận diện, bản sắc cho các quán cà phê đồng thời mang lại tiếng tăm cho hãng. Trung Nguyên được biết đến rộng rãi phần lớn là nhờ hình thức nhượng quyền thương hiệu như vậy. Nhưng do chủ quan, duy ý chí, doanh nghiệp đã cho nhân bản mô hình này quá tùy tiện, các quán cà phê Trung Nguyên mọc lên như nấm nhưng bản sắc thương hiệu đã không được bảo vệ và kiểm soát chặt chẽ, xuất hiện những yếu kém. Điều này dần dần dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực tới thương hiệu của doanh nghiệp. Khách hàng nhận được sản phẩm cũng như chất lượng phục vụ kém tại các quán cà phê sẽ quay lưng lại với sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. Uy tín kinh doanh cũng như doanh thu sẽ bị giảm sút, các đối thủ cạnh tranh nhân dịp này phát triển de dọa tới vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Khó khăn lớn nhất của hệ thông cà phê Trung Nguyên hiện nay là việc xây dựng và triển khai tính chất “khơi nguồn sáng tạo” đến các quán cà phê trong hệ thống của mình đã không thật sự gây được ấn tượng như mong đợi trong tâm trí khách hàng. Điều này đòi hỏi Trung Nguyên phải nỗ lực rất lớn và tốn nhiều tiền của để tái xác lập và củng cố lại hình ảnh thương hiệu mang đậm bản sắc của mình. Từ bài học trên có thể thấy rõ việc ra quyết định, chiến lược kinh doanh phải bám sát vào thực tiễn khách quan, xuất phát từ bản chất của hoạt động, tình hình. Nếu chỉ dựa vào ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, bất chấp thực tiễn khách quan thì sẽ rơi vào ảo tưởng, duy ý chí, không thể thành công. 2.2 Phát huy tính năng động chủ quan 2.2.1 Cần linh hoạt, nhạy cảm phản ánh kịp thực tiễn biến động, đổi mới tư duy Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hoá những tính chất ấy. Phát huy tính năng động chủ quan thể hiện rất phong phú, đa dạng. Vì vậy để phát huy tính năng động chủ quan, chúng ta cần mềm dẻo, linh hoạt, năng động và nhạy cảm trước thực tiễn, thích nghi với những thay đổi của thực tiễn, phản ánh kịp thực tiễn biến động để từ đó đổi mới tư duy cho phù hợp. Lúc này vai trò của tư duy kinh nghiệm rất quan trọng vì nó trực tiếp phản ánh hiện thực khách quan, ẩn chứa khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách nhạy bén. Trong thực tiễn có rất nhiều ví dụ thể hiện tính năng động chủ quan, phản ánh kịp thời thực tiễn biến động. Những năm trước đây, dựa trên kinh nghiệm thực tiễn chỉ đạo sản xuất, các cán bộ cơ sở nhận ra rằng mô hình hợp tác xã nông nghiệp có những điểm bất hợp lý, không còn phù hợp với điều kiện phát triển: thành viên hợp tác xã làm việc không hiệu quả, năng suất lao động thấp, hợp tác xã chỉ quản lý theo ngày công mà không đặt ra mục tiêu cũng như chỉ tiêu năng suất lao động. Chính vì vậy trong một thời gian chúng ta đã rơi vào tình trạng sản xuất trì trệ, không thể phát triển vì tình trạng “Cha chung không ai khóc”. Nhận thấy cần thay đổi phương thức sản xuất cho phù hợp với thực tế hiện thời, Đảng và Nhà nước đã kịp thời bổ sung chính sách “Khoán 100”, “Khoán 10”… Sau khi áp dụng chính sách này, nhân dân ta nô nức làm việc, ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, làm theo năng lực hưởng theo lao động, tạo môi trường cạnh tranh công bằng lành mạnh. Nhờ bám sát thực tiễn, phản ánh kịp thời thực tiễn biến động mà nhân dân ta đã có những giải pháp ngày càng tối ưu cho quá trình phát triển sản xuất. Nhiều nông dân đã nghiên cứu và sáng chế ra các máy nông cụ rất hiệu quả như máy gặt đập liên hợp của ông Tư Sang, máy gieo hạt của ông “ Phấn khùng”, máy tách hạt ngô của Trịnh Văn Đức, máy bóc thái hành tỏi của nông dân Nguyễn Văn Sành, máy đào ao của Trần Văn Dũng…Đây là những nhà nông thuần chất, thậm chí có người còn chưa được đi học, nhưng với lòng kiên trì học hỏi và sáng tạo không ngừng, họ đã khắc phục khó khăn để làm giàu bằng chính đôi tay và khối óc. Đây chính là những tấm gương điển hình thể hiện rõ vai trò quan trọng của con người với thế giới. Liên tục linh hoạt, đổi mới tư duy nhằm phù hợp với thực tiễn đầy biến động, nước ta đã từng bước thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá trên hầu khắp các lĩnh vực đồng thời không ngừng cải tạo, nghiên cứu nâng cao năng suất lao động nhằm đưa nước ta phát triển lên một tầm vóc mới. Kết quả là từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tự đảm bảo an ninh lương thực và hơn thế trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới. 2.2.2 Tôn trọng và làm chủ tri thức khoa học Tri thức là lĩnh vực rất rộng, có thể xem xét ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau. Tri thức có thể là tri thức đời thường (còn gọi là tri thức tiền khoa học, tri thức kinh nghiệm đời thường hoặc có sách viết là tri thức thường nghiệm), tri thức nghệ thuật và tri thức khoa học (kinh nghiệm và lý luận). Xét về nguồn gốc phát sinh và phương thức hoạt động, tri thức là một hiện tượng xã hội. Hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận tri thức khoa học bao gồm tri thức: kinh nghiệm và tri thức lý luận. Trong đó tri thức kinh nghiệm là trình độ thấp, còn tri thức lý luận là trình độ cao của tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được thông qua quan sát và thí nghiệm. Nó nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, từ lao động sản xuất đến đấu tranh xã hội hoặc từ thí nghiệm khoa học. Đối với tri thức lý luận, do tính gián tiếp trong sự phản ánh hiện thực khách quan, nên lý luận có nguy cơ phản ánh sai sự thật do xa rời thực tiễn. Khả năng đó càng tăng lên nếu lý luận đó bị chi phối của các tư tưởng không khoa học. Ngày nay, cùng với việc nâng cao trình độ học vấn của nhân dân, các thuật ngữ khoa học, công nghệ hiện đại cũng được các phương tiện thông tin đại chúng phổ cập và dần đi sâu vào trí óc của quần chúng. Đó chính là cơ sở để họ tiếp nhận và nâng cấp từ trình độ tri thức kinh nghiệm lên đến trình độ tri thức lý luận và nâng cao khả năng du nhập tri thức khoa học áp dụng vào đời sống thực tiễn, biến tri thức đó thành sự giàu có và văn minh. Tri thức khoa học đã và đang đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng sống của nhân dân, làm cho họ có thể làm chủ được khoa học kỹ thuật và bản chất của sự vật hiện tượng. Qua phân tích nội dung và vai trò của tri thức khoa học ở trên, có thể thấy rằng việc chúng ta tôn trọng tri thức khoa học chính là tôn trọng thế giới khách quan từ đó có thể vận dụng đúng đắn vào tình hình đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là vô cùng quan trọng bên cạnh đó đào tạo và nâng cao chất lượng tri thức khoa học chính là vấn đề cốt lõi. Rất nhiều doanh nghiệp và tổ chức đào tạo đã nhận thức được vai trò của tri thức khoa học để phát triển. Một trong những điển hình đó là Công ty Cổ phần FPT cụ thể hơn chính là Đại học FPT. Được thành lập năm 2003 với tiêu chí là một trường đại học kiểu mới, áp dụng hệ thống đào tạo hiện đại, tiên tiến. Mục đích của Đại học FPT chính là đào tạo nguồn trí thức chất lượng cao trước mắt chính là bổ xung cho Tập đoàn FPT. Việc đào tạo của đại học FPT gắn liền với các hoạt động của Tập đoàn, sinh viên sẽ được học và làm trong môi trường năng động của FPT, được thực hành và tiếp cận với công nghệ của tập đoàn và thế giới. Ngoài ra tập đoàn FPT còn chú trọng rằng sinh viên ra trường sẽ là “nền tảng” của công ty họ chính là những người nắm những chìa khóa của tri thức vận dụng tri thức khoa học vào công việc cụ thể. Năm 2007 khóa 1 của ĐH FPT tốt nghiệp và có hơn 90% là ở lại làm tại các công ty của Tập đoàn FPT, điều này cho thấy ở FPT chú trọng không chỉ ở kinh nghiệm mà còn ở tố chất con người, FPT là công ty về công nghệ do đó “xương sống” của Tập đoàn chính là đội ngũ tri thức khoa học. Nhìn nhận về vấn đề này Tồng giám đốc Trương Gia Bình đã nói: “Đội ngũ tri thức khoa học đặc biệt là khối thành viên công nghệ phần mềm vi tính chính là niềm tự hào của FPT có được”.Điều này càng cho thấy ở FPT, tri thức khoa học chính là chủ đạo. mọi người ở FPT đều nhận thức được rằng tôn trọng và vận dụng tri thức khoa học chính là tôn trọng chính mình, tôn trọng bản chất của các sự vật hiện tượng từ đó mà làm lợi cho công ty và cho xã hội. Năm 2008 vừa qua Tập đoàn FPT đã cán mốc doanh số 1 tỷ USD, con số này đã cho thấy nỗ lực của FPT trong bối cảnh khó khăn hiện nay đó là một nỗ lực đúng hướng, biết vận dụng những cái mà mình đã có và trên hết chính là tôn trọng và phát huy tối đa nguồn tri thức khoa học tiên tiến. Đôi ngũ nhân viên cán bộ ở FPT hiện này rất đa dạng nhưng trên 95% là trên cử nhân đại học do đó họ có khả năng tiếp cận với tri thức tiến bộ để trau dồi kiến thức và truyền đạt lại cho các thành viên khác để thực hiện tốt công việc. Tập đoàn FPT chỉ là một trong những đơn vị nhận thức được tầm quan trọng của tri thức khoa học, cũng còn nhiều đơn vị trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có được cái nhìn đó. Điều này càng cho chúng ta thấy rõ rằng muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thì các đơn vị phải có nhìn nhận đúng đắn về tri thức khoa học, nhận thức đầy đủ quá trình của tri thức bao gồm cả tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận nhận thức đúng chính là chúng ta đã tôn trọng thế giới khách quan, tôn trọng bản chất của các sự vật hiện tượng. Nói đến việc “làm chủ tri thức khoa học” tức là nói đến sự cần thiết không những phải tìm hiểu thế giới mà còn phải cải tạo thế giới. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một nước không phải tùy thuộc trình độ hiểu biết khoa học ở nước ấy mà bằng trình độ ứng dụng, làm chủ thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Chúng ta biết rằng, nước Mỹ thường dẫn đầu trong các phát minh khoa học tự nhiên, nhưng chính Nhật Bản lại là nước đã đi trước trong việc làm chủ và vận dụng các phát minh ấy tạo nên những tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật và công nghệ. Và thực tế đã chứng minh Nhật Bản đã trở thành nước phát triển thứ 2 thế giới. Qua đó áp dụng vấn đề làm sao “làm chủ tri thức khoa học” vào hoàn cảnh nước Việt Nam – một nước từ một nền sản xuất nhỏ lạc hậu, lao động phần lớn mang tính chất thủ công, tiến thẳng lên CNXH, chúng ta không chỉ thiếu một cơ sở vật chất – một nền công nghiệp sản xuất lớn hiện đại, mà còn thiếu cả phong cách làm việc, phong cách người làm chủ tri thức khoa học – kỹ thuật. Vì vậy chúng ta cần tổ chức quần chúng nhân dân hiểu được: “Việc làm chủ tri thức khoa học là sự nghiệp quần chúng”. Muốn đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta tiến lên thì chúng ta không thể dừng lại ở việc canh tác lạc hậu, thô sơ, thủ công, chỉ dừng lại ở những giống cũ, giống hiện nay ta có…. mà ta phải thấy được nhu cầu mới của cuộc sống, phát hiện những quy luật mới, những khả năng mới của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Như xưa chúng ta chỉ cần biết có năng suất lúa càng cao càng tốt mà không chú trọng đến chất lượng có ngon hay không, ý kiến của người mua ra sao, trong khi đó nhu cầu của người dân bây giờ không còn như xưa họ không yêu cầu về lượng gạo mà yêu cầu về chất của gạo. Vì vậy cần áp dụng các giống lúa mới có chất lượng cao, không sâu bệnh. Cách này đã có rất nhiều người nông dân tiến hành áp dụng công nghệ sinh học để lai tạp các giống lúa tạo ra các giống lúa có chất lượng cao. Làm chủ tri thức khoa học là phải tiếp thu cái mới. Làm chủ tri thức khoa học là phải xây dựng ý thức học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Bởi vì kinh tế xã hội của một đất nước sẽ tiến lên nhanh hay chậm là tùy thuộc ở chỗ khoa học thông qua kỹ thuật thuật và công nghệ có được áp dụng vào thực tiễn, đời sống con người. Nó đem lại cho đời sống con người những gì? Thông qua các hình thức và phương pháp quản lý đã tác động làm cho khoa học kỹ thuật tạo bước đột phá có lớn lao hay không cho việc sản xuất. Vì thực tế đã chứng minh làm chủ tri thức khoa học phải trở thành một chức năng của quá trình sản xuất, nền sản xuất, trở thành phạm vi ứng dụng của khoa học, thành một nền sản xuất khoa học thực nghiệm sáng tạo ra của cải vật chất. Thời đại ngày nay đòi hỏi con người Việt Nam phải có năng lực cách mạng, khoa học, có tinh thần làm chủ, có năng lực làm chủ. Một nhiệm vụ cực kỳ to lớn và nặng nề của Đảng và Nhà nước là phải chăm lo giáo dục đào tạo con người Việt Nam, làm cho mỗi người đều trở thành những người XHCN có đầy đủ phẩm chất và tài năng để đảm nhận công việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Con người mới XHCN ở nước ta phải rèn luyện và đào tạo trong quá trình tổng hợp của 3 cuộc cách mạng: trong đó cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt. Với những bước phát triển mới của cách mạng khoa học – kỹ thuật, cuộc cách mạng giáo dục phải được coi là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu, đặc biệt phải giáo dục về cách làm chủ khoa học kỹ thuật. Thực hiện hành động cách mạng để con người Việt Nam có thể làm chủ khoa học kỹ thuật đó là giáo dục, giáo dục toàn diện, giáo dục thường xuyên, giáo dục liên tục. Giáo dục trong nhà trường, trong xã hội đặc biệt trong nhà trường về các cơ sở khoa học kỹ thuật. Nội dung của cuộc cách mạng để giáo làm chủ Khoa học – kỹ thuật phải kết hợp chặt chẽ khoa học kỹ thuật với lao động sản xuất tức “kết hợp lao động sản xuất của tất cẩ mọi người với việc giáo dục cho tất cả mọi người” Bởi vậy, việc tiếp tục xây dựng thường xuyên và phát triển lực lượng khoa học kỹ thuật 1 cách cân đối, đồng bộ, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển chung , với các hướng khoa học kỹ thuật và kinh tế ưu tiên trong từng giai đoạn là nhiệm vụ có tầm quan trọng lớn. Một mặt phải tiếp tục đào tạo tốt đội ngũ cán bộ chuyên môn và nghiên cứu khoa học, cán bộ đầu nghành và liên nghành (khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật) đặc biệt đào tạo kỹ sư thực hành, kỹ sư thiết kế, kỹ sư công nghệ có trình độ cũng như các cán bộ quản lý kinh tế, quản lý khoa học – kỹ thuật có tài năng. Mặt khác, phải đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề, đội ngũ nhân dân lao động tiên tiến có kỹ thuật, có chính sách để sử dụng tốt hơn , chăm lo đầy đủ hơn đến đời sống vật chất và tinh thần đội ngũ này.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVai trò của thế giới quan duy vật biện chứng trong hoạt động thực tiễn.doc
Luận văn liên quan