Luận án Cách mạng tháng tám năm 1945 ở các tỉnh bắc Trung Bộ

Nhật và tay sai. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, nhiều thanh niên trí thức do liên lạc được với cơ sở ở Hà Nội nên đã chủ động thành lập các tổ chức Việt Minh như ở Can Lộc (Hà Tĩnh), thành phố Huế (Thừa Thiên) và đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Bên cạnh đó, nhiều thanh niên trí thức của tổ chức Thanh niên xã hội, Hội Tân Việt Nam, Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế khi được cán bộ, đảng viên vận động đã gia nhập các tổ chức cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, trở thành một lực lượng chính trị to lớn, góp phần quan trọng tạo dựng ra lực lượng v trang cách mạng của các tỉnh. Bản thân học viên Trường Thanh niên Tiền tuyến là lực lượng v trang cách mạng với thành phần đặc biệt là thanh niên trí thức. Đây được xem là lực lượng v trang nòng cốt đầu tiên của Việt Minh Thuận Hóa bên cạnh lực lượng tự vệ cứu quốc của Việt Minh Nguyễn Tri Phương. Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, một số nhóm thanh niên trí thức đã táo bạo, linh hoạt tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi như ở Can Lộc (Hà Tĩnh) hoặc trở thành lực lượng xung kích cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền như trường hợp các học viên Trường Thanh niên Tiền tuyến ở thành phố Huế. Nhiều thanh niên trí thức còn đảm trách các nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền cách mạng ở một số địa phương thuộc các tỉnh Bắc Trung Bộ

pdf189 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 12/08/2017 | Lượt xem: 71 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Cách mạng tháng tám năm 1945 ở các tỉnh bắc Trung Bộ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iệc xây dựng lực lượng v trang. Thực tiễn của phong trào đấu tranh chính trị đặt ra yêu cầu là phải nhanh chóng xây dựng lực lượng v trang làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh. Do đó, tất cả các tỉnh dù ít, dù nhiều đều có lực lượng v trang, dẫu cho v khí hết sức thô sơ chỉ là giáo mác, cuốc, thuổng, gậy gộc. Điều đặc biệt là lực lượng v trang không phải ra đời ở những nơi sơn cùng thủy tận mà lại được xây dựng ngay giữa vùng trung du, đồng b ng. Đây là một nỗ lực to lớn của tổ chức Đảng và nhân dân các tỉnh trong quá 157 trình xây dựng lực lượng tiến tới tổng khởi nghĩa. Song hành cùng với sự lớn mạnh của lực lượng tự vệ v trang là phong trào luyện tập quân sự, mua sắm v khí phát triển mạnh mẽ trong nhân dân. Từ những anh em thanh niên đến những cháu thiếu niên, thậm chí cả những cụ phụ lão, chị em phụ nữ bận con nhỏ đều tham gia luyện tập rất hăng say, bất cứ nơi đâu, bất cứ thời gian nào mọi người đều tranh thủ tự trang bị kiến thức và v khí cho mình, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa đang đến gần. Trước tổng khởi nghĩa, Trung ương Đảng chủ trương xây dựng 7 chiến khu trong cả nước. Trong phạm vi các tỉnh Bắc Trung Bộ có một phần của chiến khu Hòa - Ninh - Thanh. Ngoài ra, nhiều tỉnh đã xây dựng thành công các chiến khu và căn cứ địa cách mạng như: Ngọc Trạo (Thanh Hóa), Khe Trầm, Truông Bát (Hà Tĩnh), Trung Thuần, Võ Xá (Quảng Bình), Triệu Phong, Thượng Nguyên (Quảng Trị) Chính từ những khu căn cứ này tạo ra một nguồn sức mạnh to lớn góp phần cùng với quần chúng cách mạng tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. 4.4.3. Về nắm bắt thời cơ và chớp đúng thời cơ Một thành công lớn trong nghệ thuật lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945 của tổ chức Đảng, Việt Minh các tỉnh Bắc Trung Bộ là nắm vững thời cơ và chớp đúng thời cơ. Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, với tầm nhìn chiến lược, Đảng Cộng sản Đông Dương đã phân tích, đánh giá tình hình một cách khoa học, toàn diện, cụ thể, dự báo chính xác chủ nghĩa phát xít nhất định thua, Liên Xô và các lực lượng chống phát xít nhất định giành chiến thắng, thời cơ cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi đang đến gần. Với đường lối chiến lược cách mạng “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, Đảng Cộng sản Đông Dương đã có những chủ trương, biện pháp đúng đắn, từng bước tạo thế và lực bên trong để động viên, tổ chức toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, trong khoảng thời gian từ tháng 9-1939 đến tháng 3-1945, các tỉnh Bắc Trung Bộ đã tiến hành xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng v trang, căn cứ địa cách mạng và tập dượt quần chúng đấu tranh. Đây là bước tạo đà hết sức quan trọng để khi tình thế cách mạng xuất hiện sẽ đưa phong trào cách mạng trong toàn khu vực tiến lên thế cao trào. Sau khi Nhật đảo chính lật đổ Pháp, các tỉnh Bắc Trung Bộ đã chạy đua với thời gian, phát triển đội quân chính trị quần chúng bao gồm các tầng lớp nhân dân 158 trong Mặt trận Việt Minh, tập hợp những lực lượng có thể tập hợp được, đẩy mạnh xây dựng lực lượng v trang, căn cứ địa cách mạng và khu giải phóng, tiến hành cao trào kháng Nhật cứu nước, thúc đẩy thời cơ nhanh chóng chín muồi. Sự phát triển của cao trào kháng Nhật cứu nước ở các tỉnh Bắc Trung Bộ cho thấy giai cấp thống trị không thể thống trị như c , hệ thống chính quyền thân Nhật các cấp ở một số địa phương rơi vào khủng hoảng. Nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu năm 1945 đẩy nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ vào bước đường cùng, sự chịu đựng đã đến giới hạn cuối cùng, quần chúng nhân dân sẵn sàng nổi dậy lật đổ chính quyền thân Nhật, thiết lập nên một chế độ xã hội tiến bộ hơn. Đồng thời, cao trào kháng Nhật cứu nước đã tác động đến lập trường, tư tưởng của các tầng lớp, bộ phận trung gian, những trí thức yêu nước tiến bộ, những người có tư tưởng dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sản nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngả về phía lực lượng cách mạng. Trong khi đó, tổ chức Đảng, Việt Minh các tỉnh Bắc Trung Bộ đã chuẩn bị chu đáo, toàn diện và sẵn sàng lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Tình thế cách mạng đã chín muồi, chỉ cần điều kiện khách quan thuận lợi là cách mạng sẽ nổ ra. Sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng các nước Đồng minh không điều kiện, mặc dù không có sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban thống nhất Trung Kì nhưng tất cả các tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ đều chủ động tổ chức hội nghị và đề ra kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền. Trong đó, 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh phát động khởi nghĩa khi chưa nhận được lệnh của Trung ương. Ở huyện Can Lộc (Hà Tĩnh), mặc dù UBKN huyện chưa có chủ trương giành chính quyền nhưng một số thanh niên trí thức nhận thấy thời cơ chín muồi nên đã chủ động tiến hành khởi nghĩa và giành được thắng lợi. Trong quá trình lãnh đạo tổng khởi nghĩa, tổ chức Đảng, Mặt trận Việt Minh các tỉnh luôn quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, lãnh đạo nhân dân tiến hành giành chính quyền thắng lợi khá trọn vẹn. 4.4.4. Về công tác xây dựng tổ chức Đảng Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân chính là nguồn gốc chủ yếu tạo nên sức mạnh của Đảng, là một trong những điều kiện quan trọng giúp Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững được vai trò lãnh đạo. Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo và tổ chức quần chúng, còn quần chúng là lực lượng vật chất tiến hành cách mạng. Sự lãnh đạo của cán bộ, đảng viên kết hợp với tính tích cực, 159 sáng tạo của quần chúng tạo nên một sức mạnh to lớn. Lênin đã khẳng định r ng, Đảng Cộng sản “chỉ làm tròn được sứ mệnh của nó khi nó biết gắn bó với quần chúng mà nó lãnh đạo và thực sự dẫn dắt toàn thể quần chúng tiến lên” [71, tr.28]. Quán triệt quan điểm của Lênin, trong quá trình xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, phần lớn cán bộ, đảng viên các tỉnh Bắc Trung Bộ biết khơi dậy tính chủ động và sáng tạo của quần chúng nhân dân. Giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng hình thành mối quan hệ hai chiều: Tổ chức Đảng đi sâu tuyên truyền giáo dục đưa quần chúng vào tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh nhưng khi tổ chức cơ sở Đảng bị bể vỡ thì chính quần chúng được Đảng tuyên truyền giác ngộ lại tự động hoạt động, tự hình thành tổ chức đi tìm Đảng để từ đó gây dựng lại phong trào. Trường hợp nhóm thanh niên cứu quốc ở Can Lộc (Hà Tĩnh) là một điển hình. Thực tiễn cách mạng cho thấy, đến trước ngày khởi nghĩa giành chính quyền, số lượng đảng viên ở các tỉnh tương đối mỏng, trong khi đó số đơn vị làng xã lên đến 4.726, nếu thiếu vai trò năng nỗ của những quần chúng cách mạng ở cơ sở thì các chủ trương của Đảng, Mặt trận Việt Minh rất khó đến được với các tầng lớp nhân dân. Ngược lại, nhờ cán bộ, đảng viên bám sát cơ sở nên các chủ trương, đường lối của Đảng được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, tổ chức Đảng các tỉnh phải thường xuyên đề cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và kiên quyết thanh trừ những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất. Việc cất nhắc, chọn lựa những cán bộ vào bộ máy lãnh đạo, đặc biệt là ở cấp cao phải hết sức cẩn trọng. Những hậu quả tai hại về việc để những phần tử A.B nguy hiểm như Đinh Văn Di leo cao trong hàng ng lãnh đạo là bài học đau đớn trong công tác xây dựng Đảng của các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn này. Bên cạnh đó, tổ chức Đảng các tỉnh còn quan tâm đến công tác giáo dục tư tưởng, nâng cao trình độ lí luận cho đảng viên, đào tạo và phát triển đội ng cán bộ. Tổ chức Đảng trong các nhà tù mở những lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cho các địa phương. Ở bên ngoài, tổ chức Đảng, Việt Minh các tỉnh xuất bản sách báo bí mật tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Nhờ đó trong nội bộ có sự thống nhất cao về đường lối giải phóng dân tộc của Đảng, mọi biểu hiện mơ hồ, lệch lạc, hữu khuynh trong một số cán bộ đảng viên qua một quá trình đấu tranh thẳng thắn, nghiêm túc cuối cùng c ng được xóa bỏ. 160 Trước đòi hỏi của phong trào cách mạng, các nhóm Việt Minh ở Quảng Trị và Thừa Thiên đã thống nhất với nhau để lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Trong khi đó, ở Can Lộc (Hà Tĩnh) do không giải quyết tốt vấn đề này nên dẫn đến những xung đột giữa các nhóm Việt Minh, tuy không có tổn thất về người nhưng để lại những hậu quả không tốt về sau. Cả ưu điểm của Quảng Trị, Thừa Thiên, cùng các tỉnh khác và khuyết điểm của Can Lộc đã để lại một bài học về tính đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng. Tiểu kết chương 4 Ngoài những đặc điểm chung của tổng khởi nghĩa toàn quốc, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh Bắc Trung Bộ c ng có những đặc điểm riêng, những nét đặc thù của nó. Chính những nét riêng, nét đặc thù của khu vực Bắc Trung Bộ và nhiều vùng miền khác là những gam màu khác nhau tạo nên bức tranh toàn cảnh đa dạng và diệu kì về Cách mạng tháng Tám năm 1945 của dân tộc. C ng như trong toàn quốc, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là kết quả của sự kết hợp giữa nhân tố chủ quan và khách quan, song yếu tố chủ quan đóng vai trò quyết định. Thành công của các cuộc khởi nghĩa là cơ sở để phủ định mọi quan niệm sai trái về sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Một cuộc cách mạng được báo trước đó hàng chục năm, một phương pháp cách mạng được sàng lọc, chọn lựa từ thực tế đấu tranh; và quan trọng là quá trình chuẩn bị toàn diện, chu đáo cho một cuộc cách mạng duy nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ sơ cho đến hiện đại. Thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là chiến thắng của khát vọng độc lập, tự do của một dân tộc có lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống các thế lực ngoại bang xâm lược và đô hộ. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của toàn dân tộc và có tác động nhất định đối với sự nghiệp cách mạng của nước bạn Lào. Cùng với cả nước, thời kì thống trị đẫm máu và nước mắt của đế quốc Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai đã chấm dứt ở các tỉnh. Từ đây, nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ bước sang một trang sử mới tốt đẹp hơn. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở các tỉnh Bắc Trung Bộ để lại cho nhân dân và sự nghiệp cách mạng của các tỉnh nhiều bài học kinh nghiệm quý báu và vẫn gợi mở cho hiện tại nhiều vấn đề thiết thực. 161 KẾT LUẬN 1. Là một trong những địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược của cả nước, Bắc Trung Bộ từng được coi là “phên dậu”, là nơi sản sinh ra biết bao anh hùng, hào kiệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ đã viết nên nhiều trang sử vẻ vang với những chiến công chói lọi chống xâm lược và ách thống trị của ngoại bang. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ phải chịu ách áp bức bóc lột hết sức nặng nề của đế quốc, phong kiến. Bên cạnh đó là các hiện tượng thời tiết cực đoan thường xuyên xảy ra khiến đời sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là công nhân và nông dân vô cùng điêu đứng, cơ cực. Những điều kiện trên đây đã tôi luyện cho nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ tinh thần đoàn kết, hỗ trợ nhau trong cuộc sống và anh d ng trong đấu tranh chống cường quyền. Trước năm 1930, nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ đã liên tục nổi dậy đấu tranh chống thực dân Pháp và phong kiến tay sai nhưng đều thất bại. Từ tháng 2-1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với nhân dân toàn quốc, nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ đã vùng lên với một khí thế vô cùng mãnh liệt và đạt tới đỉnh cao nhất của phong trào cách mạng 1930 - 1931 là thành lập chính quyền Xô viết tại nhiều làng xã thuộc tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Sự ra đời, hoạt động của chính quyền Xô viết thể hiện sức mạnh phi thường và sự sáng tạo của quần chúng nhân dân. Trong những năm 1936 - 1939, khi tình hình biến chuyển thuận lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ nổi dậy đấu tranh đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, là một trong những khu vực có phong trào phát triển mạnh của cả nước. 2. Từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đến khi Nhật đảo chính Pháp là giai đoạn các tỉnh Bắc Trung Bộ bước vào giai đoạn tiến hành chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền với những thử thách hết sức ngặt nghèo. Các cuộc đàn áp, khủng bố liên tiếp, kéo dài với quy mô chưa từng thấy của thực dân Pháp, phát xít Nhật và tay sai đã làm cho tổ chức Đảng bị tổn thất nặng nề, sự chỉ đạo của Trung ương Đảng không được thông suốt, Xứ ủy Trung Kì không còn, giao thông liên lạc giữa các tỉnh bị gián đoạn, phần lớn cán bộ đảng viên bị bắt, mối liên hệ giữa cấp ủy Đảng với nhân dân gặp khó khăn, đứt mạch. Cứ tưởng những trở lực đó sẽ làm chùn bước chân của cán bộ, đảng viên và quần chúng cách 162 mạng ở vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng này. Trái lại, sự mất mát và đau thương cùng cực ấy đã hun đúc thành sức mạnh để nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ vùng lên giành lấy quyền sống, quyền làm người của mình. Đây c ng là giai đoạn Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương chuyển hướng đấu tranh trong hoàn cảnh lịch sử mới. Phần lớn các tỉnh Bắc Trung Bộ đã kịp thời thực hiện chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng Cộng sản Đông Dương nên phong trào vẫn thể hiện được sự bền bỉ, liên tục, không để bị gián đoạn kéo dài. Sau những lần bị bể vỡ phong trào lại được khôi phục và có bước phát triển. Trong khi đó, tổ chức Đảng các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh do không bắt kịp tình hình để chỉ đạo phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, gây nên những ảnh hưởng nhất định cho phong trào cách mạng. Tổ chức Đảng, cơ sở cách mạng bị thực dân, phát xít và tay sai triệt phá gần như tận gốc, phong trào công nhân và nông dân gặp rất nhiều khó khăn. Sau ngày 9-3-1945 các tỉnh đã chạy đua với thời gian, kịp chuyển phong trào trong khu vực lên thời kì tiền khởi nghĩa, bắt kịp với phong trào của toàn quốc. Trong thời gian gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (từ tháng 3 đến tháng 8-1945), tổ chức Đảng, Việt Minh các tỉnh đã biết khéo léo kết hợp chặt chẽ phong trào thành thị và nông thôn, biết lấy nông thôn làm chỗ dựa nên đã phát động được phong trào toàn dân nhưng c ng không xem nhẹ vai trò của thành thị. Xuất phát từ chủ trương, đường lối của Trung ương và thực tiễn của địa phương, tổ chức Đảng, Mặt trận Việt Minh các tỉnh phát động các phong trào đấu tranh thích hợp, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của quần chúng nhân dân nên đã tập hợp đông đảo các giai tầng trong xã hội đi theo đường lối của Đảng. Tuy nhiên, trước và trong thời kì tiền khởi nghĩa, tổ chức Đảng, Việt Minh các tỉnh ít chú ý đến việc xây dựng cơ sở ở miền núi và vận động đồng bào các dân tộc ít người tham gia cách mạng là một hạn chế lớn. Mặt khác, sau khi bắt được liên lạc với Trung ương Đảng nhưng Nghệ An và Hà Tĩnh vẫn không kịp lập lại Đảng bộ là một thực tế lịch sử khó có thể chấp nhận được. Những thiếu sót này ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình chuẩn bị và bước tiến của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa phương. 3. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là biểu hiện sinh động của sự kết hợp hài hòa giữa đường lối của Trung ương Đảng với chủ trương, biện pháp của tổ chức Đảng, Mặt trận Việt Minh các tỉnh và sức mạnh đấu tranh quật cường của nhân dân để giành lấy quyền độc lập, tự do; là thắng 163 lợi của phương pháp, nghệ thuật chỉ đạo khởi nghĩa sáng tạo, linh hoạt, vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng v trang, giữa tuyên truyền, thuyết phục, thương lượng với bạo lực nh m phân hóa và cô lập kẻ thù đến cao độ, tranh thủ các lực lượng có thể tranh thủ được để giành thắng lợi sớm và trọn vẹn. Đó là thắng lợi của tinh thần chủ động tiến công, nhận định tình hình, chớp thời cơ và phát động nhân dân nổi dậy giành chính quyền. Ngoài những nét chung về phương thức khởi nghĩa như đã diễn ra tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước, tổ chức Đảng, Việt Minh một số tỉnh đã giải quyết kịp thời và sáng tạo nhiều vấn đề đặt ra trong quá trình giành chính quyền tại một số phủ huyện, thành phố Vinh, thành phố Huế và các châu, phủ miền núi của tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An phù hợp với đặc điểm tình hình của từng vùng, khu vực theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Từ đó, để lại những nét độc đáo về phương thức giành chính quyền so với trong cả nước. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là bước ngoặt trong tiến trình phát triển của các tỉnh, trực tiếp chấm dứt chế độ phong kiến, làm sụp đổ chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim, có ảnh hưởng lớn đối với các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ, có tác động đối với sự nghiệp cách mạng của nước bạn Lào. Việc Bảo Đại thoái vị ngày 30-8-1945 tại thành phố Huế là sự kiện trực tiếp dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Thắng lợi đó là bước tạo đà hết sức quan trọng để nhân dân các tỉnh Bắc Trung Bộ bước vào thời kì đấu tranh củng cố và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân; đồng thời góp phần phủ nhận các luận điểm thiếu xác thực của các nhà sử học nước ngoài về Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. 4. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở các tỉnh Bắc Trung Bộ có sự đóng góp quan trọng của tầng lớp thanh niên trí thức. Trong giai đoạn đầy cam go thử thách của cách mạng các tỉnh Bắc Trung Bộ (từ tháng 9-1939 đến tháng 3-1945), phong trào đấu tranh của học sinh, hoạt động của Hội truyền bá quốc ngữ, Hội Hướng đạo sinh ở một số tỉnh đã góp phần tích cực vào việc tuyên truyền lòng yêu nước, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy nhanh quá trình phân hóa trong các tầng lớp tiểu tư sản, tăng cường thêm lực lượng ủng hộ cách mạng, tạo thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh của các giai tầng khác, ngăn chặn âm mưu chia rẽ, phá hoại cách mạng của thực dân Pháp, phát xít 164 Nhật và tay sai. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, nhiều thanh niên trí thức do liên lạc được với cơ sở ở Hà Nội nên đã chủ động thành lập các tổ chức Việt Minh như ở Can Lộc (Hà Tĩnh), thành phố Huế (Thừa Thiên) và đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Bên cạnh đó, nhiều thanh niên trí thức của tổ chức Thanh niên xã hội, Hội Tân Việt Nam, Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế khi được cán bộ, đảng viên vận động đã gia nhập các tổ chức cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, trở thành một lực lượng chính trị to lớn, góp phần quan trọng tạo dựng ra lực lượng v trang cách mạng của các tỉnh. Bản thân học viên Trường Thanh niên Tiền tuyến là lực lượng v trang cách mạng với thành phần đặc biệt là thanh niên trí thức. Đây được xem là lực lượng v trang nòng cốt đầu tiên của Việt Minh Thuận Hóa bên cạnh lực lượng tự vệ cứu quốc của Việt Minh Nguyễn Tri Phương. Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, một số nhóm thanh niên trí thức đã táo bạo, linh hoạt tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi như ở Can Lộc (Hà Tĩnh) hoặc trở thành lực lượng xung kích cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền như trường hợp các học viên Trường Thanh niên Tiền tuyến ở thành phố Huế. Nhiều thanh niên trí thức còn đảm trách các nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền cách mạng ở một số địa phương thuộc các tỉnh Bắc Trung Bộ. 5. Hơn 70 năm đã đi qua kể từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước, xã hội và con người Việt Nam, trong đó có các tỉnh Bắc Trung Bộ đã đạt được những bước tiến dài. Nghĩ về quá khứ, cuộc vận động Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở các tỉnh Bắc Trung Bộ vẫn gợi mở cho hiện tại những vấn đề thiết thực. Đó là về sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ của tổ chức Đảng; về vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc sâu sát thực tế, kịp thời dự báo, nắm bắt, giải đáp và tổng kết thực tiễn; là vấn đề huy động sức mạnh toàn dân, dựa vào nhân dân, là mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và dân; là sự xã thân hi sinh, năng động, linh hoạt, dám nghĩ, dám làm của đội ng cán bộ, đảng viên; là sự vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương; là vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy yếu tố nội lực và bản lĩnh độc lập tự chủ của nhân dân, của mỗi địa phương. Bên cạnh đó, từ việc nhận định tình hình, nắm bắt và chớp thời cơ trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, các tỉnh Bắc Trung Bộ sẽ suy nghĩ cách tận dụng những thời cơ, vượt qua các thách thức mới của thế giới, khu vực và của đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 165 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Đỗ Mạnh Hùng (2013), “Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam qua sự nhìn nhận, đánh giá của một số nhà nghiên cứu Pháp”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quan hệ Việt - Pháp: Quá khứ và hiện tại, Hội Hữu nghị Việt - Pháp tỉnh Thừa Thiên Huế, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế, (tháng 4-2013), tr.106-109. 2. Đỗ Mạnh Hùng (2014), “Phong trào yêu nước và cách mạng Quảng Bình 30 năm đầu thế kỉ XX”, in trong Báo cáo khoa học Hội thảo Quốc gia về Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.456-467. 3. Đỗ Mạnh Hùng (2014), “Đặc điểm Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Quảng Bình”, in trong Báo cáo khoa học Hội thảo Quốc gia về Quảng Bình 410 năm hình thành và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.500-512. 4. Đỗ Mạnh Hùng (2014), “Khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 ở Hà Tĩnh”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 272, tr.22-26. 5. Đỗ Mạnh Hùng (2015), “Các cuộc thương lượng với quân đội Nhật trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở các tỉnh Bắc Trung Bộ”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 285, tr.12-17. 6. Đỗ Mạnh Hùng (2016), “Vai trò của Việt Minh Nguyễn Tri Phương đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế (đã nhận đăng). 7. Đỗ Mạnh Hùng (2016), “Thừa Thiên Huế trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám năm 1945”, Đề tài cấp Đại học Huế (đang chờ nghiệm thu). 166 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. TÀI LIỆU THÀNH VĂN 1.1. Tiếng Việt 1. Hoàng Anh (2001), Quê hương và cách mạng (hồi kí), Nxb Thuận Hóa, Huế. 2. Phan Anh (1960), “Con đường đi tới Cách mạng tháng Tám của tôi”, Báo Nhân dân, số 2346 ngày 21-8-1960, tr.4-6. 3. Nguyễn Chung Anh (1979), Tài liệu về Cách mạng tháng Tám ở Nghệ Tĩnh, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, kí hiệu: T19.5. 4. Nguyễn Quang Ân (2003), Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính (1945 - 2002), Nxb Thông tấn, Hà Nội. 5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hải Lăng (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Lăng 1930 - 1975, Xí nghiệp in Quảng Trị, Đông Hà. 6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hưng Nguyên (2000), Lịch sử Đảng bộ Hưng Nguyên (tập 1)1930 - 1945, Nxb Nghệ An, Vinh. 7. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kì Anh (2003), Lịch sử Đảng bộ huyện Kì Anh (1930 - 2000), Xí nghiệp in Hà Tĩnh, Hà Tĩnh. 8. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn (1990), Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn (sơ thảo), tập 1, 1930 - 1954, Nxb Khí tượng Thủy văn, Hà Nội. 9. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nghi Lộc (1991), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Nghi Lộc, sơ thảo (tập 1), Nxb Nghệ An, Vinh. 10. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phong Điền (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Phong Điền (1930 - 1995), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 11. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Vang (1999), Đảng bộ huyện Phú Vang 65 năm đấu tranh và xây dựng (1930 - 1995), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 12. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Điền (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Điền (sơ thảo), Nxb Thuận Hóa, Huế. 13. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu (2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu (1930 - 2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 14. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Chương (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chương (1930 - 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 167 15. Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Đồng Hới (1997), Lịch sử Đảng bộ Đồng Hới 1930 - 1975, Xí nghiệp in Quảng Bình, Đồng Hới. 16. Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Quảng Trị (1999), Lịch sử Đảng bộ thị xã Quảng Trị 1930 - 1995, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 17. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Huế (2010), Lịch sử Đảng bộ thành phố Huế 1930 - 2000, Nxb Thuận Hóa, Huế. 18. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Vinh (2000), Sự kiện lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh (tập 1), Nxb Nghệ An, Vinh. 19. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (1993), Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh, (tập 1) 1930 - 1954, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 20. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1998), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, (tập 1) 1930 - 1954, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 21. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Bình (1995), Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình, (tập 1) 1930 - 1954 (sơ thảo), Xí nghiệp in Quảng Bình, Đồng Hới. 22. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1996), Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị,(tập 1) 1930 - 1954, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 23. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2010), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1930 - 1954, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa. 24. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1995), Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, (tập 1) 1930 - 1954, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 25. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng (1967), Tìm hiểu Cách mạng tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội. 26. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Hà Tĩnh (1966), Thời kì Cách mạng tháng Tám (1939 - 1945), Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Hà Tĩnh xuất bản. 27. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An (1966), Cách mạng tháng Tám 1939 - 1945, Xí nghiệp in Nghệ An, Vinh. 28. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, Văn kiện Đảng bộ Nghệ An 1933 - 1945, lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An. 29. Ban Nghiên cứu Lịch sử Nghệ Tĩnh (1980), Danh nhân Nghệ Tĩnh, tập 1, Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh. 168 30. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh (1987), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh (tập1) 1925 - 1954 (sơ thảo), Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh. 31. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Quảng Bình (1974), Lịch sử Cách mạng tháng Tám Quảng Bình (sơ thảo), Xí nghiệp in Quảng Bình, Đồng Hới. 32. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Quảng Bình (1974), Tư liệu về Cách mạng tháng Tám Quảng Bình, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, kí hiệu: T19/17. 33. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Thanh Hóa (1966), Sơ giản lịch sử Cách mạng tháng Tám Thanh Hóa (1939 - 1945), Xí nghiệp in Ba Đình, Thanh Hóa. 34. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1963), Cuộc tọa đàm về Cách mạng tháng Tám từ ngày 29-3 đến ngày 2-4-1963, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, kí hiệu: 1/C1.21. 35. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1976), Những sự kiện lịch sử Đảng (tập 1), 1920 - 1945, Nxb Sự thật, Hà Nội. 36. Nguyễn Đình Cả (2010), Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 37. Trường Chinh (1963), Bài nói chuyện về Cách mạng tháng Tám tại Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, các ngày 16, 17-4-1963, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 38. Trường Chinh (1975), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội. 39. Trường Chinh (1963), Một số vấn đề về Cách mạng tháng Tám Việt Nam, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, kí hiệu: C/1c.54. 40. Nguyễn Chuân (1993), Những việc ghi nhớ lại trong các cuộc vận động cứu nước và cách mạng ở huyện Quảng Ninh, lưu tại Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quảng Ninh, mã số: 02. 41. Philippe Devillers (2003), Paris - Sài Gòn - Hà Nội: Tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944 - 1947, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh. 42. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Tiền phong, Hà Nội. 169 43. Nguyễn Anh D ng (1985), Đấu tranh vũ trang trong Cách mạng tháng Tám, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 44. Trần Hữu Dực (2010), Bước qua đầu thù (Hồi kí), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 45. Bảo Đại, Con rồng An Nam, bản dịch của Viện Sử học, lưu tại Phòng tư liệu Viện Sử học, Hà Nội. 46. Bảo Đại (1945), Lời tuyên chiếu của Hoàng đế ngày 8-5-1945, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, phông Tòa Đốc lí Hà Nội, hồ sơ số: 3485. 47. Nguyễn Thị Đảm (1994), Công nhân xí nghiệp vôi thủy Long Thọ (1896 - 1945), Luận án Phó tiến sĩ khoa học Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội. 48. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Chặt xiềng, Nxb Sự thật, Hà Nội. 49. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, (tập 2) 1930, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 50. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, (tập 3) 1931, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 51. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, (tập 6) 1936 - 1939, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 52. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, (tập 7) 1940 - 1945, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 53. Lê Tất Đắc (1985), Chim vượt gió (hồi kí), Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa. 54. Đoàn Thanh niên Phản đế cứu quốc Vinh (1941), Truyền đơn rải ở Vinh đêm 22-1- 1941, lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, hồ sơ số: 02/1941. 55. Charles Fourniau, Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, bản dịch lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, kí hiệu: C/1c/10. 56. Võ Nguyên Giáp, Đội quân giải phóng, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, kí hiệu: C/1c/11. 57. Trần Văn Giàu (1963), Giai cấp công nhân Việt Nam (1939 - 1945), tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội. 58. Phạm Thị H ng (2009), Chiến khu Ngọc Trạo trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Sử học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, Huế. 59. Phạm Khắc Hòe (1987), Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, Nxb Thuận Hóa, Huế. 170 60. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1995), 19-8. Cách mạng là sáng tạo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội. 61. Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Yên Thành (1990), Lịch sử huyện Yên Thành, Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh. 62. Nguyễn Văn Khánh (2004), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 - 1945), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 63. Trần Trọng Kim (1969), Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, Sài Gòn. 64. Trương Công Huỳnh Kỳ (2015), “Trường Thanh niên Tiền tuyến với Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Thừa Thiên Huế”, in trong Trí thức và Tôn giáo Thừa Thiên Huế với Cách mạng tháng Tám 70 năm nhìn lại, Kỉ yếu Hội thảo khoa học, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế, Huế. 65. Khâm sứ Trung Kì (1930), Báo cáo của Khâm sứ Trung Kì gửi Chính phủ Pháp ngày 5-7-1930, bản dịch lưu tại Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An, hồ sơ số: 07. 66. Khâm sứ Trung Kì (1940), Báo cáo, công văn của Khâm sứ Trung Kì về các hoạt động của công nhân Nhà máy xe lửa Trường Thi và các hoạt động khác của Đảng ở Nghệ An năm 1940, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phong sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng 1925 - 1945, ĐVBQ: 043. 67. Liên hiệp Công đoàn Quảng Nam Đà Nẵng (1987), Phong trào công nhân và công đoàn Quảng Nam Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 68. Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Trị (1998), Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn tỉnh Quảng Trị 1929 - 1995, Nxb Lao động, Hà Nội. 69. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 70. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 71. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 72. Mặt trận Việt Minh Ba Đình (1945), Báo Khởi nghĩa, số 1 ra ngày 15-2-1945, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6240/Gy4599. 73. Mặt trận Việt Minh Ba Đình (1945), Báo Khởi nghĩa, số 3 ra ngày 15-4-1945, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6241/Gy4600. 171 74. Mặt trận Việt Minh Ba Đình (1945), Báo Khởi nghĩa, số 4 ra ngày 15-5-1945, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6242/Gy4601. 75. Mặt trận Việt Minh Quang Trung (1945), Báo Khởi nghĩa, số 6 ra ngày 15-7-1945, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6243/Gy4602. 76. Mặt trận Việt Minh Nghệ Tĩnh (1945), Truyền đơn của Việt Minh Nghệ Tĩnh kêu gọi quốc dân đồng bào đứng lên đánh đổ chính phủ Việt gian, lập chính quyền nhân dân cách mạng, lưu tại Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh, kí hiệu: 198/Gy149. 77. Mặt trận Việt Minh Nghệ Tĩnh (1945), Báo Kháng địch, số 01, ra ngày 15-6- 1945, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông tư liệu sưu tập sách, báo, truyền đơn của Đảng 1925 - 1945, ĐVBQ: 226. 78. Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa (1943), Báo Đuổi giặc nước, số 03 ra ngày 15- 10-1943, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6229/Gy4589. 79. Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa (1943), Báo Đuổi giặc nước, số 04 ra ngày 15- 12-1943, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6230/Gy4589. 80. Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa (1944), Báo Đuổi giặc nước, số 07 ra ngày 15- 6-1944, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6232/Gy4591. 81. Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa (1944), Báo Đuổi giặc nước, số 08 ra ngày 15- 7-1944, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, KHTL: BTCM 6233/Gy 4592. 82. Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa (1944), Báo Đuổi giặc nước, số 11 ra ngày 15- 10-1944, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, KHTL: BTCM 6238/Gy 4597. 83. Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa (1944), Báo Đuổi giặc nước, số 12 ra ngày 15- 11-1944, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, KHTL: BTCM 6239/Gy 4598. 84. Mặt trận Việt Minh Thanh Hóa (1945), Tin bốn phương, số 01 ra ngày 1-9-1945, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6245/Gy4604. 85. Đỗ Mậu (2000), Tâm sự tướng lưu vong (tái bản lần thứ 4), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 86. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 87. Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 88. Lâm Quang Minh (2014), “Nhớ về Trường Thanh niên tiền tuyến trong khởi nghĩa giành chính quyền ở Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 272, tr.69-73. 172 89. Ngô Văn Minh (2001), Đảng bộ các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ lãnh đạo quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 90. Ngô Văn Minh (2005), Cách mạng tháng Tám tại các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 91. Lê Thị Tuyết Nhung (2011), Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Quảng Trị, Luận văn Thạc sĩ Sử học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, Huế. 92. Nhiều tác giả (1985), Bình Trị Thiên tháng Tám bốn lăm (hồi kí), Nxb Thuận Hóa, Huế. 93. Nhiều tác giả (2008), Trường Thanh niên tiền tuyến Huế 1945 - Một hiện tượng lịch sử, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 94. Nội các Trần Trọng Kim (1945), Lời tuyên cáo của Nội các, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, phông Tòa Đốc lí Hà Nội, hồ sơ số: 3485. 95. Archimedes L.A.Patti (2008), Tại sao Việt Nam?, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 96. Phủ ủy Hưng Nguyên (1945), Nghị quyết của khoáng đại Hội nghị toàn phủ Hưng Nguyên năm 1945, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu các Xứ ủy Bắc - Trung - Nam Kì (1930 - 1945), ĐVBQ: 088. 97. Dương Trung Quốc (2000), Việt Nam - Những sự kiện lịch sử (1919 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 98. Sở Mật thám Bắc Kì và Tòa án Trung ương (1944), Công văn của Mật thám Bắc Kì và Tòa án Trung ương về hoạt động của Đảng ở Thanh Hóa năm 1944, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 115. 99. Sở Mật thám Hà Tĩnh (1940), Báo cáo, công văn của Mật thám Hà Tĩnh về hoạt động của Đảng ở Hà Tĩnh năm 1940, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 085. 100. Sở Mật thám Thanh Hóa (1942), Báo cáo của Mật thám Thanh Hóa về tình hình hoạt động của Đảng ở Thanh Hóa năm 1942, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 113. 173 101. Sở Mật thám Thanh Hóa (1945), Báo cáo của Mật thám Thanh Hóa về hoạt động của Đảng ở Thanh Hóa năm 1945, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 116. 102. Sở Mật thám Trung Kì (1944), Báo cáo, công văn của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng ở Thừa Thiên từ năm 1929 đến năm 1944, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 269. 103. Sở Mật thám Trung Kì (1933), Báo cáo, công văn của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng ở Nghệ An năm 1933, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 030. 104. Sở Mật thám Trung Kì (1940), Chỉ thị, báo cáo, công văn của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng Cộng sản ở Quảng Trị năm 1940, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 164. 105. Sở Mật thám Trung Kì (1941), Báo cáo, công văn của Mật thám Trung Kì theo dõi hoạt động của Đảng ở Nghệ An năm 1941, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 046. 106. Sở Mật thám Trung Kì (1944), Báo cáo, công văn của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng ở Quảng Trị, Thừa Thiên từ năm 1941 đến năm 1944, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 285. 107. Sở Mật thám Trung Kì (1942), Công văn, chỉ thị của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng ở Hà Tĩnh năm 1942, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 087. 108. Sở Mật thám Trung Kì (1942), Báo cáo, công văn của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng ở Nghệ An năm 1942, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn 174 phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 047. 109. Sở Mật thám Trung Kì (1943), Báo cáo, công văn của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng ở Nghệ An năm 1943, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 048. 110. Sở Mật thám Trung Kì (1945), Báo cáo của Mật thám Trung Kì về hoạt động của Đảng Cộng sản từ năm 1943 đến năm 1945, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 104. 111. Sở Mật thám Trung Kì (1945), Báo cáo của Mật thám Trung Kì về tình hình Quảng Trị (1939 - 1945), Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, phông Tỉnh ủy Quảng Trị 1930 - 1975, ĐVBQ: 036. 112. Sở Mật thám Vinh (1939), Báo cáo của Sở Mật thám Vinh về những hoạt động của Đảng ở Nghệ An năm 1939, bản dịch lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu chính quyền c liên quan đến hoạt động của Đảng (1925 - 1945), ĐVBQ: 042. 113. Sở Mật thám Vinh (1941), Báo cáo số 1723 ngày 30-6-1941 của Mật thám Vinh gửi Công sứ Nghệ An về tình hình chính trị ở Bắc Trung Kì, bản dịch lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, kí hiệu: PNT 441. 114. Sở Mật thám Vinh (1939), Hoạt động của công nhân Trường Thi 9-1939 sau vụ đình công của công nhân nhà máy Gia Lâm, bản dịch lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An, kí hiệu: PNT 402. 115. Văn Tạo (chủ biên) (1995), Cách mạng tháng Tám - Một số vấn đề lịch sử, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 116. Văn Tạo, Furuta Motoo (chủ biên) (1995), Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử, Viện Sử học xuất bản, Hà Nội. 117. Văn Tạo, Thành Thế Vĩ, Nguyễn Công Bình (1960), Lịch sử Cách mạng tháng Tám, Nxb Sử học, Hà Nội. 118. Nguyễn Thanh Tâm (2005), Khởi nghĩa từng phần lên Tổng khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám 1945, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 175 119. Hồ Trí Tân (1939), Hồi kí, Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, phông Tỉnh ủy Quảng Trị 1930 - 1975, ĐVBQ: 037. 120. Nguyễn Khắc Thái (2014), Lịch sử Quảng Bình, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 121. Hồ Thắng (1993), Một số tư liệu lịch sử về Đảng bộ Quảng Ninh, lưu tại Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quảng Ninh, mã số: 04. 122. Nguyễn Tất Thắng (2012), Phong trào yêu nước và cách mạng Hà Tĩnh từ cuối thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, Huế. 123. Phạm Xuân Thừ (1993), Một số tư liệu về lịch sử Đảng bộ Quảng Ninh, lưu tại Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quảng Ninh. 124. Trần Văn Thức (2003), Quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Nghệ An thời kì 1939 - 1945, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Viện Sử học, Hà Nội. 125. Trần Văn Thức (2003), “Góp phần làm sáng tỏ thêm cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Nghệ An”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 01-2003, tr.18-25. 126. Thường vụ Huyện ủy Gio Linh (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Gio Linh (1930 - 1975), Xí nghiệp in Quảng Trị, Đông Hà. 127. Thường vụ Huyện ủy Triệu Phong (1996), Lịch sử Đảng bộ huyện Triệu Phong (1930 - 1975), (sơ thảo), Xí nghiệp in Quảng Trị, Đông Hà. 128. Thường vụ Trung ương Đảng (1945), Thư của Thường vụ Trung ương gửi các đồng chí Trung Kì kêu gọi thống nhất lại đánh bại những phần tử phản lại Đảng ngày 27-6-1945, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông tư liệu Hội nghị hợp nhất, Đại hội 1, Ban Thường vụ Trung ương 1930 - 1945, ĐVBQ: 188. 129. Tỉnh ủy Quảng Trị (1941), Báo Tiến lên số 2 (18-4-1941), Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, phông Tỉnh ủy Quảng Trị 1930 - 1975, ĐVBQ: 049. 130. Tỉnh ủy Quảng Trị (1945), Công việc nông hội (19-8-1945), Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, phông Tỉnh ủy Quảng Trị 1930 - 1975, ĐVBQ: 019. 131. Tỉnh ủy Quảng Trị (1945), Kế hoạch biểu tình (15-8-1945), Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, phông Tỉnh ủy Quảng Trị 1930 - 1975, ĐVBQ: 020. 176 132. Tỉnh ủy Thanh Hóa (1941), Nghị quyết Hội nghị đại biểu Tỉnh ủy Thanh Hóa (bản sao), Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông Xứ ủy Trung Kì 1930 - 1945, ĐVBQ: 134. 133. Tỉnh ủy Thanh Hóa (1944), Nghị quyết Hội nghị đại biểu Đảng bộ Thanh Hóa ngày 24-6-1944, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông Xứ ủy Trung Kì 1930 - 1945, ĐVBQ: 135. 134. Tỉnh ủy Thanh Hóa (1941), Thông cáo khẩn cấp của Tỉnh ủy Thanh Hóa, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông Xứ ủy Trung Kì 1930 - 1945, ĐVBQ: 130. 135. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1930), Kế hoạch thi hành án nghị quyết Kì bộ về cuộc vận động bênh vực Nghệ An đỏ và chống lại chính sách khủng bố, Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, phông số 01, cặp số: 02. 136. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1977), Hồ sơ tập sự kiện của Đảng bộ Thừa Thiên Huế thời kì 1930 - 1945, Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế. 137. Tỉnh ủy Việt Minh Thanh Hóa (1945), Chỉ thị Đòi ăn ngày 4-3-1945, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM17516/Gy14537. 138. Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An (2000), Xô viết Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, Vinh. 139. Tổng bộ Việt Minh (1945), Báo Cứu quốc số ra ngày 25-6-1945, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6514/Gy4873. 140. Tổng bộ Việt Minh (1945), Thư trả lời Quân đội Nhật Bản, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM17390/Gy14411. 141. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (1995), Cách mạng tháng Tám và sự nghiệp đổi mới hôm nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 142. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Hội thảo Cách mạng tháng Tám ở Nam Bộ, Nxb Đại học Sư phạm, Thành phố Hồ Chí Minh. 143. Phạm Hồng Tung (2010), Nội các Trần Trọng Kim - Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 144. Ủy ban Lâm thời tỉnh Quảng Trị (1945), Thông cáo số 1 của Ủy ban Lâm thời Quảng Trị (8-1945), Phòng Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, phông Tỉnh ủy Quảng Trị 1930 - 1975, ĐVBQ: 044. 177 145. Ủy ban khởi nghĩa Nghệ Tĩnh (1945), Lệnh khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa Nghệ Tĩnh, lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An. 146. Ủy ban Mặt trận Phản đế cứu quốc Bắc Trung Kì (1941), Báo Tự do, số 3, lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa. 147. Ủy ban Mặt trận Phản đế cứu quốc Bắc Trung Kì (1941), Báo Tự do, số 6, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, kí hiệu: BTCM6656/Gy5015. 148. Ủy ban thống nhất Trung Kì (1945), Thư của Ủy ban thống nhất Trung Kì kêu gọi các đồng chí cộng sản Trung Kì mau thống nhất lại, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu các Xứ ủy Bắc - Trung - Nam Kì (1930 - 1945), ĐVBQ: 047. 149. Viện Lịch sử Đảng (1985), Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Nxb Sự thật, Hà Nội. 150. Viện Lịch sử Đảng (1995), Lịch sử Cách mạng tháng Tám, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 151. Viện Sử học (1960), Cách mạng tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương, quyển 1, Nxb Sử học, Hà Nội. 152. Viện Sử học (1960), Cách mạng tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các địa phương, quyển 2, Nxb Sử học, Hà Nội. 153. Xứ ủy Trung Kì (1940), Báo cáo vắn tắt tình hình Đảng bộ Trung Kì, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông Xứ ủy Trung Kì 1930 - 1945, ĐVBQ: 035. 154. Xứ ủy Trung Kì (1942), Lời hiệu triệu của Ban Thường vụ lâm thời Xứ ủy Trung Kì ngày 1-6-1942, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu các Xứ ủy Bắc - Trung - Nam Kì (1930 - 1945), ĐVBQ: 046. 155. Xứ ủy Trung Kì (1930), Nghị quyết Hội nghị chấp ủy Trung Kì mở rộng ngày 27-12-1930, lưu tại Ban Tổ chức Trung ương Đảng. 156. Xứ ủy Trung Kì (1941), Thông tri của Xứ ủy Trung Kì ngày 15-2-1941 về tình hình mới cần kịp thời vũ trang chuẩn bị khởi nghĩa, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, phông sưu tập tài liệu các Xứ ủy Bắc - Trung - Nam Kì (1930 - 1945), ĐVBQ: 042. 178 1.2. Tiếng nước ngoài 1.2.1. Tiếng Anh 157. Indochine in the 1940s and 1950s, vol.2, Southeast Asia Program, Cornell University, 1992. 158. David Marr (1995), Vietnam 1945. The quest for Power, University of California press, Berkely - Los Angeles, London. 159. Stein Tonnesson (1991), The Vietnamese Revolution of 1945, Roosevelt, Ho Chi Minh and De Gaulle in a world at war, International Peace Research Institute, Oslo, SAGE, London, Newbury - New delhi. 1.2.2. Tiếng Pháp 160. Annuaire Statistique de L ’ Indochine 1943 - 1946, lưu tại Thư viện Quốc gia, kí hiệu: FV375/64. 161. Général Catroux (1959), Deux actes du drame Indochinois, Plon, Paris. 162. Philippe Devillers (1952), Histoire du Viet Nam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil, Paris. 163. Paul Mus (1952), Viet Nam Sociologie d’une guerre, Éditions du Seuil, Paris. 164. L ’Inspecteur Principal de la Sureté Rossi Louis en mission à Vinh, Note 1437, Vinh, le ler Juin 1941, À Monsieur le Chef local des Services de Police en Annam à Hue; En c.ion à Monsieur le Résident de France à Vinh; Son Exellence le Tong Doc d ’ Antinh: Respression communiste dans la province de Nghe An, Affaire Lam Nhat Phan, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Bản dịch của Phạm Văn Tị. 165. Le Chef des Services de Police au Tonkin P. Pujol, Note 11408/s, Hanoi, le 30 Mai 1941, (secret), À M.M. le Résident supérieur au Tonkin, à L’Inspecteur Général des Services de Police (Hanoi), Arrestation le trois membres du “Commité central” du Parti communiste Indochinois, lưu tại Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Bản dịch của Phạm Văn Tị. 166. Charles Robequain (1934), Le Thanh Hoa, vol.2, Paris. 179 167. Résidence Superieur en Annam, Rapport au sujet de la mesure de respression prise contre les membres de l ’ Association resvolutionnaire “Viet Nam cach mang Thanh Nien” du Résident Supérieur en Annam (10-3-1930), lưu tại Bảo tàng cách mạng Việt Nam, kí hiệu: K.H.17.112. Bản dịch của Phạm Hữu Lư. 168. Résidence Superieur en Annam, Situation Politique et Administrative de L ’ Annam 1933, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, phông Khâm sứ Trung Kì, hồ sơ số: 378/1 RSA/RP. Bản dịch của Phạm Văn Tị. 169. Résidence de Quang Tri, Situation Politique de Quang Tri 1933, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, phông Khâm sứ Trung Kì, hồ sơ số: 378/2 RSA/RP. Bản dịch của Phạm Văn Tị. 2. TÀI LIỆU PHỎNG VẤN NHÂN CHỨNG 170. Ông Thái Văn Công, sinh năm 1923, cán bộ lão thành cách mạng, hiện cư trú tại xã Hải Quy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. 171. Ông Phan Văn Hạnh, sinh năm 1924, cán bộ lão thành cách mạng, hiện cư trú tại xã Sơn Tiến, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. 172. Ông Lại Văn Ly , sinh năm 1927, cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Trưởng Ty Giao thông vận tải tỉnh Bình Trị Thiên. 173. Ông Lê Quy Mỹ, sinh năm 1927, Bí thư Đảng ủy đầu tiên của xã Vinh Mĩ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện cư trú tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. 174. Ông Hà Văn Sỹ, sinh năm 1920, cán bộ tiền khởi nghĩa, hiện cư trú tại phường Phú Cát, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. 175. Ông Nguyễn Xuân Tảo, sinh năm 1925, cán bộ lão thành cách mạng, hiện cư trú tại xã Thiệu Vận, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 176. Ông Phạm Văn Thứ, sinh năm 1930, cán bộ lão thành cách mạng, hiện cư trú tại phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnoidungla_3_6391.pdf
Luận văn liên quan